TẬP TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC
TÁC GIẢ: LÊ THU THÙY
1. NHỮNG DẤU CHÂN MỜ XA
Ký ức như mũi dao nhất là những khi nhìn vào tấm ảnh
trên bàn thờ người chồng đầu quá cố, tôi như thấy một bàn tay vô hình rạch từng
nhát giải phẫu những ung nhọt trong lòng mình. Nghĩ về người mình yêu bỗng
nhiên tôi hiểu là mình đã không còn một ý niệm nào về cuộc tình với Biền khi đi
qua tuổi bốn mươi. Tình yêu mà đứa con trai nhỏ mong đợi ở tôi là cái người nó
gọi là cha sẽ mãi là chồng tôi, thế nhưng đó là sự đổi dạ thay lòng mà mọi ảo
tưởng về đức hạnh và lòng thủy chung của bản thân và ngụy tạo đều không đủ để
tôi biện hộ cho mình. Một bài thơ Biền viết cho vợ sau li hôn có câu “anh yêu em! Anh làm thơ ca ngợi sắc đẹp trời
cho hơ hớ!..(*)” bạn bè anh đều khen đây là câu thơ hay nhất
trong nền thơ ca hậu hiện đại Việt Nam. Khen câu thơ của anh như thế khác nào
chửi tôi.
Sự phản bội bắt đầu từ khi tôi thèm khát được nằm
trong lòng người đàn ông không phải là Biền trong đêm chàng bị kẹt ở miền Trung
vì ngoài ấy bão lớn. Chàng đã hẹn là sẽ về kịp trong ngày sinh nhật vợ. Tôi
chuẩn bị cho bữa tiệc sinh nhật khá đơn sơ nhưng không thiếu rượu và hoa. Ngày
hôm đó trời mưa tầm tã. Sài Gòn có giông ở vài nơi. Mười giờ đêm gió mỗi lúc
một to. Bão tận miền Trung không làm mất không khí ngày sinh nhật. Khi người
bạn gái thân nhất dứt khoát không cho phép Tiến đưa về anh ta sa sầm làm tôi
thấy tội nghiệp. Bàn tiệc thiu dần. Tiến ở lại với tôi đêm đó. Gần mười giờ đêm
Biền gọi từ Đà Nẵng vào cho biết máy bay không cất cánh nổi vì bão quá to.
Đường dây điện thoại bị đứt gần một ngày mới được nối lại. Nhà của mẹ anh ở quê
bị bão tố tốc mái. Đường sá cây cối đổ ngổn ngang, hàng chục vụ tai nạn giao
thông thảm khốc. Chàng phải ra biển quay phim vì có tàu đắm. Bạn bè ở các đài
truyền hình khắp miền Trung đều lao vào công việc. Chậm nhất là 3 ngày nữa
chàng sẽ về tới nhà. Chàng hết tiền phải mua vé bay giá rẻ nên về hơi muộn.
Chàng mong tôi đừng lo lắng nhiều.
Tôi nghe điện thoại của Biền khi Tiến đến ngồi bên
cạnh. Sấm sét rền vang bầu trời thành phố. Hơi thở đượm mùi rượu của người đàn
ông không phải là chồng trong đêm mưa gió và người chồng đang kẹt trong cơn bão
làm tôi quay quắt. Nhưng điều đó không đến quá nhanh. Con trai tôi đang ngủ
trong phòng. Tiến kêu “buồn lắm!” và hỏi tôi muốn gì không? Tôi đang muốn xem
một bộ phim sex nhưng trả lời Tiến là muốn có thật nhiều tiền. Tôi thích được
cùng Biền chu du khắp Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc. Khắp Việt Nam này tỉnh thành nào cũng
in dấu chân Biền. Chàng đi nhiều bao nhiêu lòng tôi càng trống trải bấy nhiêu.
Lần đó, Tiến lấp vào chỗ trống trong lòng tôi giữa cơn bão ngoài quê.
Lưỡi dao vô hình cứ khoét mãi vào hồi ức yêu đương
khiến tôi day dứt. Nhiều lần gục trên ngực Tiến nhưng tôi lại như thấy Biền ôm
tôi trong tay, giọng Biền nồng nàn:
- Anh chỉ muốn em là duy nhất của anh.
Mình nghèo quá! Anh hối tiếc suốt đời đã không đưa em về quê sống. Anh chỉ là
một con thiêu thân giữa đất Sài Gòn này.
Tôi nhìn làn da nâu tái của chàng.
Gương mặt chàng sạm đi và ánh mắt càng trầm mặc. Lần đầu tiên chúng tôi gặp
nhau khi Biền đang tìm người để chọn vào một vai diễn trong bộ phim của một
việt kiều đạo diễn mà Biền là trợ lý. Hôm đó tôi đến thử vai khi xem thông báo
tuyển dụng. Biền nhìn tôi thật lâu. Ngay giây phút ấy tôi nghe lòng mình rung
động. Biền nói rất ấn tượng về quê quán của tôi. Thì ra chúng tôi cùng quê với
nhau. Tôi xa quê hồi mới lên năm, nhưng ngoài quê nhà chúng tôi gần nhau lắm. Lần
đó tôi quá thất vọng vì không hợp vai diễn Biền chọn. Nhưng Biền ghi số điện
thoại của tôi, hẹn sẽ gọi lại.
Ba ngày sau tôi run lên khi nghe điện
thoại của Biền từ một nơi rất xa. Hai chúng tôi hẹn đi chơi với nhau vào cuối
tuần. Sau một tháng tôi yêu Biền điên cuồng. Tuần nào tôi cũng đến chỗ Biền. Hễ
chàng đi công tác là tôi mong đợi, tính đếm từng ngày. Lần nào tôi cũng tiễn
đưa và ra sân bay đón chàng trở về trong mối ngờ vực vì không khỏi xót xa, tủi
hờn khi nghĩ rằng chàng biết tôi yêu chàng nên sẽ lợi dụng tình cảm này.
Anh ruột tôi có
lần bảo Biền nhìn vậy chứ không có tiền. Làm phim với anh chàng đạo diễn việt
kiều Pháp nhưng thù lao, lương bổng chẳng bao nhiêu. Hơn nữa, bộ phim thành
công hay thất bại thì anh chàng đạo diễn cũng quay lại Pháp. Sớm muộn Biền cũng
bị anh ta bỏ rơi.
Tôi bỏ ngoài tai những điều ông anh ruột nói. Biền
viết gì cũng hết sức sắc sảo, thâm thúy và thông minh. Những người tài như Biền
ở đâu không cần. Tôi biết anh trai tôi lo lắng khi tôi yêu một người đàn ông mà
sự nghiệp bấp bênh thì hôn nhân sẽ trên bờ vực thẳm. Nhưng ngay anh ruột tôi
cũng chấp nhận Biền, anh còn biết rõ một người bạn giàu có của anh là Tiến cũng
muốn cưới tôi. Anh còn cười với Biền rằng phụ nữ đẹp ai không yêu say đắm!
Ngày trước, tôi luôn hãnh diện Tiến yêu tôi đến mù
quáng cho dù tôi đang là vợ Biền và tôi quá sức thỏa mãn bởi tình yêu của anh
ta. Tôi có con với Biền anh ta cũng không một chút hờn ghen.
Về sau Tiến lý sự tỉnh queo: “Em không
yêu anh thì đã không gian díu và dám bỏ tất cả để làm vợ anh! Yêu đơn giản
thôi. Em về sống với anh, vì yêu em, anh tha thứ tất cả!”
Anh ruột tôi cười vào mũi Tiến:
- Ông đã dẫn truyền vào lòng Trang một thứ
gì năng lượng gì đó gây ra những xung năng, xung động tính dục thì phải!
Tiến cười ha hả:
- Tôi không có tình nhân đâu anh ạ! Vậy
nên khi tôi yêu một người phụ nữ, cô ấy không còn yêu ai tất cô ấy biết rõ tôi
yêu cô ấy.
Anh ruột tôi đã không thể nào tin Tiến
không có một người tình. Còn tôi chẳng bao giờ xấu hổ mình là một mụ đàn bà đa
đoan, có đến mấy chồng. Tôi yêu Biền và điều đó làm tôi mơ hồ nhận ra mình dại
dột hơn đứa con trai của chúng tôi. Có một thời tôi bất chấp lời ong tiếng ve.
Tôi mê man trên giường tình làm người đàn bà lăng loàn mấy năm ròng và khi tỉnh
cũng như mê tôi thấy hình như có một con điên cựa quậy trong lòng. Tôi không
còn là chính mình, rồi ngày càng xa cách đứa con trai nhỏ, khi con trai càng
lớn thì tôi càng ít quan tâm đến nó. Có lần con trai tôi bảo rằng:
- Tại mẹ không biết mẹ hư mới nông nổi đó!
Biền tin chắc rồi đây con trai khôn
lớn, ngày kia nó có trách nhiệm phụng dưỡng cha, còn tôi thì không biết con của
mình lớn lên nó sẽ nghĩ sao về cha mẹ. Rủi thay, con trai tôi mồ côi cha quá
sớm.
Kỷ niệm cuối cùng về Biền gắn với căn
phòng như chiếc hộp diêm nằm khuất trong hẻm sâu, nơi Biền đã vật vã trong
những cơn đau dài và nhiều tháng liền chàng ho ra máu, tôi đã trốn Tiến đến
thăm chàng. Vào một ngày nắng đẹp, Biền trông có vẻ hồng hào hơn mọi ngày,
chàng đang đọc một cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk, chàng nói với tôi về thi
sĩ Ka, tên nhân vật chính trong tiểu thuyết TUYẾT mà chàng đang đọc: Ka yêu một
phụ nữ tuyệt sắc dẫn đến cuộc mưu hại người tình cũ của ý trung nhân và ông
không bao giờ được người yêu tha thứ. Nàng không thể nào tiếp tục yêu ông như
ông chờ đợi, và mối tình tuyệt vọng của Ka đẹp đến choáng ngợp Biền.
Giọng Biền âu yếm nhưng tinh ý sẽ biết
chàng đểu kinh khủng:
- Đám tang anh em phải trang điểm thật đẹp
vào và xin phép chồng em cho em đưa tiễn anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Anh lúc
nào cũng muốn thấy em đẹp. Nhớ là không được khóc dù là cố tình.
Tôi đã hứa với Biền là sẽ chiều đẹp
chàng. Đó là lời hứa ngu xuẩn nhất chỉ vì tôi tưởng chàng sắp khỏi bệnh. Tôi
chẳng bao giờ ngờ được là chỉ hai tháng sau cái ngày nắng đẹp đó Biền giã từ
cõi đời.
Trong đám tang tôi vô cùng mỏi mệt. Mẹ
Biền áo xô trắng vật vã bên quan tài con trai. Linh cữu của Biền được đưa về an
táng nơi nghĩa trang quê nhà. Có đến hàng ngàn người đưa tiễn. Tôi nhận ra một
người con gái trẻ tên Hòa, chơi thân với Biền như em gái thỉnh thoảng nhìn tôi
lắc đầu. Tôi đã đeo mạng che mặt nhưng cô gái vẫn chăm chăm nhìn tôi. Cô nàng
cũng mắc bệnh và cứ đau đau hơn mười năm. Có lần cô vào Sài Gòn chữa bệnh, cô
gọi điện thoại đến Biền hỏi vay chút ít tiền.
Hôm đó Biền và tôi đang ăn tối cùng con trai. Biền bảo
tôi:
- Em còn tiền cho Hòa một triệu, nó đi chữa
bệnh và đang cần tiền. Anh chỉ còn mấy chục ngàn, lúc nó cần mà không giúp, nhỡ
vài bữa nữa nó chết mình sẽ ân hận suốt đời.
Thế nhưng người chết không phải Hòa mà
là Biền, bữa đó tôi chỉ có thể cho Hòa nửa triệu, chúng tôi mời cô dùng bữa
tối. Suốt bữa ăn cô hầu như không nói gì. Biền cho biết Hòa là nhà văn. Cô nhỏ
hơn anh gần mười tuổi, sống và viết ở quê nhà. Bệnh nặng mới vào Sài Gòn điều
trị.
- Bệnh gì? Tôi hỏi.
- U não! Vừa đi du học thì bệnh phát. Phải bỏ
học về Hà Nội mổ. Ca mổ thành công nhưng vẫn cứ đau nhức đầu kinh niên.
Biền có vẻ không hài lòng Hòa vì một
chọn lựa mà chàng xem là dại dột khi Hòa kết hôn rồi lại li hôn ở cái tuổi quá
trẻ. Nhưng tôi và chàng chưa bao giờ sai lầm hay sao?
- Anh không bao giờ tha thứ ai, chỉ tha
thứ mình!
Biền thường cười vậy. Biền còn bảo
chồng Hòa như cái mền rách lại không thiếu đàn bà con gái mê như điếu đổ. Hòa
trông cậy gì nổi ở những thằng người loại đó.
Hai mươi tuổi tôi biết yêu, Biền là
mối tình đầu của tôi. Yêu gần ba năm tôi có thai, chúng tôi ra phường đăng kí
kết hôn. Tôi bỏ công việc của một diễn viên điện ảnh nghiệp dư chuyển hẳn sang
nghề cắt tóc, trang điểm, chăm sóc sắc đẹp… sau khi sinh đứa con trai đầu lòng.
Năm năm sau ngôi nhà của tôi trở thành một mĩ viện nhỏ. Rồi Tiến, ông khách si
tình thích được tôi chăm sóc ngày nào cũng đến nhờ tôi chăm chút bề ngoài anh
ta. Hồi tôi chưa chồng Tiến đeo đuổi tôi nhưng ý tứ và nhút nhát khi thấy tôi
lạnh nhạt. Bây giờ thì lửa gần rơm. Tiến ngồi hoài trong tiệm của tôi và thanh
toán tiền nong một cách hào phóng.
Biền là một nhà thơ, những chuyến đi
vô định, không mục đích của Biền ngày càng thường xuyên, càng dài, càng tiêu
tốn. Máu giang hồ cộng với thú lãng du của chồng làm tôi tổn thương không ít.
Mỗi lần Biền về hai vợ chồng lại cãi nhau. Tiền bạc của tôi và chàng làm ra
không đủ chi tiêu, chàng vay đây, mượn đó. Ông đạo diễn việt kiều về Pháp, Biền
đi làm phim tài liệu và viết kịch bản truyền hình quanh năm. Khi biết tôi túng
thiếu, Tiến sẵn sàng giúp đỡ và tôi ngày càng nợ nần, tôi cần tiền bao nhiêu
ông dễ dãi bấy nhiêu. Tôi bắt đầu mừng rơn khi Biền vác máy đi khắp chân trời,
góc biển. Đêm đêm Tiến ôm ấp tôi, rồi tôi sống như vợ chồng với Tiến trong nhà
mình. Biền biết chuyện chửi tôi người đàn bà không có đạo đức. Chúng tôi li dị,
sức khỏe chàng trở nên thất thường.
Tiến cưới tôi. Cuộc hôn nhân lần thứ
hai đem đến cho tôi bạc tiền và sự sung mãn. Tôi đã sắm ô tô và cơ ngơi ngày
càng bề thế. Sau năm năm có hơn mười cô gái phụ việc nên tôi ra hẳn một bà chủ
sang trọng. Bên chồng mới, những trang thơ của Biền như xác lá trôi sông.
Rồi con trai báo tin Biền bị bệnh lao.
Khi nghe tôi hỏi chàng bất cần: “Thời buổi này ai hơi đâu để ý đến mấy cái
chứng ho lao, ho gà...” và chàng chủ quan thật, nhiều bữa ho ra máu chàng vẫn
ngồi với bạn bè, tào lao về những kịch bản phim chàng viết xong nhưng chưa kịp
chỉnh sữa gửi nhà đài. Chàng uống, say tràn cung mây. Chàng gọi tôi. Khi chỉ có
hai người trên giường, chàng bảo là chàng sắp chết.
Tôi đã trốn Tiến tìm đến với Biền ngày
càng nhiều khi chàng trở về, kiệt sức sau những chuyến đi, cùng tôi im lặng nơi
căn phòng khuất nẻo. Những bài thơ của chàng càng khó đọc. Tôi yêu Biền vì
trách nhiệm với đứa con chung, với một một niềm thương cảm vì ăn năn. Có lần
Biền nói về thi sĩ Ka. Biền gọi tôi “em yêu!” và bảo chàng cũng như Ka, chàng
đã viết những tập thơ nơi quê hương lũ cuồng và bão tố. Lời cuối cùng Biền dành
cho tôi là lời yêu thương, nhưng chàng không chắc mình không tự dối lòng. Điều
ghê gớm hơn tình yêu và kịch độc khổ đau là sức tàn phá của những hội chứng nơi
tâm can đã giết chết chàng trai suốt đời làm việc đầy lao lực.
Tôi còn thấy đâu đó xác một con chim
trời bị bão đánh treo lơ lửng trên đường dây điện cao thế trong một bài thơ mà
Hòa viết tặng hương hồn Biền làm sửng sốt người đọc: “Anh giờ như dấu chân chim giữa trời!”.
Notes:
(*)
Thơ Nguyễn Trung Bình
BAN MAI BÌNH YÊN
I
Buổi sáng Kim ngủ dậy
muộn. Mấy người anh đang tán lại giấc mơ đêm qua để đánh lô đề. Tiếng bàn tán
xôn xao cả nhà. Hình như có ai đó trúng độc đắc. Tiền trúng thưởng chẳng bao
nhiêu với kiểu chơi cò con của dân nghèo, nhưng cái thú thành công khi giải
được những điềm mộng mị tiên tri để chọn đúng con số khiến kẻ trúng thưởng hả lòng hả dạ. Kim cười khẩy. Các ông anh vừa
cay độc vừa bần tiện, ông nào cũng cắn cơm không bể cắn tiền bể tư vậy mà ngày
nào cũng mất tiền đề đóm.
Thằng cu Ðiệp chạy vào giường lay Kim:
- Cô út! Dậy ba con hỏi kìa! Ðêm qua cô út mơ thấy gì?
Thằng cu Ðiệp chạy vào giường lay Kim:
- Cô út! Dậy ba con hỏi kìa! Ðêm qua cô út mơ thấy gì?
-
Ðêm qua cô út mơ thấy cháy nhà – Kim chán chường.
- Tra
bảng giải đoán điềm mộng thử coi cháy nhà sẽ ra con gì? -Tiếng chị Sáu.
- Cháy nhà ra mặt chuột! - Tiếng ai đó Kim không nhận ra.
Tất cả cười ầm.
Kim uể oải xuống dưới nhà hóng chuyện, nhiều người tranh nhau kể về nhưng giấc mơ của mình. Tự nhiên Kim thấy buồn, cô thường ở trong trạng thái lơ mơ cả khi đang tỉnh. Nhưng những giấc mơ của Kim chẳng dính dáng gì đến những con số dành cho dân chơi đề.
- Cháy nhà ra mặt chuột! - Tiếng ai đó Kim không nhận ra.
Tất cả cười ầm.
Kim uể oải xuống dưới nhà hóng chuyện, nhiều người tranh nhau kể về nhưng giấc mơ của mình. Tự nhiên Kim thấy buồn, cô thường ở trong trạng thái lơ mơ cả khi đang tỉnh. Nhưng những giấc mơ của Kim chẳng dính dáng gì đến những con số dành cho dân chơi đề.
Ðô hẹn sáng nay lên
đưa Kim đi Mỹ Sơn. Hơn tám giờ, nắng càng lúc càng gay gắt, vẫn không thấy Đô
tới. Kim tặc lưỡi: Ðô bao giờ cũng sai hẹn. Cái cách hẹn rồi quên đã thành cố
tật không sửa được của Đô ban đầu còn khiến Kim hờn dỗi, sau quen dần, Kim xem
chuyện ấy là bình thường. Có một điều Kim thường sợ thót tim là Ðô hay uống
rượu. Ðôi khi Đô sa đà Kim phải đi tìm. Kim lo Ðô quá chén, phóng xe bừa ẩu,
xảy ra tai nạn. Ðô không biết là Kim luôn lo lắng cho mình.
Chị Sáu thường mắng Kim:
- Bỏ quách nó đi cho rồi. Em không gặp được thằng nào tử tế hơn sao? Ðàn ông gì rượu chè tối ngày. Thỉnh thoảng lại bỏ nhà đi hoang ở cái tuổi chẳng trẻ trung gì.
Anh Minh thì nói không nể nang:
- Hắn có cái gì mà mê hoặc được đứa cực kỳ khó hiểu như mày. Tao thì chỉ thấy hắn vừa già vừa xấu.
Kim thở dài. Chẳng ai lý giải được tình yêu. Đặc biệt là thứ tình yêu tội nợ mà cô vướng vào. Kim hiểu lâu nay Kim yêu Ðô đau đớn như thế nào. Ðô không hiểu vậy. Kim biết Ðô không yêu mình. Ðô lừa dối Kim. Ðô cặp bồ với Kim và nói với bạn bè anh ta muốn có cô để trình diện với đám đông. Kim đã thử bứt mình ra khỏi Ðô. Một lần, hai lần, ba lần.... mười lần và Kim không đủ sức. Có một thứ ma quái như vực xoáy nơi Đô cứ hút Kim.
Nghĩ đến người đàn bà Ðô yêu hơn mười năm nay Kim rủa thầm: "Ðồ rắn độc!". Kim không biết Ðô còn nô lệ quá khứ đến bao giờ? Ðô hay hát: "Em giờ đã hai con rồi đó!" Kim nhức nhối. Hai con rồi. Ðô vẫn chờ chị ta li dị anh chồng tội nghiệp và quay lại với mình. Vẫn chờ gia đình chị ta nát bét ra để rồi xuất hiện minh chứng tình yêu và lòng độ lượng.
Kim nhớ về những ngày bỏ Huế ra đi. Nỗi thất vọng giảng đường và tình yêu khuấy mãi không thành khối, cứ đẩy cô xa dần những dự tưởng êm đềm. Thịnh giờ chắc con bế con bồng! Hồi ấy Kim và Thịnh cũng mến nhau. Mối tình đầu chẳng để lại cho Kim chút kỷ niệm gì ngay cả nụ hôn. "Mình thế nào ấy!" - Kim tự nhủ thầm. "Mình luôn sống trong trạng thái mê sảng".
Chị Sáu thường mắng Kim:
- Bỏ quách nó đi cho rồi. Em không gặp được thằng nào tử tế hơn sao? Ðàn ông gì rượu chè tối ngày. Thỉnh thoảng lại bỏ nhà đi hoang ở cái tuổi chẳng trẻ trung gì.
Anh Minh thì nói không nể nang:
- Hắn có cái gì mà mê hoặc được đứa cực kỳ khó hiểu như mày. Tao thì chỉ thấy hắn vừa già vừa xấu.
Kim thở dài. Chẳng ai lý giải được tình yêu. Đặc biệt là thứ tình yêu tội nợ mà cô vướng vào. Kim hiểu lâu nay Kim yêu Ðô đau đớn như thế nào. Ðô không hiểu vậy. Kim biết Ðô không yêu mình. Ðô lừa dối Kim. Ðô cặp bồ với Kim và nói với bạn bè anh ta muốn có cô để trình diện với đám đông. Kim đã thử bứt mình ra khỏi Ðô. Một lần, hai lần, ba lần.... mười lần và Kim không đủ sức. Có một thứ ma quái như vực xoáy nơi Đô cứ hút Kim.
Nghĩ đến người đàn bà Ðô yêu hơn mười năm nay Kim rủa thầm: "Ðồ rắn độc!". Kim không biết Ðô còn nô lệ quá khứ đến bao giờ? Ðô hay hát: "Em giờ đã hai con rồi đó!" Kim nhức nhối. Hai con rồi. Ðô vẫn chờ chị ta li dị anh chồng tội nghiệp và quay lại với mình. Vẫn chờ gia đình chị ta nát bét ra để rồi xuất hiện minh chứng tình yêu và lòng độ lượng.
Kim nhớ về những ngày bỏ Huế ra đi. Nỗi thất vọng giảng đường và tình yêu khuấy mãi không thành khối, cứ đẩy cô xa dần những dự tưởng êm đềm. Thịnh giờ chắc con bế con bồng! Hồi ấy Kim và Thịnh cũng mến nhau. Mối tình đầu chẳng để lại cho Kim chút kỷ niệm gì ngay cả nụ hôn. "Mình thế nào ấy!" - Kim tự nhủ thầm. "Mình luôn sống trong trạng thái mê sảng".
Mấy năm trước, mỗi lần đến sinh nhật Kim thường
nhận được điện thoại của Thịnh. Cũng có khi cô không hề nhớ ngày mình sinh, chỉ
khi nhận được một thư thăm hỏi, một cánh thiệp mừng cô mới thầm cám ơn sự quan
tâm của những người từng thân quen. Kim dành riêng nỗi buồn cho mối tình với
Thịnh. “Có phải vì nghèo mà người con trai ấy chạy trốn mình không? Hay ở mình
còn có gì đó quá khác lạ đối với chàng?”.
Có một lần Kim tổ
chức sinh nhật linh đình, ấy là năm Kim và Dũng chia tay nhau, cũng là năm Kim
làm lễ ra trường. Kim chia sẽ với Dũng dự định xuất ngoại học tiếp lấy bằng
thạc sĩ. Dũng yêu Kim, suốt ngày anh quấn bên cô. Bạn bè ai cũng ủng hộ họ. Kim
cũng rất muốn yêu Dũng. "Anh ấy tốt!". Ðêm đêm đi chơi với Dũng về
Kim vùi mặt vào trong chăn. Kim viết những bài thơ về Dũng. Kim tưởng tượng ra
Dũng bên cạnh và nói với anh những lời yêu thương. Thế nhưng Kim và Dũng tự
nhiên bật ra, chẳng đến đâu hết. Lý do một phần từ sự xuất hiện của Ðô. Gã đàn
ông lọc lõi và rất biết cách khoác cho các cô gái mới lớn, tâm hồn trong sáng
cái ảo tưởng mình là một nữ thánh và hắn, kẻ nửa đời sương gió ngang tàng bất
chợt mềm lòng bởi vẻ ngây thơ thánh thiện ở người đẹp có gì mà cô phải thương
hại, tội nghiệp?
Khi gặp lại Dũng, Kim
day dứt. Chỉ một tháng nghỉ hè cô đã ngã lòng trước một con người mà Dũng chẳng
thể nào hiểu được mới quen biết cô vội yêu. Cô và Dũng chơi với nhau hàng chục
năm. Họ chưa qua tuổi sinh viên và đều trắng tay nên vẫn đùa chưa đủ khí trời.
Phải chi với Đô cô cũng biết sợ như với Dũng. Nhiều lần cô mạo hiểm đến ngôi
nhà trọ của anh. Kim đứng rất lâu dưới chân cầu thang. Bên khung cửa sổ Dũng
cắm cúi gạch gạch, vẽ vẽ. Kim biết chỉ ngước lên là Dũng sẽ thấy cô. Dũng sẽ
chạy ra đón. Mãi mãi trong Dũng, Kim là một thiếu nữ mù quáng.
Đô viết cho Kim những dòng thư đầy ắp yêu thương. Cô ngủ vùi trong đó, và rồi một ngày đọc nhật ký Ðô, Kim biết rằng những dòng ấy Ðô từng viết cho người yêu cũ. Từ ngày chị ta lấy chồng, Ðô không gởi những dòng ấy đi. Ðô sợ anh chồng đọc được những bức thư, biết được chuyện vợ vẫn vụng trộm dan díu với người tình, sẽ đánh vợ.
Sao Dũng không viết gì cho mình nhỉ? Kim tự hỏi. “Rồi Dũng sẽ yêu người con gái khác. Mình không bao giờ sánh vai, hạnh phúc được”. Bao giờ với Dũng, Kim cũng thật dịu dàng. “Nếu quá khứ hồi sinh, em sẽ yêu một mình anh”. Kim mơ màng.
Đô viết cho Kim những dòng thư đầy ắp yêu thương. Cô ngủ vùi trong đó, và rồi một ngày đọc nhật ký Ðô, Kim biết rằng những dòng ấy Ðô từng viết cho người yêu cũ. Từ ngày chị ta lấy chồng, Ðô không gởi những dòng ấy đi. Ðô sợ anh chồng đọc được những bức thư, biết được chuyện vợ vẫn vụng trộm dan díu với người tình, sẽ đánh vợ.
Sao Dũng không viết gì cho mình nhỉ? Kim tự hỏi. “Rồi Dũng sẽ yêu người con gái khác. Mình không bao giờ sánh vai, hạnh phúc được”. Bao giờ với Dũng, Kim cũng thật dịu dàng. “Nếu quá khứ hồi sinh, em sẽ yêu một mình anh”. Kim mơ màng.
Kim nghe tiếng thằng Ðiệp líu lo:
- Ðêm kia con nằm mơ thấy má. Có vẻ như má
bảo con đánh con số năm sáu và đánh thật lớn vào, trúng độc đắc, có tiền tiếp
tục học hành lên cao.
- Mày chỉ giỏi bịa chuyện!
Kim nghe tiếng anh Minh cự thằng Ðiệp. Cô lắc đầu: lại số đề! Trong cái xóm điên đảo này, thú chơi đề không chỉ là trò cờ bạc mà nó như một sự tiêu kiển, ai cũng biết dựa trên điềm mộng để cầu may. Có nhiều lời đồn đại về những đồng cô, bóng cậu, mọi người đổ xô đến xin số đánh đề,xin tài, xin lộc. Có lần Kim cũng lui tới cô đồng, dù Kim là trí thức hẳn hoi. Cô đồng phán bảo hồn vía Kim to, nếu không cô đã chết về tay tình nhân, Kim không mơ thấy gì thì thôi, đã mơ, thường linh ứng.
- Mày chỉ giỏi bịa chuyện!
Kim nghe tiếng anh Minh cự thằng Ðiệp. Cô lắc đầu: lại số đề! Trong cái xóm điên đảo này, thú chơi đề không chỉ là trò cờ bạc mà nó như một sự tiêu kiển, ai cũng biết dựa trên điềm mộng để cầu may. Có nhiều lời đồn đại về những đồng cô, bóng cậu, mọi người đổ xô đến xin số đánh đề,xin tài, xin lộc. Có lần Kim cũng lui tới cô đồng, dù Kim là trí thức hẳn hoi. Cô đồng phán bảo hồn vía Kim to, nếu không cô đã chết về tay tình nhân, Kim không mơ thấy gì thì thôi, đã mơ, thường linh ứng.
Nhiều người hay tìm
hỏi cô đồng về những giấc mơ của bản thân họ. Kim thấy khó thở trước mỗi giấc
mơ thường trực. Giá như cô thổ lộ được với ai đó những gì cô trải nghiệm trong
mơ.
Ðêm qua giữa giấc ngủ nặng nề của Kim hắn
đến – cái giấc mơ quái gở kia - Hắn đưa Kim qua dãy sương mù. Trong bộ y phục
màu đen như che phủ kín đất trời, một bóng đàn ông toát ra một thứ uy quyền
đáng sợ mà Kim vốn là một người không dễ khuất phục vẫn run rẩy. Gã là quỉ sứ
hay thần chết hoặc là gì đi nữa gã cũng hắc ám đến thế thôi. Có lần Kim tìm đến
cái chết, chuyện này xảy ra cũng đã lâu rồi. Có một thời kỳ lúc nào Kim cũng
thèm chết, sự bế tắt trước cuộc sống, gia đình như nhà tù khiến Kim thấy cái
chết như một lời gọi. Thế nhưng trước cái chết của anh bạn thân Kim thấy mình
cần phải vượt qua mọi cám dỗ chọn cái chết làm lời trần tình cho kiếp người khốn
khổ, khốn nạn.
Kim chờ đợi phép mầu
đến với cô. Sự bất tử chỉ dành cho thiểu số có những quyền năng tối thượng.
Thấu đáo tất cả không gian thời gian vô tận, vượt ra ngoài thế giới hữu hạn và
tương đối này. Làm sao Kim có thể sống làm nên một việc gì thật kỳ diệu? Thế
nhưng Kim khao khát.
Một người bạn cũ viết thư khuyên Kim sống bình thường thôi. Khuyên Kim không nên nhấm nháp nỗi “buồn-muôn-thuở”. Anh ta gọi tình yêu của Kim bằng cái tên như vậy. Kim đã trải nghiệm những xót xa, niềm day dứt, thương đau, oan trái, hận sầu, cay đắng, thậm chí thù hận. Cuối cùng Kim thấy mình quá cô đơn. Rồi cô yêu sự cô đơn dù cô chưa biết tận dụng hoàn cảnh ấy để học những điều bình thường. Quá nhiều thứ quái đản vây bủa Kim.
Chuỗi ngày dài phiền muộn vì không tìm thấy lối thoát. Ðiệp khúc vấn nạn vang lên trong cả giấc ngủ. "Ði về đâu?". Kim bức bối: Tình yêu, học vấn, giáo điều, nợ nần, gia đình... như xiềng xích. Khi Kim mơ thấy cái bóng hắc ám đưa Kim đến dòng sông. Bên kia là bờ bến khác, có thể là miền đất hứa trong tâm linh mà cô hướng vọng. Lẽ nào Kim được an toàn chốn đó. Có một cuốn sách cô đọc lâu lắm rồi, hé lộ một nơi dành cho những người suốt đời làm điều thiện. Kim từng phạm nhiều sai lầm, nghiêm trọng và không nghiêm trọng, điều thiện cô cũng từng làm, nó như một thử thách hơn là hành vi tự nguyện.
Một người bạn cũ viết thư khuyên Kim sống bình thường thôi. Khuyên Kim không nên nhấm nháp nỗi “buồn-muôn-thuở”. Anh ta gọi tình yêu của Kim bằng cái tên như vậy. Kim đã trải nghiệm những xót xa, niềm day dứt, thương đau, oan trái, hận sầu, cay đắng, thậm chí thù hận. Cuối cùng Kim thấy mình quá cô đơn. Rồi cô yêu sự cô đơn dù cô chưa biết tận dụng hoàn cảnh ấy để học những điều bình thường. Quá nhiều thứ quái đản vây bủa Kim.
Chuỗi ngày dài phiền muộn vì không tìm thấy lối thoát. Ðiệp khúc vấn nạn vang lên trong cả giấc ngủ. "Ði về đâu?". Kim bức bối: Tình yêu, học vấn, giáo điều, nợ nần, gia đình... như xiềng xích. Khi Kim mơ thấy cái bóng hắc ám đưa Kim đến dòng sông. Bên kia là bờ bến khác, có thể là miền đất hứa trong tâm linh mà cô hướng vọng. Lẽ nào Kim được an toàn chốn đó. Có một cuốn sách cô đọc lâu lắm rồi, hé lộ một nơi dành cho những người suốt đời làm điều thiện. Kim từng phạm nhiều sai lầm, nghiêm trọng và không nghiêm trọng, điều thiện cô cũng từng làm, nó như một thử thách hơn là hành vi tự nguyện.
Kim tin có địa ngục
như thể cô từ đó thoát ra. Cái bóng hắc ám đã nói với Kim là cô không đáng bị
giam cầm trong đó. Những vật vã đớn đau hướng về một đời sống khác tốt đẹp hơn
dù còn hết sức mù mờ nhưng cũng có một ý nghĩa tự cứu rỗi. Kim đọc đâu đó mớ
kiến thức chốn học đường có một điều mà một nhà khoa học lớn phát biểu như một
mặc khải rằng: chết là một trạng thái khác của sự sống, chính xác là một dạng
phôi thai của sự sống.
Kim bắt đầu hình dung về đôi mắt bí ẩn, nhiều năm nay đôi mắt ấy dõi theo Kim. Ban đầu cô không để ý. Rồi cô thấy nó ở mọi nơi mọi lúc. Cô giam mình trong phòng kín để sống riêng với đôi mắt ấy, cô soi bóng vào đôi mắt và thấy mình từ chân tơ đến kẽ tóc. Rất nhiều khi đôi mắt chiếu vào Kim tia sáng lạnh lùng nghiêm khắc. Nhất là khi Kim làm những việc Kim không thích mà cô cũng cứ làm. Còn thì cô luôn thấy đôi mắt nhìn cô bao dung từ ái.
Sáng nay Kim ôn lại toàn bộ giấc mơ đêm qua với những băn khoăn. Kim lại thấy đôi mắt soi chiếu. Cô mỉm cười viết:
"Mắt người xưa.
Hằng đêm về xua tan cơn ám muội
Hằng đêm ta thầm hôn mắt sao trời..."
Trong một ban mai tinh khôi, ngọn gió hiền hòa mang những lời ca từ phương trời xa xôi thổi an lành qua muôn nẻo. Kim nghe những giai điệu vang ngân giữa không gian bao la. Bầu trời xanh trong, lồng lộng. Những khúc nhạc huyền hoặc rót vào Kim.
Ðô đến đưa Kim đi
chơi Mỹ Sơn. Thấy vẻ ngây ngất của Kim, Anh ta nhìn cô và buông một câu:
- Hôm nay trông em thật lạ lùng!
Kim không biết Ðô khen hay chê mình. Cô thấy mình lạnh nhạt với Ðô hẳn, Kim chìm trong những hợp âm từ cây đàn vô hình. Kim biết giữa đôi mắt bí ẩn và tiếng nhạc huyền hoặc kia có sự đồng nhất.
Ðô lái xe đưa Kim qua những con đường quen thuộc. Anh ta đang công tác tại một phòng văn hoá. Cứ đến Lễ hội di sản thường niên là sốt sắng tham gia.
- Hôm nay trông em thật lạ lùng!
Kim không biết Ðô khen hay chê mình. Cô thấy mình lạnh nhạt với Ðô hẳn, Kim chìm trong những hợp âm từ cây đàn vô hình. Kim biết giữa đôi mắt bí ẩn và tiếng nhạc huyền hoặc kia có sự đồng nhất.
Ðô lái xe đưa Kim qua những con đường quen thuộc. Anh ta đang công tác tại một phòng văn hoá. Cứ đến Lễ hội di sản thường niên là sốt sắng tham gia.
Kim quan sát quê
hương trong một cảm tình máu mủ. Những kỷ niệm thời thơ ấu ùa về. Kim nghe
tiếng gọi của nhân vật Thiên YA – Na trong vở kịch "Tình sử thiên YA -
NA" .
"Thời gian ơi!
Thời gian ơi! Thời gian ơi!".
Thời gian như dòng
sữa rót vào lòng cô, mà Thiên YA – Na - thần tượng thời thơ ấu của Kim đang về
với cô trên con đường nhỏ.
- Thời gian ơi! - Kim hét vang.
Ðô dừng xe lại:
- Thời gian ơi! - Kim hét vang.
Ðô dừng xe lại:
- Em làm sao vậy?
Kim im lặng.
Ðô rồ máy và buông một câu cục cằn: "Ðồ khùng!".
Kim im lặng.
Ðô rồ máy và buông một câu cục cằn: "Ðồ khùng!".
Xe đến Trà Kiệu. Ngôi nhà thơ Thiên Chúa
giáo uy nghi đã thay thế một kinh thành tráng lệ của ngàn năm trước. Kim muốn
ghé vào nhưng Đô càu nhàu rằng anh ta vào đó hoài.
Kim lẩm bẩm:
- Có thể tiền kiếp ta đã sống buổi hoàng kim của kinh đô sư tử.
- Có thể! - Ðô phụ hoạ.
- Lúc này đây ta đinh ninh mình là hậu thân của công chúa Champa. Ta từng gặp Thiên YA - NA thánh mẫu - Người là Thủy thổ, tạo dựng nên vương quốc Champa.
- Còn ta là thần vương Bhađresvana. Gốc rễ của vương quyền. Nghe có nhảm không?
Ðô cũng sôi nổi góp chuyện.
- Không ngờ chúng ta tha hoá đến mức này - Kim vui vẻ - Có khi kiếp sau chúng ta thành những khỉ Hanuman.
- Có thể tiền kiếp ta đã sống buổi hoàng kim của kinh đô sư tử.
- Có thể! - Ðô phụ hoạ.
- Lúc này đây ta đinh ninh mình là hậu thân của công chúa Champa. Ta từng gặp Thiên YA - NA thánh mẫu - Người là Thủy thổ, tạo dựng nên vương quốc Champa.
- Còn ta là thần vương Bhađresvana. Gốc rễ của vương quyền. Nghe có nhảm không?
Ðô cũng sôi nổi góp chuyện.
- Không ngờ chúng ta tha hoá đến mức này - Kim vui vẻ - Có khi kiếp sau chúng ta thành những khỉ Hanuman.
- Coi chừng thành thật đấy cô nương, ai mà
biết được trong một kiếp xưa kia tôi không từng đùa cợt kiếp sau mình làm một
quỷ Ravana.
Ðô trầm ngâm.
Xe vào Thánh địa Mỹ
Sơn. Từ ngàn xưa nơi đây là địa điểm hành hương thiêng liêng của hàng chục
triều đại và hàng triệu con người. Mỹ Sơn là nơi thờ phụng vị Vương thần
Bhađresvana. Tín ngưỡng chính của vương triều Champa là thờ tự thần - vua và
các thần linh bảo hộ vương quốc cũng như vương quyền. Dân tộc Champa đã mất tên
trên bản đồ thế giới, giờ đây chỉ còn rơi rớt lại các di tích mà Mỹ Sơn là điển
hình.
Ðối diện với những tàn tích của thời gian trước bao thăng trầm thế sự một nỗi niềm trắc ẩn bóp chặt Kim. Tim cô đau thắt, tưởng như có vô số bàn tay xúc chạm vào lòng. Cô định nói một điều gì đó với Ðô thì bất chợt đôi mắt bí ẩn hiện ra.
- Em giống như một người ngoại tình vậy! - Ðô nhìn Kim ngờ vực. Kim ngắm đôi mắt ở vị trí trực diện nhất. Dường như cô quên hết thực tại vì mối giao cảm huyền bí.
Ðối diện với những tàn tích của thời gian trước bao thăng trầm thế sự một nỗi niềm trắc ẩn bóp chặt Kim. Tim cô đau thắt, tưởng như có vô số bàn tay xúc chạm vào lòng. Cô định nói một điều gì đó với Ðô thì bất chợt đôi mắt bí ẩn hiện ra.
- Em giống như một người ngoại tình vậy! - Ðô nhìn Kim ngờ vực. Kim ngắm đôi mắt ở vị trí trực diện nhất. Dường như cô quên hết thực tại vì mối giao cảm huyền bí.
Ðô thấy Kim không
phản ứng gì trước câu nói của mình. Ðô bực tức, anh ta chọc cho Kim ghen:
- Anh nhớ Phượng ghê! Phải chi bên anh lúc này là Phượng thay vì em.
Kim im lặng. Phượng là tên người đàn bà tình địch. Đô bảo Đô yêu Phượng đời đời. Không là vợ chồng kiếp này thì kiếp sau. Kim đã từng ghen đến điên dại và xâu xé Đô không thôi vì những quan hệ lằng nhằng lâu nay của họ.
- Anh nhớ Phượng ghê! Phải chi bên anh lúc này là Phượng thay vì em.
Kim im lặng. Phượng là tên người đàn bà tình địch. Đô bảo Đô yêu Phượng đời đời. Không là vợ chồng kiếp này thì kiếp sau. Kim đã từng ghen đến điên dại và xâu xé Đô không thôi vì những quan hệ lằng nhằng lâu nay của họ.
Ðô cười trừ:
- Em say đắm một thằng cha nào rồi phải không? Cái ánh mắt và thái độ của cô tự tố cáo tất cả.
- Em say đắm một thằng cha nào rồi phải không? Cái ánh mắt và thái độ của cô tự tố cáo tất cả.
- Ðể tôi yên - Kim chau mày – Lúc nào cũng
Phượng. Anh cứ đến chỗ người đàn bà kia mà ăn mày tình yêu.
Kim định nói thêm nhưng trong giây lát
Kim dường như thấy đôi bí ẩn mắt cau lại và ngoảnh đi hướng khác. Kim hoảng
hốt. Một kết nối vô hình đang hình thành nhưng mong manh. Ðô tưởng Kim buồn
mình nên kéo cô vào lòng và nói những lời yêu đương vừa máy móc, vừa rỗng tuếch.
Kim lắc đầu. Đô hiểu lầm Kim ghen khi nghe anh ta nhắc đến Phượng. Đô lại nói
một thôi một hồi nào là Phượng có chồng, nào là Kim đủ cho anh ta. Trong anh
ta, Kim không thừa, không thiếu. Chưa bao giờ Kim thấy Đô vô duyên như lúc này.
Suốt hàng giờ Kim trầm tư về thứ ánh sáng khởi phát thiêng liêng.
Tại sao Kim không nhận ra đôi mắt ấy sớm
hơn nhỉ? Đó là hồi quang của Thiên YA - NA. Con người siêu phàm ấy từ bỏ trần
gian mấy ngàn năm trước nhưng đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi. Toàn thân
Kim chấn động khi khám phá ra điều này.
- Em không còn yêu anh nữa phải không? - Ðô hỏi Kim trên đường về. Một vẻ hằn học làm cho khuôn mặt Đô gần như biến dạng.
- Anh đủ nhạy cảm để nhận ra điều đó - Kim đáp.
- Ðừng bảo anh dọa - Ðô nóng nẩy - Anh sẽ giết chết em và giết cả thằng cha kia, em đợi đấy.
Kim thấy Ðô thật thảm hại khi tưởng tượng cô có một người đàn ông khác. Anh ta đã mất cô thật sự. Khi anh ta nhận ra anh ta yêu Kim thì quá muộn rồi. Kim không thể tôn thờ Ðô. Kim tôn thờ con người bất tử ấy: Kim tin vào sự thần kỳ cảm ứng. Kim tin Thiên YA - NA Thánh Mẫu tái sinh vào đất đai, địa vật, cỏ cây, con người và sống mãi cùng non sông. Kim đã tìm thấy và gắn bó với hiện thân của Người.
- Em không còn yêu anh nữa phải không? - Ðô hỏi Kim trên đường về. Một vẻ hằn học làm cho khuôn mặt Đô gần như biến dạng.
- Anh đủ nhạy cảm để nhận ra điều đó - Kim đáp.
- Ðừng bảo anh dọa - Ðô nóng nẩy - Anh sẽ giết chết em và giết cả thằng cha kia, em đợi đấy.
Kim thấy Ðô thật thảm hại khi tưởng tượng cô có một người đàn ông khác. Anh ta đã mất cô thật sự. Khi anh ta nhận ra anh ta yêu Kim thì quá muộn rồi. Kim không thể tôn thờ Ðô. Kim tôn thờ con người bất tử ấy: Kim tin vào sự thần kỳ cảm ứng. Kim tin Thiên YA - NA Thánh Mẫu tái sinh vào đất đai, địa vật, cỏ cây, con người và sống mãi cùng non sông. Kim đã tìm thấy và gắn bó với hiện thân của Người.
NGÔI NHÀ
TRONG MƠ
Tôi được giới thiệu họ là hai thầy trò, cô gái sống
dưới ngôi chùa Bảo An nhiều năm và có ý định xuất gia. Sau này cô bảo thật ra
đó là ý định vô cùng rồ dại, Cô không có vẻ gì là một ni cô cả, theo một số bạn
bè cho biết, cô thường mộng du đi trên bờ rào mắt lưới vào những đêm khuya
trăng sáng. Cô thường đi chơi đêm về muộn với một đám thanh niên, họ xem cô như
người cùng phái, cô cũng xử sự như một thằng con trai. Cô sống với những dự
năng kỳ lạ và bảo cần phải tỏ ra cóc cần đời để có thể tồn tại mà không phát điên. Cô thường mơ thấy mình là một nữ hoàng
ngự trị một quốc gia hùng cường, vì thế thường trực trong cô là trạng thái thẫn
thờ tiếc nuối vương quốc bị đánh mất của mình và cô cứ thao thức với khát vọng
tìm kiếm, một lần cô kể cô đã tìm lại đựợc ngôi nhà cũ không phải trong mơ mà
chính trong trạng thái trầm tư. Nó hiện ra trong khoảnh khắc nhưng dường như
vĩnh cữu. Tôi nghĩ đấy là một linh ảnh.
Nhà sư lo lắng cho trạng thái tinh thần cô gái. Trụ
trì chùa Bảo An đã mấy mươi năm, ông học nhiều biết rộng và là con người vô
cùng khả kính, ai có niềm lo lắng, ưu tư tìm đến gặp ông khi ra về đều cảm thấy
tâm hồn vô cùng thư thái, mọi ưu tư đều được giải toả.
Cách đây mấy mươi năm, một người đàn bà mang đến trao
cho ông một đứa bé gái, ông đặt tên nó là Phượng Ly. Cô không có kỷ niệm nào
trước lúc vào sống trong chùa, nhưng cô tự biết mình là trẻ mồ côi, dù cô cũng
biết mẹ mình đang sống với người đàn ông cùng những đứa em khác cha với cô. Bà
lem luốt tất bật mưu sinh.
Nhà sư dành cho cô một tình yêu thương nhiều khi làm
cô khó chịu. Vốn nhạy cảm cô cho rằng ông bệnh hoạn, từ lúc cô bắt đầu lớn, cô
làm cho nhà sư đau khổ nhiều hơn, cô lẩn tránh sự chăm sóc của ông, và hay nói những lời cay nghiệt để dày vò
ông.
Xin kể thêm từ nhỏ cô đã bộc lộ nhiều thiên tư của một
thần đồng, cô làu thông kinh sách và thường hào hứng tranh luận, đối chất với
nhà sư. Cô ngỡ nhà sư kỳ vọng nhiều ở mình, nhưng thật ra ông bị ám ảnh bởi lời
tiên tri cũa một chiêm tinh gia: cô gái này về sau sẽ tổn đức.
Tôi quen biết cô trong một dịp lễ hội. Khi tôi mang
đến tặng cô mấy bông hoa, cô lơ đãng bóp nát và ném vào tôi tiếng cười khó
hiểu:
-
Đàn bà yêu hoa có
thể ví như đàn ông yêu gái. Anh có yêu hoa?
Tôi ngạc nhiên:
-
Không. Nhưng anh
tưởng em yêu hoa như mọi cô gái khác, được ai tặng hoa thì các nàng vô cùng
thích thú. Yêu hoa là yêu cuộc sống mà.
-
Em không yêu cuộc sống, nhiều khi em có cảm
giác mình chưa từng sống nữa.
Tôi quan tâm cô từ đấy, cô như bóng dáng tôi thời trẻ:
Cô đơn, khắc khoải lại kiêu bạc.
Phượng ly đến học trường này do một thôi
thúc định mệnh nào đó, cô không lý giải nổi hành động của mình khi đột ngột bỏ
ngang Học Viện Phật Giáo và vào trường đại học khác mà cô thừa biết nó không
hứa hẹn một điều gì tốt đẹp. Có lần cô đùa rằng, cô sống không chủ đích, mặc
cho số phận ném mình đi đâu mà nó muốn.
*
Thầy Hạnh Quang ngồi đối diện với Phượng
Ly, nhìn sâu vào mắt cô, nói giọng trầm đục:
-
Tại sao lại đến
nông nỗi ấy? Con định bỏ dở khoá học này hẳn sao? Chắc không phải do anh chàng
trẻ tuổi nào đó chứ?
-
Bạch thầy không
ạ! Cô cúi đầu che dấu ánh mắt của mình - Dường như tất cả đều chống lại ý muốn
của con. Con muốn tu hành nhưng mọi cái ở thầy quá xa xôi. Con biết ý nghĩ của
con là phạm thượng. Con đã đọc thông nhiều bản kinh, ngay như bản kinh Kim Cang
được xem là gươm báu chặt đứt phiền não cũng
không giúp con dứt được ưu phiền.
Phượng Ly thừa biết thầy mình cũng thế.
Phía trên bờ môi phảng phất nụ cười từ tốn điềm nhiên là vầng trán váng vất đám
mây muộn phiền vô hạn bởi nhiều lý do chỉ cô biết mà cũng chỉ cảm thấy mơ hồ
thôi.
Mấy năm nay cô rời chùa tuy vẫn duy trì
chuỗi ngày trường chay. Nhà sư khá buồn và không chờ đợi cô quay về. Thế rồi
một lần Phượng Ly cung kính:
-
Bạch thầy, con
muốn xuất gia. Ba năm qua cuộc sống với con là cả địa ngục.
-
Con nghĩ vào chùa
con sẽ tìm thấy Niết Bàn ư? – nhà sư cười chua chát.
-
Tất cả những hy
vọng về một chân trời khác lạ, một thế giới tốt đẹp trong con đều sụp đổ. Ngay
nơi Phật đường, mọi lễ nghĩa đều được tính toán sòng phẳng, nó nguỵ trang dưới
mọi hình thức, nhưng vẫn ổn hơn bất kì nơi nào.
-
Thầy biết. Không
phải ai cũng hiểu được như con. Ngay như trong con tốt - xấu - thiện – ác đều
không rạch ròi.
-
Thầy không biết
hết đâu. Con là một đạo hạnh nhưng mọi tạp niệm thế tục bên ngoài thổi vào chùa
này làm con thay đổi. Đúng vậy, giá thầy đừng cho con tiếp xúc với đời sống thế
tục, thầy cách ly con. Từ lâu con đã nổi loạn, con ngấm ngầm chống lại thầy.
Con không tin vào sức tác động lớn lao ở những điều thầy thuyết giảng. Con
không thích lễ lạt hay vô số nghi thức khác mà nhà chùa đặt ra. Tuy nhiên, bây
giờ con đã về. Con sẽ làm người xuất gia, nguyện giữ đúng giới luật nhà chùa.
Con xin thầy dung nạp con, thử thách con. Ở ngoài kia một khi con ngã không có
ai nâng con dậy mà sức con thì có hạn. Thầy biết rồi đấy, con dễ tự sát lắm.
Nhà sư tư lự:
-
Ngã và đứng dậy,
đòn ấy ta quen hơn con, còn con là phận gái. Ta sợ con không chịu nổi lâu dài
nỗi khổ hạnh của đời tu hành. Con chạy trốn nơi nào cũng không dứt được khổ đau
đâu.
-
Thế thầy khuyên
con thế nào?
-
Con đi đi, học
tiếp những gì cần học. Bao giờ gặp bất trắc, hãy báo ta.
-
Tại sao thầy
không thu nhận con lúc này?- Phượng Ly thắc thỏm hỏi.
-
Vì con không có
đức tin! - Thầy Hạnh Quang lúng túng.
-
Thế thầy có đức
tin không? - Phượng Ly mai mỉa.
-
Ta thì có đấy! –
Nhà sư lẩm bẩm quay đi.
*
Phượng Ly sống không xa nhà sư bao nhiêu. Cô vẫn trao
đổi thư từ với thầy. Càng ngày cô càng thấy ra những mâu thuẩn và nguỵ biện
trong những bài thuyết giàng của thầy. Trong khi đó ông theo dõi từng hành vi
tâm lý của cô và ông hốt hoảng thật sự khi thấy cô tàn nhẫn với bản thân. Ông
tuyệt vọng nhìn cô bước đi trên một đống đổ nát: luân lý, giáo điều, tri thức,
đạo đức, dục vọng, niềm tin,... Cô đập phá tan hoang tất cả nền tảng tạo nên
đời sống tinh thần cô mấy mươi năm qua. Ông kinh hãi khi chợt nghĩ rằng một
ngày nào đó cô phóng hoả đốt chùa. Cô nói với ông dịu dàng nhưng ông có cảm
giác cô cứa dao vào lòng ông:
-
Bạch thầy! Con
mong chiếm mọi đỉnh cao với bất kỳ giá nào. kẻ làm cha con chắc có dòng máu
chinh phục. Thầy có biết ông ta là ai?
-
Không. Nhưng trên
đời này còn ai đó hiểu con thì kẻ đó là ta đấy, con thương yêu ạ!
-
Là thầy? ồ, không
đâu. Con nghĩ thầy đã chai lì. đối diện với con nhiều khi thầy làm như kẻ vị
tha. Tuy vậy, thầy biết về con tường tận quá. Con chán lắm. Một chàng trai
thích con. Con biết con không thể dịu dàng như mọi cô gái khác. Những áp lực
xung quanh càng khiến con phải xù gai lên để đối phó. Anh ta bảo con là bệnh
nhân tâm thần đa nhân cách. Anh ta tin tình yêu sẽ hoá giải cơn cớ này. Chưa
hẳn. Hồi ở chùa con luôn nổi loạn, song con chủ trị được con mãnh hổ trong
mình. những lúc đó con thèm chọc phá thầy dễ sợ. Con ghét vẻ bình tĩnh của
thầy: vừa lạnh lùng, vừa giả dối ích kỷ. Thầy tưởng con tin vào tấm lòng của
thầy sao. Con ước được nhìn thấy thầy ngã gục, tận mắt thấy thầy lãnh đủ đòn
thù định mệnh, lúc đó con cười khẩy vào mớ thuyết lý suông của thầy.
Nhà sư cau mày:
-
Những gì con phản
ứng về ta, ta chịu được. Thực tình ta không muốn con gặm nhấm hận thù như thế.
Những sức ép bên ngoài đối với con không liên can gì với ta. Con đừng vì thế mà
làm tổn thương ta. Trong sâu xa tình cảm ta dành cho con đều xuất phát từ tấm
lòng chứ không phải do mối liên hệ tầm thường bèo bọt nào.
Một con quỷ cựa quậy trong Phượng Ly. Cô từng nghe
thầy đã dùng những lời lẽ như thế trấn tĩnh bao nhiêu người và họ thoã mãn. Cô
biết thầy bao dung. Thầy không ve vuốt bản thân và cô cũng biết mình chờ đợi ở
thầy điều vượt quá khả năng thầy. Bản thân thầy cũng chỉ là sinh linh đầy bất
trắc. Nghĩ thế, cô bỗng thấy thương xót thầy. Hẳn thầy không cứu vớt được linh
hồn thầy.
Song nỗi hằn học thâm căn đối với thầy khiến cô nghĩ
ra mọi cách hành hạ thầy thích đáng. Cô nói với thầy:
-
Con sẽ tìm đến
tình yêu ở những phường gian ác hạ tiện nhất. trong sự liều lĩnh ấy chắc con sẽ
tìm thấy nhiều khoái trá và chút gì đó như phúc lạc. Con có vong thân, đoạ lạc
cũng thây kệ. Chắc thầy cũng chẳng vui hay buồn. Thầy đừng dằn vặt gì hết, đừng
bao dung, độ lượng quá, con không xứng đáng với tình thương của thầy. Con vĩnh
biệt thầy để tự đi con đường của con.
-
Con ta, ôi, Con
ta! Sao con không thương ta? - Thầy Hạnh Quang đau đớn những khi không có mặt
cô.
*
Phượng Ly lúc nào cũng muốn chối bỏ chính mình. Cô căm
ghét sự tồn tại của mình. Cô trút nỗi niềm ấy vào thầy Hạnh Quang. Có lẽ cô
cũng yêu thương thầy theo cách của cô, nhưng cô không biết bày tỏ tình cảm của
mình và mỗi khi có ý định ấy thì cô cảm thấy sợ hãi, hình tướng thầy tu của ông
là một thành luỹ ngăn cách mọi liên đới cảm xúc. Thế rồi cô đâm ra cáu kỉnh,
hung hăng. Cuối cùng cô đã giáng ông một đòn nặng nề và ông ngã gục. Cô ân hận
thật sự, song đã quá muộn.
Thầy Hạnh Quang luôn tin Phượng Ly có một tâm hồn thánh
thiện, cao quý. Trí tuệ, bản lĩnh cô làm ông tự hào. Thế nhưng cô khiến ông cay
đắng và nhận ra rằng: cô là một con người vô hạnh.
Phượng Ly không
hay biết gì về nỗi tuyệt vọng của thầy Hạnh Quang, ngay cả cái chết của ông;
hơn một tháng sau cô mới nhận được tin.
Cô nói với tôi:
-
Thế mà em là con
thầy đấy. Ngày ấy mẹ em là một ni cô. Thầy yêu mẹ. Khi biết mẹ có thai, thầy
muốn cùng mẹ trốn đi xa. Mẹ thương thầy, sợ thầy liên luỵ mới trốn đi một mình.
Mẹ sinh em và một mình nuôi em suốt mấy năm trời cho đến khi gặp cha dượng em
bây giờ mẹ mới mang em đến trả thầy. Mẹ muốn bằng con đường tu hành em sẽ chuộc
lại những lỗi lầm của mẹ, hay có thể vì nguyên nhân khác em không biết. Mẹ em
mới ấu trĩ làm sao, cả thầy nữa. Em thờ ơ với tội lỗi của họ, kiếp số của họ.
Khi biết cha đẻ mình là ai, em dửng dưng hoàn toàn.
Phượng Ly đưa tôi xem bức di thư của thầy hạnh Quang.
Tôi lấy làm lạ, cô coi tờ di thư như một tờ giấy lộn vô giá trị, cô cũng không
hề mặc cảm mình là đứa con rơi.
Cho đến bây giờ tâm trí cô vẫn mãi lang
thang tìm lại ngôi nhà trong mơ. Cô dè dặt với tôi hơn khi thấy tôi lao theo
cuộc kiếm tiền, tiện nghi và những người đàn bà. Tôi không biết cô hạnh phúc
hay bất hạnh trong cuộc tìm kiếm bí ẩn.... Tôi cũng từng có một xuất phát điểm
giống cô. Tôi vẫn thường mơ thấy một vị nữ hoàng toàn mỹ, nhưng không giống cô,
người ấy là mẹ tôi. Thế nhưng tôi biết mình đã thất lạc người. Tôi còn phải lo
kiếm nhặt bao nhiêu thứ trên mặt đất này và tôi kiệt sức lắm rồi....
LTT
CHUYỆN ĐỜI TÔI
Mười hai lần tôi
mơ thấy nàng bay vào bầu trời. Mười hai lần sau giấc ngủ tôi nhẩm lại bài thơ
nàng gửi tặng tôi trong mơ:
"Em tìm về cố hương
Những đám mây kết võng đón em
Mẹ sẽ thôi buồn thân con mười hai bến nước
Dòng sông ơi, xin chảy ngược
Ta muốn cùng anh qua bờ bên kia..."
Những đám mây kết võng đón em
Mẹ sẽ thôi buồn thân con mười hai bến nước
Dòng sông ơi, xin chảy ngược
Ta muốn cùng anh qua bờ bên kia..."
Tôi đem câu chuyện giấc mơ này kể với
ông giáo dạy bộ môn Triết học chuyên nghiên cứu kinh dịch được gọi là nhà chiêm
tinh giảng đường và nhờ ông giải mộng. Bóp trán suy nghĩ một lúc, ông phán:
- Hỏng rồi con ơi!
- Sao thầy? - Tôi sửng sốt.
- Thành công chỉ đến với con khi có cô gái này bên cạnh. Con thì không thích vướng bận vào đàn bà. Mục đích tham vọng của con ta biết con không bao giờ chia sẻ với ai.
Lời ông giáo tôi nghe cũng vui vui. Rồi tôi quên bẵng điều ông nói cũng như quên giấc mơ mười hai lần trùng lặp.
Buổi chiều hôm đó tôi đến gặp nàng. Lòng tôi trĩu nặng. Nàng ngồi nghe băng một mình, thấy tôi, nàng nói một cách thờ ơ:
- Cuốn băng nhạc cổ điển mà anh thích Vân cho đứa bạn mượn rồi. Thôi Quang nghe cái này nhé. Vân tin rằng Quang không chán.
Tôi gật đầu đồng ý. Nàng bấm máy cassette. Sau khúc nhạc dạo đầu, một giọng nói ấm áp phát ra. Cảm giác bình an tràn ngập khắp căn phòng không rõ được tỏa ra từ người con gái mà mình yêu lâu nay hay từ bài thuyết trình ở cuốn băng đã cũ, nội dung kêu gọi giải trừ thù hận, ban trải tình thương. Tuy sức truyền cảm lạ lùng ở giọng người phát ngôn có khả năng lay động lòng tôi, song mọi vấn đề mà tôi đang nghe như nước chảy chân cầu, thuộc về nơi chốn khác, kể cả dẫn chứng về Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhận giải nobel hòa bình.
Hình như Vân cũng chìm trong một cảm nhận tương tự.
Khoảnh khắc ấy cũng qua đi, cuốn băng bị xóa khá nhiều. Tôi không hiểu nhìn Vân dò hỏi, nàng giải thích tôi rõ đấy là bài thuyết pháp của một nhà sư. Tôi hơi ngỡ ngàng. Lâu nay Vân chuyên chú đọc kinh phật. Tôi tự học cùng lúc hai ba ngoại ngữ. Vân không nói gì thêm, tôi chào nàng ra về.
Bóng tối loang dài các phố. Một nỗi buồn não dạ ập đến cấu xé tâm hồn tôi. Lặng lẽ tiễn chân qua quãng đường dài. Vân nghĩ gì tôi không rõ. Chỉ đôi mắt trắc ẩn của nàng cứ làm tôi day dứt.
Cuộc chia ly đã được báo trước. Tôi ra đi, mang tâm trạng của thằng sinh viên không bao giờ tốt nghiệp. Tôi buồn, không phải vì bạn bè cười tôi quá cuồng vọng, mà bởi ở chính thái độ dửng dưng của nàng.
- Hỏng rồi con ơi!
- Sao thầy? - Tôi sửng sốt.
- Thành công chỉ đến với con khi có cô gái này bên cạnh. Con thì không thích vướng bận vào đàn bà. Mục đích tham vọng của con ta biết con không bao giờ chia sẻ với ai.
Lời ông giáo tôi nghe cũng vui vui. Rồi tôi quên bẵng điều ông nói cũng như quên giấc mơ mười hai lần trùng lặp.
Buổi chiều hôm đó tôi đến gặp nàng. Lòng tôi trĩu nặng. Nàng ngồi nghe băng một mình, thấy tôi, nàng nói một cách thờ ơ:
- Cuốn băng nhạc cổ điển mà anh thích Vân cho đứa bạn mượn rồi. Thôi Quang nghe cái này nhé. Vân tin rằng Quang không chán.
Tôi gật đầu đồng ý. Nàng bấm máy cassette. Sau khúc nhạc dạo đầu, một giọng nói ấm áp phát ra. Cảm giác bình an tràn ngập khắp căn phòng không rõ được tỏa ra từ người con gái mà mình yêu lâu nay hay từ bài thuyết trình ở cuốn băng đã cũ, nội dung kêu gọi giải trừ thù hận, ban trải tình thương. Tuy sức truyền cảm lạ lùng ở giọng người phát ngôn có khả năng lay động lòng tôi, song mọi vấn đề mà tôi đang nghe như nước chảy chân cầu, thuộc về nơi chốn khác, kể cả dẫn chứng về Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhận giải nobel hòa bình.
Hình như Vân cũng chìm trong một cảm nhận tương tự.
Khoảnh khắc ấy cũng qua đi, cuốn băng bị xóa khá nhiều. Tôi không hiểu nhìn Vân dò hỏi, nàng giải thích tôi rõ đấy là bài thuyết pháp của một nhà sư. Tôi hơi ngỡ ngàng. Lâu nay Vân chuyên chú đọc kinh phật. Tôi tự học cùng lúc hai ba ngoại ngữ. Vân không nói gì thêm, tôi chào nàng ra về.
Bóng tối loang dài các phố. Một nỗi buồn não dạ ập đến cấu xé tâm hồn tôi. Lặng lẽ tiễn chân qua quãng đường dài. Vân nghĩ gì tôi không rõ. Chỉ đôi mắt trắc ẩn của nàng cứ làm tôi day dứt.
Cuộc chia ly đã được báo trước. Tôi ra đi, mang tâm trạng của thằng sinh viên không bao giờ tốt nghiệp. Tôi buồn, không phải vì bạn bè cười tôi quá cuồng vọng, mà bởi ở chính thái độ dửng dưng của nàng.
Bữa tiệc liên hoan mất quá nhiều nước
mắt. Vân không đến tham dự. Tôi không biết tâm trạng nàng thế nào? Tuy luôn bên
nhau nhưng nàng mãi mãi là một người xa lạ.
Hoà nói với tôi:
- Vân vừa gửi thư chia tay bọn mình. Nàng đi đâu không rõ. Ðồ đạc vẫn còn để nguyên lại.
Rồi Hoà bâng quơ:
- Vân như sống sau một lớp sương mù.
Thật ra tôi biết Vân xuất thân trong một gia đình trí thức trước 1975. Khi Vân ra đời, gia đình nàng ngày càng sa sút đến chỗ lụn bại. Vân lên thành phố cố quên mình là đứa bé nghèo có gia đình cũng như không. Vân gồng mình sống với mọi người. Ðó là điều ai cũng biết. Vân cũng hiểu. Riêng mọi bi kịch nàng đã trải thì không ai thấu đáo. Tôi gặp Vân quá muộn. Tôi ra đi vào cái lúc Vân cần sự chở che của một người bạn trai. Vân đang sống trong khó khăn, thiếu thốn mối đồng cảm. Ðiều làm tôi đau lòng là Vân hiểu tôi. Thằng sinh viên kiến trúc ở một làng quê nghèo, cha mẹ phải đi thu lượm bom, mìn… cưa bán kiếm tiền cho tôi ăn học đại học. Những nhận thức của tôi và Vân không dung hòa được với cánh sinh viên ở Hà Nội. Quê tôi ở Quảng Trị, cách quê nàng hàng trăm cây số. Có lần tôi nói với Vân “Hà Nội không phải là chỗ của tụi mình”. Ý tôi muốn nói về những khát vọng nghiên cứu, sáng tạo, mong muốn dấn thân, thử nghiệm sống, trạng thái bão hoà cảm xúc giữa tháng ngày đơn điệu. Vân đọc thấu nỗi lòng tôi, Vân thương tôi vì tôi cô độc quá. Còn tôi lại không muốn dắt díu Vân đi suốt cuộc đời.
Hoà nói với tôi:
- Vân vừa gửi thư chia tay bọn mình. Nàng đi đâu không rõ. Ðồ đạc vẫn còn để nguyên lại.
Rồi Hoà bâng quơ:
- Vân như sống sau một lớp sương mù.
Thật ra tôi biết Vân xuất thân trong một gia đình trí thức trước 1975. Khi Vân ra đời, gia đình nàng ngày càng sa sút đến chỗ lụn bại. Vân lên thành phố cố quên mình là đứa bé nghèo có gia đình cũng như không. Vân gồng mình sống với mọi người. Ðó là điều ai cũng biết. Vân cũng hiểu. Riêng mọi bi kịch nàng đã trải thì không ai thấu đáo. Tôi gặp Vân quá muộn. Tôi ra đi vào cái lúc Vân cần sự chở che của một người bạn trai. Vân đang sống trong khó khăn, thiếu thốn mối đồng cảm. Ðiều làm tôi đau lòng là Vân hiểu tôi. Thằng sinh viên kiến trúc ở một làng quê nghèo, cha mẹ phải đi thu lượm bom, mìn… cưa bán kiếm tiền cho tôi ăn học đại học. Những nhận thức của tôi và Vân không dung hòa được với cánh sinh viên ở Hà Nội. Quê tôi ở Quảng Trị, cách quê nàng hàng trăm cây số. Có lần tôi nói với Vân “Hà Nội không phải là chỗ của tụi mình”. Ý tôi muốn nói về những khát vọng nghiên cứu, sáng tạo, mong muốn dấn thân, thử nghiệm sống, trạng thái bão hoà cảm xúc giữa tháng ngày đơn điệu. Vân đọc thấu nỗi lòng tôi, Vân thương tôi vì tôi cô độc quá. Còn tôi lại không muốn dắt díu Vân đi suốt cuộc đời.
Hà Nội mùa xuân vẫn còn giữ trong lòng
cái lạnh cắt da cắt thịt. Gần hai mươi năm, mọi vật mờ nét dần. Khuôn mặt nàng
cũng nhoà nhạt trong tôi. Giờ đây tôi đang tồn tại giữa Hà Nội như lời khẳng
định của Vân. Mặc dù trước kia tôi cho mình một đi không bao giờ trở lại.
Gần hai mươi năm, tơi tả trên bao gai
góc cuộc đời. Bạn bè còn đó với những đổi thay. Gánh nặng gia đình hai vai, tôi
không còn hơi sức mà đàn đúm với chúng nó như xưa.
Cô bé ấy xuất hiện như để gợi lại một
nỗi đời riêng.
Sau khi bị buộc thôi dạy, nhà trường
chuyển tôi sang ban giáo vụ, suốt ngày ngồi chơi xơi nước ở phòng thường trực.
Thấy tôi vô tích sự, Thủy nhí nhảnh:
"Người đã ngồi ở đó
Trong căn nhà thật buồn
Ðốt trên đầu điếu thuốc
Những tháng ngày buồn nôn...."
Trong căn nhà thật buồn
Ðốt trên đầu điếu thuốc
Những tháng ngày buồn nôn...."
Không cần chú ý đến niềm u uẩn trên
mặt tôi, cô bé cứ liếng thoắng:
- Chú Quang ơi! Cháu đi mua rượu cho chú nghe. Vừa nói Thủy vừa cầm cái vỏ chai và lục ngăn kéo lấy mấy trăm tiền lẻ rồi chạy vù ra quán.
Bao giờ trở về cô bé cũng rót sẵn rượu vào ly cho tôi và hồn nhiên:
- Chú Quang ơi! Cháu đi mua rượu cho chú nghe. Vừa nói Thủy vừa cầm cái vỏ chai và lục ngăn kéo lấy mấy trăm tiền lẻ rồi chạy vù ra quán.
Bao giờ trở về cô bé cũng rót sẵn rượu vào ly cho tôi và hồn nhiên:
"Một ly nhâm nhi tình bạn
Hai ly uống cạn tình sầu...".
Hai ly uống cạn tình sầu...".
Chẳng cần biết tôi có khó chịu hay
không cô bé cứ mặc nhiên tung tẩy.
Ngoài giờ lên lớp học cô bé cứ chạy loăng quăng ở phòng thường trực suốt ngày. Cô đọc lại những cuốn sách tôi đọc xong vứt khắp nơi. Nhiều khi tôi có cảm giác đã gặp Thủy ở đâu đó nhưng không nhớ nổi. Rượu đã làm cho đầu óc tôi u mê kinh khủng, tôi vẫn nhờ Thủy đi mua rượu. Cô bé một lần nói với tôi:
- Buổi tối đã buồn mà chú lại ngồi uống rượu một mình cháu thấy thê thảm làm sao ấy!
Biết nói thế nào với cô bé. Tôi phải vỗ giấc ngủ bằng rượu. Có thức cũng chẳng tích sự gì.
Mấy thằng bạn cũ ngày càng thành đạt. Chiều chiều chúng phóng xe hơi về tụ tập chỗ tôi bàn công chuyện, hẹn hò bồ bịch, cười nói ồn ào. Cố sức kéo tôi vào các phi vụ, áp phe. Ðứa nào cũng bất ngờ khi lần đầu trông thấy Thủy.
Một lần Hoà hỏi Thủy:
- Cháu bao nhiêu tuổi rồi?
Cô bé lắc đầu.
- Thế bố mẹ cháu làm gì? Quê cháu ở đâu? - Hoà quan tâm.
- Không biết – Thủy đáp - Cháu sinh ra từ nước và sẽ trở về với nước.
Tôi giật mình.
Ngoài giờ lên lớp học cô bé cứ chạy loăng quăng ở phòng thường trực suốt ngày. Cô đọc lại những cuốn sách tôi đọc xong vứt khắp nơi. Nhiều khi tôi có cảm giác đã gặp Thủy ở đâu đó nhưng không nhớ nổi. Rượu đã làm cho đầu óc tôi u mê kinh khủng, tôi vẫn nhờ Thủy đi mua rượu. Cô bé một lần nói với tôi:
- Buổi tối đã buồn mà chú lại ngồi uống rượu một mình cháu thấy thê thảm làm sao ấy!
Biết nói thế nào với cô bé. Tôi phải vỗ giấc ngủ bằng rượu. Có thức cũng chẳng tích sự gì.
Mấy thằng bạn cũ ngày càng thành đạt. Chiều chiều chúng phóng xe hơi về tụ tập chỗ tôi bàn công chuyện, hẹn hò bồ bịch, cười nói ồn ào. Cố sức kéo tôi vào các phi vụ, áp phe. Ðứa nào cũng bất ngờ khi lần đầu trông thấy Thủy.
Một lần Hoà hỏi Thủy:
- Cháu bao nhiêu tuổi rồi?
Cô bé lắc đầu.
- Thế bố mẹ cháu làm gì? Quê cháu ở đâu? - Hoà quan tâm.
- Không biết – Thủy đáp - Cháu sinh ra từ nước và sẽ trở về với nước.
Tôi giật mình.
"Em sinh ra từ mây và sẽ trở về
với mây!"
Hai mươi năm trước Vân đã nói với tôi
như vậy. Ngày ấy nàng hai mươi tuổi. Nàng biến khỏi đời tôi dần dần như đã từng
đến với tôi một cách êm đềm. Từng mảng hai mươi năm trước cứ đồng hiện, nhập
nhòa:
"Vân thích nghề sư phạm chứ?" - Tôi hỏi.
Nàng không trả lời thẳng:
- "Anh thích ngành kiến trúc?".
- "Tất nhiên!" - Tôi cười.
- "Em chỉ muốn trở thành nhà văn. Khai thác mọi khía cạnh trong cuộc sống mà viết" - Giọng Vân xa vắng.
Nụ cười của tôi tắt ngấm khi nét đăm chiêu vắt ngang vầng trán của nàng. Ngày ấy tôi vẫn nghĩ làm một nhà văn xuất chúng nàng sẽ thành công. Tôi chưa hình dung được làm người thành công Vân sẽ thế nào. Có những ngày Vân tiêu hết chỗ tiền học bổng, cô phải nhịn ăn. Tôi cũng đói xanh xương và từng bỏ một trường đại học. Tôi vẫn chưa biết tiền bạc làm cho mình khốn khổ khốn nạn suốt đời. Tôi không hiểu sao Vân chơi thân với đám bạn của tôi đến thế! Là người sống bằng những linh cảm, nàng khó hiểu với cánh sinh viên sư phạm. Thế nhưng đêm đêm nàng lại nhập bọn với chúng tôi, thực tình, lạc thú của bọn sinh viên nghèo về đêm là được lang thang mọi nẻo đường, chui luồn khắp các xó xỉnh phố phường dù phải nhịn ăn nhịn uống.
Vân ví cả nhóm là lũ đười ươi. Chuỗi ngày sinh viên: Hôm qua mông lung; hiện tại vô nghĩa, trống rỗng; tương lai mơ hồ. Cả bọn co cụm lại phá phách, sống không khác người mộng du bao nhiêu. Hễ chúng tôi hát thì Vân cũng hát, mọi thứ trong giáo trình, trong lớp học càng làm cô đặc đầu óc con người. Chúng tôi cần xả bao nhiêu điều bẩn thỉu mà chúng tôi phải thu vào não bộ. Hai mươi bốn sinh viên ních chặt trong một căn phòng chưa đến ba chục mét vuông vừa chật chội vừa ngột ngạt với những chiếc giường tầng mỗi cặp một giường. Tôi suýt giết cái thằng nằm ở giường trên còn tôi giường dưới. Tôi chẳng thể nào vẽ nổi dù chỉ là thiết kế một cái bể nước khi hắn ôm con bồ cười rúc rích trên đầu tôi.
"Vân thích nghề sư phạm chứ?" - Tôi hỏi.
Nàng không trả lời thẳng:
- "Anh thích ngành kiến trúc?".
- "Tất nhiên!" - Tôi cười.
- "Em chỉ muốn trở thành nhà văn. Khai thác mọi khía cạnh trong cuộc sống mà viết" - Giọng Vân xa vắng.
Nụ cười của tôi tắt ngấm khi nét đăm chiêu vắt ngang vầng trán của nàng. Ngày ấy tôi vẫn nghĩ làm một nhà văn xuất chúng nàng sẽ thành công. Tôi chưa hình dung được làm người thành công Vân sẽ thế nào. Có những ngày Vân tiêu hết chỗ tiền học bổng, cô phải nhịn ăn. Tôi cũng đói xanh xương và từng bỏ một trường đại học. Tôi vẫn chưa biết tiền bạc làm cho mình khốn khổ khốn nạn suốt đời. Tôi không hiểu sao Vân chơi thân với đám bạn của tôi đến thế! Là người sống bằng những linh cảm, nàng khó hiểu với cánh sinh viên sư phạm. Thế nhưng đêm đêm nàng lại nhập bọn với chúng tôi, thực tình, lạc thú của bọn sinh viên nghèo về đêm là được lang thang mọi nẻo đường, chui luồn khắp các xó xỉnh phố phường dù phải nhịn ăn nhịn uống.
Vân ví cả nhóm là lũ đười ươi. Chuỗi ngày sinh viên: Hôm qua mông lung; hiện tại vô nghĩa, trống rỗng; tương lai mơ hồ. Cả bọn co cụm lại phá phách, sống không khác người mộng du bao nhiêu. Hễ chúng tôi hát thì Vân cũng hát, mọi thứ trong giáo trình, trong lớp học càng làm cô đặc đầu óc con người. Chúng tôi cần xả bao nhiêu điều bẩn thỉu mà chúng tôi phải thu vào não bộ. Hai mươi bốn sinh viên ních chặt trong một căn phòng chưa đến ba chục mét vuông vừa chật chội vừa ngột ngạt với những chiếc giường tầng mỗi cặp một giường. Tôi suýt giết cái thằng nằm ở giường trên còn tôi giường dưới. Tôi chẳng thể nào vẽ nổi dù chỉ là thiết kế một cái bể nước khi hắn ôm con bồ cười rúc rích trên đầu tôi.
Chỉ những đêm Vân cùng nhóm bạn thân
của tôi qua chơi tôi mới trút sạch cay đắng, chúng tôi lang thang và hát: các
ca khúc không đầu không cuối, cả Vân cũng múa may, tung chưởng, đọc thơ, đá
bóng loạn xà ngầu như một thằng con trai. Nhìn Vân đánh đấm, xô đẩy, tung hứng
với mấy tên bên trường mỹ thuật như Hòa, Anh… cùng đám sinh viên mới quen không
chút ngượng ngùng tôi chỉ còn biết lắc đầu. Khi tách riêng với tôi, nàng lại
nói đến cát bụi, kiếp sống phù du, bèo bọt, cảnh tù túng, nỗi tuyệt vọng về bản
thân và niềm vui nếu được chết.
Hòa phản đối ầm ĩ tình yêu tôi dành cho Vân. Theo Hòa, Vân quá ngổ ngáo, không chút nữ tính, lại nghèo, mà tôi cần một phụ nữ như bà mẹ, biết lo chuyện tiền nong cho tôi càng tốt. Người phụ nữ đó hơn mười năm sau tôi mới gặp, cô ta làm việc ở ngân hàng. Cô ta đánh gục tôi: vừa đanh đá vừa khôn ngoan, vừa giỏi khinh chồng. Với tôi Vân ngày ấy như một đứa bé, một đứa bé quá đỗi dịu dàng.
Một ngày Hoà nhìn Vân buồn buồn. Tôi hỏi. Nó kể cho tôi nghe điều nó đọc được trên bàn viết của Vân.
Hòa phản đối ầm ĩ tình yêu tôi dành cho Vân. Theo Hòa, Vân quá ngổ ngáo, không chút nữ tính, lại nghèo, mà tôi cần một phụ nữ như bà mẹ, biết lo chuyện tiền nong cho tôi càng tốt. Người phụ nữ đó hơn mười năm sau tôi mới gặp, cô ta làm việc ở ngân hàng. Cô ta đánh gục tôi: vừa đanh đá vừa khôn ngoan, vừa giỏi khinh chồng. Với tôi Vân ngày ấy như một đứa bé, một đứa bé quá đỗi dịu dàng.
Một ngày Hoà nhìn Vân buồn buồn. Tôi hỏi. Nó kể cho tôi nghe điều nó đọc được trên bàn viết của Vân.
Một nàng Vân khác hiện ra trước mắt
Hòa. Thì ra Vân như một người sinh nhầm thời. Những thứ nơi gia đình, trường
học, làng xã… đều khiến Vân cực kì kinh tởm. Như trong một tùy bút Vân viết,
Vân tham gia các cuộc chơi để thử thách mình, để củng cố đức tin về bạn bè, để
biết mình có thể sống theo một số ý muốn người khác mà không đánh mất mình.
Cũng chỉ trong những đêm lang thang, Vân mới tự lộn trái con người mình. Trên một
phương diện nào đó cô từng phải đương đầu với sự băng hoại tình người, thậm chí
cái ác, mà vì ngu xuẩn, dốt nát, vô đạo mà ra.
Rong chơi ban đêm tôi được cơ hội quan
sát phố phường kỹ lưỡng. Mới nhận ra được rõ ràng bên cạnh những biệt thự lộng
lẫy nguy nga là các dãy nhà, lều vá víu, ọp ẹp, khắp các khu ổ chuột, ổ chó
người ta lăn xả vào xâu xé nhau. Nhiều lần chúng tôi nghe kể bọn lưu manh tàn
hại cả cha mẹ ruột lẩn trốn trong đám đó. Dân cửu vạn làm thuê và đám bụi đời,
du đãng lăn lóc khắp vỉa hè. Chúng tôi cũng hiểu hơn những trăn trở cùng nỗi
đau khuất lấp của bạn bè. Tự Vân cũng phát hiện con người trái của mình: Vừa
đức hạnh, vừa nổi loạn, vừa tỉnh táo, vừa cuồng điên, vừa tự tin vừa bi quan
vừa vị tha vừa bất cần vừa từng trải vừa ngây thơ....
Hoà cho Vân có lý khi viết: "Khó
nghèo câu thúc mọi cuộc vui....". "Ðã đến lúc ta phải rời cuộc chơi
vô bổ...".
Vân trở về với đúng con người nàng: Khép kín, thờ ơ, tách biệt với xung quanh. Nhóm tôi tan vỡ dần sao đó. Hai thằng bạn thân nhất là Hòa, Anh học xong vội vã đi công trường . Tôi lao vào sách vở, đầu óc đầy những ước mơ và hoài bão không tưởng. Nàng tiên đoán được sự thất cơ của tôi, nàng nhận ra những khoảng trống bất trắc trên lộ trình mà tôi đang dấn thân đơn độc. Không muốn tôi ra đi nhưng nàng không níu giữ. Nàng thừa hiểu tôi sẵn sàng từ khước tình yêu để đuổi theo những thứ viễn vông? Hay nàng biết chúng tôi thuộc về hai thế giới khác nhau, khó mà song hành trên đường đời?
Mấy năm du học, tôi nắm vững lý thuyết kiến thiết những villa trên mây, quy hoạch những đô thị trên mặt biển. Về nước, tôi vỡ lẽ ra rằng kiến thức của mình có khả năng áp dụng trong nền kiến trúc Việt Nam vào những năm ba nghìn. Chạy chọt mãi tôi cũng được nhận vào làm giảng viên ở trường trung cấp nọ. Một thời gian tôi bị sa thải mà chính tôi cũng không rõ lý do. Tôi rất buồn phiền. Nhất là khi nghe vợ và con cái cứ cằn nhằn tôi là "ông thờ chữ". Một phần vì thói quen đọc sách đến thành nghiện của mình.
Vân trở về với đúng con người nàng: Khép kín, thờ ơ, tách biệt với xung quanh. Nhóm tôi tan vỡ dần sao đó. Hai thằng bạn thân nhất là Hòa, Anh học xong vội vã đi công trường . Tôi lao vào sách vở, đầu óc đầy những ước mơ và hoài bão không tưởng. Nàng tiên đoán được sự thất cơ của tôi, nàng nhận ra những khoảng trống bất trắc trên lộ trình mà tôi đang dấn thân đơn độc. Không muốn tôi ra đi nhưng nàng không níu giữ. Nàng thừa hiểu tôi sẵn sàng từ khước tình yêu để đuổi theo những thứ viễn vông? Hay nàng biết chúng tôi thuộc về hai thế giới khác nhau, khó mà song hành trên đường đời?
Mấy năm du học, tôi nắm vững lý thuyết kiến thiết những villa trên mây, quy hoạch những đô thị trên mặt biển. Về nước, tôi vỡ lẽ ra rằng kiến thức của mình có khả năng áp dụng trong nền kiến trúc Việt Nam vào những năm ba nghìn. Chạy chọt mãi tôi cũng được nhận vào làm giảng viên ở trường trung cấp nọ. Một thời gian tôi bị sa thải mà chính tôi cũng không rõ lý do. Tôi rất buồn phiền. Nhất là khi nghe vợ và con cái cứ cằn nhằn tôi là "ông thờ chữ". Một phần vì thói quen đọc sách đến thành nghiện của mình.
Thủy nói:
- Không hiểu sao nhìn thấy chú, cháu cứ nghĩ đến các nhân vật của Samuel Betkett(1)
Hễ thấy tôi ngồi ưu tư là cô bé tinh nghịch:
- Chú Quang ơi! "Trong khi chờ Godot"(2), chú hãy.... - Bao giờ cũng có một việc ngộ nghĩnh nào đó mà cô bé nghĩ ra.
Hoà bảo tôi:
- Mình hiểu vì sao ông quyến luyến bé Thủy, nó giống Vân.
Thì ra vậy, lúc nào tôi cũng ngờ ngợ mình gặp Thủy ở đâu.
Nghe Hoà nói, tôi nhận ra Thủy là phiên bản cuộc đời Vân.
- Thủy quá hồn nhiên, làm sao giống Vân được?
- Ngược về hai mươi năm, ông sẽ không cho như vậy - Hoà đáp.
Tôi nhớ gã đàn ông bố của Hoàng Lan cùng phòng Thủy. Hắn vẫn thường đến thăm con gái. Gương mặt đĩ thõa của hắn rất đáng ghét, khi thấy cô nữ sinh đáng tuổi con mình gã cứ nhìn hau háu, giở trò đã bị giáng một cái tát.
Thủy thường pha trà, pha cà phê giúp chúng tôi. Có lần Hòa khen Thủy dễ thương - Hoàng Lan kể:
- Ba cháu bảo chị Thủy là thiên thần. Thiên thần bị đoạ đầy.
Ngày nào tôi cũng trực đến mười một giờ đêm chỉ để làm mỗi một việc là khóa cổng trường. Một lần có chuông báo nghỉ, mọi người lục tục ra về, Thủy vẫn ngồi bất động, tay ôm mặt.
Tôi nhắc Thủy đi ngủ, mùa đông Hà Nội trở rét. Thức khuya dễ cảm lạnh. Thủy rùng mình:
- Cháu sợ phải đối diện với bóng mình, sợ bốn bức tường, sợ chiếu chăn nhàu nát lắm....
Tôi chú ý đến Thủy nhiều hơn và thấy Thủy quá lạc lõng trong thế giới này. Không ý thức mình là một người đã trưởng thành, cần phải hòa nhập, quan hệ mật thiết với mọi người, phải chia sẽ mọi trách nhiệm, bổn phận làm người hay Thủy lại vấp phải một tội ác và giữ riêng bí mật khủng khiếp nào đó trong lòng mình hoặc bên ngoài cái vẻ con nít kia cô là mẫu người suốt đời giữ trong tâm hồn mình một chấn thương?
- Không hiểu sao nhìn thấy chú, cháu cứ nghĩ đến các nhân vật của Samuel Betkett(1)
Hễ thấy tôi ngồi ưu tư là cô bé tinh nghịch:
- Chú Quang ơi! "Trong khi chờ Godot"(2), chú hãy.... - Bao giờ cũng có một việc ngộ nghĩnh nào đó mà cô bé nghĩ ra.
Hoà bảo tôi:
- Mình hiểu vì sao ông quyến luyến bé Thủy, nó giống Vân.
Thì ra vậy, lúc nào tôi cũng ngờ ngợ mình gặp Thủy ở đâu.
Nghe Hoà nói, tôi nhận ra Thủy là phiên bản cuộc đời Vân.
- Thủy quá hồn nhiên, làm sao giống Vân được?
- Ngược về hai mươi năm, ông sẽ không cho như vậy - Hoà đáp.
Tôi nhớ gã đàn ông bố của Hoàng Lan cùng phòng Thủy. Hắn vẫn thường đến thăm con gái. Gương mặt đĩ thõa của hắn rất đáng ghét, khi thấy cô nữ sinh đáng tuổi con mình gã cứ nhìn hau háu, giở trò đã bị giáng một cái tát.
Thủy thường pha trà, pha cà phê giúp chúng tôi. Có lần Hòa khen Thủy dễ thương - Hoàng Lan kể:
- Ba cháu bảo chị Thủy là thiên thần. Thiên thần bị đoạ đầy.
Ngày nào tôi cũng trực đến mười một giờ đêm chỉ để làm mỗi một việc là khóa cổng trường. Một lần có chuông báo nghỉ, mọi người lục tục ra về, Thủy vẫn ngồi bất động, tay ôm mặt.
Tôi nhắc Thủy đi ngủ, mùa đông Hà Nội trở rét. Thức khuya dễ cảm lạnh. Thủy rùng mình:
- Cháu sợ phải đối diện với bóng mình, sợ bốn bức tường, sợ chiếu chăn nhàu nát lắm....
Tôi chú ý đến Thủy nhiều hơn và thấy Thủy quá lạc lõng trong thế giới này. Không ý thức mình là một người đã trưởng thành, cần phải hòa nhập, quan hệ mật thiết với mọi người, phải chia sẽ mọi trách nhiệm, bổn phận làm người hay Thủy lại vấp phải một tội ác và giữ riêng bí mật khủng khiếp nào đó trong lòng mình hoặc bên ngoài cái vẻ con nít kia cô là mẫu người suốt đời giữ trong tâm hồn mình một chấn thương?
Thủy làm sao sống được giữa đô thị
phồn hoa? Cô quá đơn bạc. Cảm giác buồn nôn trước cuộc sống lại nằm sâu trong
vô thức của Thủy. Tuy không bao giờ nói ra điều đó nhưng tôi biết Thủy tởm lợm
trước các bữa tiệc thừa mứa. Đám bạn nghèo ngày xưa nhiều thằng giờ đây lên
sếp. Không hiểu sao chúng mê chết cái phòng khách của trường. Chiều cuối tuần
nào chúng cũng mang rượu thịt đến chỗ tôi say sưa bù khú.
Thằng Anh giờ đây đã là giám đốc một
công ty xây dựng có lần xách cả thịt cầy đến và hỏi Thủy:
- Cháu chê à! Sao lần nào cũng thấy cháu luẩn quẩn ở chỗ này vậy?
- Cháu thấy mấy chú cư xử với cháu tốt mà. Còn món thịt cầy cháu không thích - Thủy đáp.
- Thế cháu thích ăn gì? Mỗi tháng mấy chục ngàn học bổng, làm sao cháu sống nổi? - Tôi hỏi tiếp.
- Cháu quang hợp mà sống! - Thủy cười phá lên.
- Cháu cứ thế này chú đâm xót xa lo lắng dùm. Bọn chú ngày trước cũng thiếu đói lắm, nhưng đó là một thời ấu trĩ của toàn xã hội. Bây giờ kiếm ra ít tiền nhưng không có những cuộc nhậu nhẹt vui say cùng bạn bè chắc tự sát vì buồn chán lâu rồi. - Tôi bộc bạch với Thủy.
- Cháu cũng đã một lần tự sát nhưng chết không dễ đâu chú ơi!
- Cháu chê à! Sao lần nào cũng thấy cháu luẩn quẩn ở chỗ này vậy?
- Cháu thấy mấy chú cư xử với cháu tốt mà. Còn món thịt cầy cháu không thích - Thủy đáp.
- Thế cháu thích ăn gì? Mỗi tháng mấy chục ngàn học bổng, làm sao cháu sống nổi? - Tôi hỏi tiếp.
- Cháu quang hợp mà sống! - Thủy cười phá lên.
- Cháu cứ thế này chú đâm xót xa lo lắng dùm. Bọn chú ngày trước cũng thiếu đói lắm, nhưng đó là một thời ấu trĩ của toàn xã hội. Bây giờ kiếm ra ít tiền nhưng không có những cuộc nhậu nhẹt vui say cùng bạn bè chắc tự sát vì buồn chán lâu rồi. - Tôi bộc bạch với Thủy.
- Cháu cũng đã một lần tự sát nhưng chết không dễ đâu chú ơi!
Thủy cứ nói chơi chơi nhưng tôi biết
cô bé không đùa.
Tôi gieo mình xuống ghế như nghe thấy lời Vân:
"Em đã một lần tự trầm trong ý thức dị đoan rằng nước sẽ cuốn hình hài mình ra biển. Rồi sóng sẽ mang em sang một xứ sở không có bến bờ. Em nghĩ chết là để giải thoát, linh hồn sẽ được về miền cực lạc…”
Thủy thở ra với tôi:
- Ấy là khi gia đình cháu bị phá sản. Ba cháu lái ô tô và gặp nạn, các anh chị táo tác trong cuộc mưu sinh. Cháu tuyệt vọng và mong kết thúc mọi khổ đau. Cháu được cứu sống như là định mệnh quyết định mình chưa được kết thúc cuộc đời lúc đó. Và phải như thế để cháu nếm đủ trần ai.
Tôi gieo mình xuống ghế như nghe thấy lời Vân:
"Em đã một lần tự trầm trong ý thức dị đoan rằng nước sẽ cuốn hình hài mình ra biển. Rồi sóng sẽ mang em sang một xứ sở không có bến bờ. Em nghĩ chết là để giải thoát, linh hồn sẽ được về miền cực lạc…”
Thủy thở ra với tôi:
- Ấy là khi gia đình cháu bị phá sản. Ba cháu lái ô tô và gặp nạn, các anh chị táo tác trong cuộc mưu sinh. Cháu tuyệt vọng và mong kết thúc mọi khổ đau. Cháu được cứu sống như là định mệnh quyết định mình chưa được kết thúc cuộc đời lúc đó. Và phải như thế để cháu nếm đủ trần ai.
Trong ngôi trường thật buồn, bao ngày
đã trôi qua chầm chậm. Ngày nào cũng na ná như nhau. Một thời gian sau tôi
chán, nên bỏ trường, nhảy sang làm ăn với nhóm thằng Hòa.
Nhiều đêm say sưa, về muộn, tôi thấy
Thủy lang thang trên đường với cánh nam sinh, tôi lo âu về cô một điều rất vô
lý: vài ba đứa con gái đàn hát với một đám con trai. Tôi thầm so sánh thân phận
Thủy và Vân. Tôi mệt mỏi lắc đầu.
Một chiều nọ có việc giấy tờ cần giải quyết ở trường, nhân tiện tôi hỏi thăm Thủy. Tôi ngạc nhiên khi lão bảo vệ mới cho tôi biết Thủy đã ra trường, giờ chuyển đi đâu không ai rõ. Có người bảo Thủy về quê, có người bảo Thủy theo chồng, có người nói Thủy đi tu.... Tôi thất vọng quay về. Chợt tôi se lòng khi nghĩ đến Vân.
Hai mươi năm trước Vân cũng thế. Tôi chia tay Vân và nàng hẫng hụt. Tôi được gì đâu ngoài chuỗi ngày sống vay mượn, lay lắt. Lúc nào cũng khắc khoải đợi chờ một ân phúc tốt lành. Thế nhưng tôi cứ đón nhận những điều mình không muốn một cách phi lý đến lố bịch. Còn số phận Vân nổi chìm đâu đó ngoài miền hiểu biết của tôi.
Một chiều nọ có việc giấy tờ cần giải quyết ở trường, nhân tiện tôi hỏi thăm Thủy. Tôi ngạc nhiên khi lão bảo vệ mới cho tôi biết Thủy đã ra trường, giờ chuyển đi đâu không ai rõ. Có người bảo Thủy về quê, có người bảo Thủy theo chồng, có người nói Thủy đi tu.... Tôi thất vọng quay về. Chợt tôi se lòng khi nghĩ đến Vân.
Hai mươi năm trước Vân cũng thế. Tôi chia tay Vân và nàng hẫng hụt. Tôi được gì đâu ngoài chuỗi ngày sống vay mượn, lay lắt. Lúc nào cũng khắc khoải đợi chờ một ân phúc tốt lành. Thế nhưng tôi cứ đón nhận những điều mình không muốn một cách phi lý đến lố bịch. Còn số phận Vân nổi chìm đâu đó ngoài miền hiểu biết của tôi.
Notes:
1.
Samuel Betkett (1906-1989) tác giả kịch phi lý Pháp.
2. Tên một vở kịch của Samuel Betkett.
2. Tên một vở kịch của Samuel Betkett.
LTT
KHÁCH CỦA MỘT NHÀ VĂN
Lại một đêm nữa Hằng mơ thấy đứa con mọc cánh và bay.
Lúc này nó hãy còn là thai nhi trong bụng mẹ. Còn chưa đầy một tháng nữa là nó
sẽ chào đời. Phong đi vắng đã hơn mười ngày. Lẽ ra như hẹn thì Phong về rồi.
Dạo này Hằng tương đối rảnh. Cô ru rú suốt ngày trong phòng trọ chật hẹp. Cô
chỉ có một thú tiêu khiển duy nhất là ngắm những cơn mưa như trút nước suốt
ngày đêm.
Vợ chồng Hằng vào thành phố được gần
một năm. Cô dự định in một tập truyện ngắn nhưng hễ cứ đọc lại những gì do
chính mình viết là Hằng đốt bỏ. Có điều gì đó không ổn trong những truyện ngắn
của cô. Chuyện dở hay chưa phải là vấn đề. Cái mà nội tâm cô day dứt nhất là
thói quen của cô đã bộc lộ trong thái độ sống của các nhân vật: đó đều là những
kẻ không có trách nhiệm với chính mình và chẳng cần thiết cho bất kì ai. Nhiều
nhà văn vẫn đánh giá cao các tác phẩm của Hằng, cô từng choáng ngợp trước sự ưu
ái đó.
Hằng thôi viết từ khi lấy chồng. Phong
vẫn khích lệ cô viết trở lại nhưng rồi đứa con trong sự hiện hữu vật chất đã
khiến cô có ý nghĩ cầu an rằng nó là tác phẩm độc nhất vô nhị và cô không cần
sáng tác nửa.
Phong về quê vì ngoài ấy vừa trải qua
một cơn lũ lớn. Đang lúc vợ chửa vượt mặt thế này mà bỏ đi lâu là một hành động
không hay, nhất là Hằng chẳng có thân nhân, bè bạn ở thành phố này. Phong lao
ra miền Trung khi bão lũ không yên, anh yêu khúc ruột mềm ấy hơn bất cứ thứ gì
trên đời. Anh vẫn luôn tìm cách chứng minh cho Hằng thấy miền Trung là địa
linh. Hằng chỉ biết một điều ai cũng biết: quê hương mình là một vùng khắc
nghiệt. Năm nào miền Trung cũng phơi lưng hứng trọn thiên tai.
Hằng rùng mình. Cô hình dung nỗi cơ
cực ở quê nhà, nhất là dịp bão lũ. Giờ đây cô tương đối yên thân nhưng rõ ràng
Phong không muốn cô sống vậy. Anh vẫn bảo Hằng: Nhà văn chân chính phải quan
tâm và viết về thân phận con người. Xa rời mục tiêu ấy họ sẽ tự làm hỏng mình.
Sống với Phong, Hằng có cảm tưởng mình là một con giun nhưng anh làm đủ mọi
cách để nó biến thành rồng. Nó sẽ lột xác, hóa thân, lớn dậy, bay tự do giữa
bầu trời cao rộng hay nó sẽ đớn đau, quằn quại trước khi đứt lìa từng khúc để
rồi chết hẳn.
Những ngày gần đây có một bóng đen vẫn
thường lai vãng trước cửa nhà Hằng. Đôi ba lần gã bước vào bên trong nhà. Rõ
ràng gã có ý đồ gì đó. Đêm nay sau khi cô từ giã giấc chiêm bao ngọt ngào gã
lại đến. Ban đầu gã còn gõ cửa và khi bắt gặp Hằng gã xin lỗi và thanh minh là
mình nhầm nhà. Hằng không bận tâm đến gã và chẳng cần biết gã là ai. Gã khiến
cô bực mình bởi thái độ láo xược và lời tiên đoán sự nghiệp văn chương của cô
đã chết yểu. Cô lịch sự với gã nhưng chỉ mong gã cút đi cho rảnh. Điều mà cô
chột dạ nhất là dường như gã biết mọi vui buồn thầm lặng của cô.
“Gã muốn gì ở mình?” có lần cô nghĩ
ngợi.
Bóng đen có những góc cạnh tối tăm
nhưng không xa lạ đối với Hằng. Cô tin chắc chính hắn bao chứa những bãi tha
ma, viện tâm thần, trận mạc, nhà xác, tâm bão... nói tóm lại, hắn là đồng minh
của sự hủy diệt.
“Tại sao hắn cứ đến quấy rầy ta? Chẳng
lẽ đã đến lúc...”. Hằng không dám nghĩ tiếp.
Bóng đen ít khi đếm xỉa đến những lời
ta thán của Hằng. Đôi khi Hằng lo lắng là gã chọn thời cơ này để thâm nhập vào
đời sống riêng tư của cô vì mục đích gì đó cô còn chưa được biết. Đứa con mà
Phong thường nói là sáng tạo của tình yêu bao lần là động lực giúp cô thoát
khỏi những cơn ác mộng hãi hùng lần này vẫn không sao đem lại cho cô can đảm để
tống khứ vị khách hắc ám ra khỏi nhà. Hằng rất cần có Phong bên cạnh. Cô lạnh
lưng khi nhớ lại những lời dặn dò của anh:
- Nếu anh có rủi ro gì em hãy cố gắng sống
tốt và nuôi dạy con nên người.
Hằng hiểu Phong yêu cô. Tình yêu ấy đã
kéo cô ra khỏi tình trạng u uẩn bởi mối tình tai bay vạ gió đem lại. Anh xa cô
lần này là điều anh hoàn toàn không muốn nhưng anh không thể làm ngơ trước
người thân đang gặp hoạn nạn. Bao kẻ khốn khổ đang mong chờ những người như
anh. Phong đã bán ngôi nhà của mình để lấy tiền làm việc từ thiện.
“Cô tôn thờ anh chàng ấy thiệt sao?”
Bóng đen kéo Hằng ra khỏi dòng suy tư.
Cái cười mỉa mai của gã không che dấu được sự thất vọng. Gã chờ đợi Hằng có một
lời phủ nhận cay độc. Cô im lặng.
Gã không dám công kích Phong trước mặt
Hằng. Gã đành dùng đến độc chiêu thật hiểm ác:
- Cô không xứng đáng với Phong. Cô biết rõ
điều đó hơn bất cứ kẻ nào vẫn thường ghen tỵ với cô và luôn tìm cách lục lọi
vào đời tư của cô. Dù cô được học ở hai trường Đại học nhưng kiến thức ấy đã vô
dụng. Cô từng đèo bòng và mơ những thứ ngoài tầm tay của một kẻ nhấc chân không
khỏi mặt đất. Gia đình cô vẫn tưởng cô sẽ trở thành cô giáo nhưng bài học vỡ
lòng về tư cách người học trò cô học hoài cũng không thuộc nên một ngày cô chạy
trốn vai trò của một người thầy. Cô muốn trở thành một nhà văn và những tác
phẩm của cô được nhiều người xưng tụng, sợ cô sinh kiêu ngạo nên nhiều nhà phê
bình đã chỉ trích ra trò. Cô yêu một nhà thơ trẻ cùng quê và rồi cô bị phỉnh
phờ dễ dàng. Khi biết mình bị chơi xỏ cô tức điên lên nên chìa sừng ra húc lung
tung. Cô húc vào Phong, anh chàng đã cố tình bẻ gãy rồi giả bộ băng bó cặp sừng
đã gãy của cô. Sao cô không bảo anh ta vác cô lên vai, đội cô lên đầu và cứ thế
mà đi cùng trời cuối đất, bất chấp những lời gấu ó. Anh chàng cứ giả vờ như vì
cô mà kiệt sức. Như thế lần nữa cô sai lầm, cô nương ạ!
Đôi mắt Hằng tối sầm. Gã khiến Hằng
buồn ghê gớm. Ít ai biết bên ngoài cái sự kính trọng và tin yêu chồng lòng Hằng
nhiều lúc như có vết rạn. Có gì để cô nghe mình hoang mang? Đời một người cầm
bút là dấn thân cô độc và trong một cuộc hôn nhân, hai con người có muốn là tốt
và luôn cố tốt với nhau nhưng không chung mục đích, không thấu hiểu và chia sẽ
thì người này bắt đầu không cần thiết với người kia. Phong làm như cô là gánh
nặng của đời anh, không có cô thì Phong cũng nhọc nhằn lắm rồi. Biết bao dự
tưởng lớn lao anh ta chưa thực hiện được. Tín hiệu mong chờ cứu nạn phát đến
anh từ khắp mọi nơi. Nhiều người tìm anh, họ kể lể nỗi thống khổ của mình và
chờ anh giúp đỡ. Dù có ba đầu sáu tay anh cũng không thể cùng lúc xoay sở hết
công việc được. Phong được mệnh danh là hiệp sĩ của những phụ nữ lầm lỡ, trẻ mồ
côi và người già neo đơn, giờ đây anh ta đèo bòng vợ con trong khi chẳng ai
tiếp sức thêm....
Bóng đen khiêu khích Hằng rằng cô chỉ
là con đàn bà vô tích sự, cô đã nhai đi, nhai lại cuộc sống nhàm chán của mình.
Phong thì khác hắn, ít ra anh ta cũng muốn làm người hữu ích. Có bị nạn trong
khi hành hiệp thì anh ta vẫn sống mãi trong sự tri ân của những người thọ ơn
anh. Còn cô chết đi cũng chẳng ai thấy mất mát. Có khi điều này lại hay ho cho
cô và cho cả những người khác.
Hằng nhìn trừng trừng vào bóng đen.
Hắn cười nham hiểm. Đột nhiên một đốm sáng xanh lè như lửa lân tinh hắt vào cô.
Ý nghĩ tuyệt vọng và muộn màng rằng mình đã bị thôi miên khiến tay chân cô bủn
rủn và tri giác cô tê liệt hẳn.
Hằng thấy mình đi vào một kinh thành
cổ. Điều khó chịu là cô có cảm tưởng mình chết rồi. Cô quỳ trước một ngôi đền
và ý thức rõ rệt mình chỉ là một hồn ma. Ước mơ viết một cuốn sách về những cư
dân sống trong một vương quốc cổ được manh nha từ thời còn ấu thơ, vậy mà đến
lúc chết vẫn không thực hiện được khiến Hằng thấy tiếc nuối. Suốt thời thơ ấu
Hằng sống nơi ngôi nhà tận đồng vắng tiếp giáp khu mộ cổ, trên những ngôi mồ hoang tịch, bia đá, những hàng gạch cổ
nối dài, xếp chồng, màu phù sa như những gương mặt muôn năm cũ, như những bóng
ma tái hiện những hình hài cổ xưa. Cô cố sức đi tìm lời giải bí mật của một dân
tộc trong lòng đất sâu. Cô có những suy nghĩ không giống ai về những
triều đại đã nhanh chóng sụp đổ, bị thay thế. Trí tưởng tượng phong phú của cô
thường bay bỗng đến thế giới của họ. Trong tâm linh Hằng, nơi mà cô sống người
xưa cũng sống trong vương quốc riêng, vương quốc đó đẹp đẽ và huy hoàng. Hoa nở
khắp các con đường mà bàn chân họ đã đi qua, linh hồn họ giờ lồng lộng giữa
trời cao.
Hằng vẫn thường bắt gặp bóng đen lẩn
quất đâu đó nơi khu mộ cổ. Gã khao khát vòng hào quang vĩnh hằng trên các đài
thờ, các tháp đền, lăng tẩm. Trông gã mờ nhạt, ảm đạm, âm u.
Hằng như nghe đâu đó trong những lời
nguyện cầu, trong kinh kệ, trong niềm hoan ca vô tận những lời nhắn nhủ:
- Người xưa dẫu khuất bóng thời gian nhưng
ước mơ, khát vọng ngàn đời của họ bất tử. Đất mẹ đã tạo sinh họ thì cũng tái
tạo những tộc người mới tạo dựng một thế giới mới với những hoài bão, khát
khao. Như lá rừng, như sóng nước: lớp này đuổi xô lớp khác, trùng trùng điệp
điệp sinh khởi đời đời.
Hằng suy ngẫm thật lâu điều cô vừa
khám phá. Cô vỡ lẽ vì sao cuốn sách mà cô muốn hoàn thành về những cư dân sống
trong vương quốc cổ đến giờ vẫn còn nằm trong dự tính. Cô không viết được nó
bởi lẽ cô chưa bao giờ giải mã được những bí ẩn của người xưa. Lúc này cô mới
cảm nhận sâu sắc trong sự sống của mình có huyết thống cha ông, trong tâm thức
mình có đất trời của hàng ngàn năm trước, trên gương mặt mình có diện mạo tổ
tiên. Một tình cảm biết ơn và hoài nhớ cội nguồn dâng lên làm cô chấn động cả
người. Tự nhiên Hằng thấy sáng suốt kỳ lạ. Một nguồn sinh lực bí ẩn, huyền diệu
như từ ngàn xưa tràn ngập cơ thể và nâng cô dậy.
Hằng choàng tỉnh. Cô nhìn khắp căn
phòng. Bóng đen đã bốc hơi từ bao giờ.
LTT
MỘT DUỘC MÈO MẢ GÀ ĐỒNG
Truyện ngắn của
Lê Thu Thùy
Lê không biết
bắt đầu từ đâu và kể về ai, lấy ai làm nhân vật chính
câu chuyện của mình. Còn nhớ anh Lâm kể Lê nghe rằng: hôm nọ, thằng bồ của Lê
hồi trước đem vợ đến anh khoe. Cách đó mấy tháng, hắn đưa mấy tên văn nghệ sĩ
thành đạt, giỏi xoay thế thời về nhà anh, người nào trong bọn họ cũng hãnh diện
mình kịp nhập cư Hà Nội, là dân thủ đô. Vợ chồng anh hậu đãi họ ra trò. Phải
khó khăn lắm anh mới nói cho hắn biết rằng Lê đau nặng, Lê phải chuyển bốn năm
bệnh viện trong vòng một năm và hiện nay Lê đang ở trong chùa. Hắn khóc như đàn
bà đau đẻ và trút cơ man là nước mắt cá sấu!
Vì sao Lê vào
chùa? Lê bị anh trai đuổi ra khỏi nhà. Sống với ba mẹ thì một
năm mười hai tháng, tháng ba mươi ngày, ngày nào cũng thấy cái mặt sát khí của
hai ông anh ruột. Lê bị chính Đôn vu khống với công an chỉ vì theo một kẻ tà giáo.
Công an đã gặp Lê, vợ Vũ hằn học sao Lê yêu cái thứ cặn bã đó. Đôn cũng là bạn
của Vũ kia mà. Vũ chết rồi. Lê thì không biết mình nên sống hay nên chết. Lê đã
đi đến tận cùng tuyệt vọng. Lê biết thêm là một đám đông khác cùng học với Lê
thời ở Huế giờ về phủ kín các cơ quan ở Đà Nẵng, Tam Kỳ. Họ khoe với mấy sếp bự
là có biết Lê theo bọn phản động, phản cách mạng vậy nên Lê được công an sờ
gáy, chí ít vụ công an hỏi thăm sức khỏe, để các cơ quan xuất bản, các tòa sọan
báo, đài truyền hình khắp tỉnh nhà đừng ai nhận Lê vào làm việc. Buồn cười là
một tay công an đã đến gặp riêng Lê. Anh ta bảo: ai còn rủ rê chị theo tà giáo
thì cho chúng tôi biết. Lê cười trừ: “những người khác chẳng cần gì ở một người
như tôi đâu!”. Anh ta hỏi Lê mượn những gì Lê viết để đọc. Lê tặng anh ta một
tập thơ và tập truyện vừa xuất bản. “Cám ơn!” Anh ta nhận và ra về.
Lê đã hình
dung ra cả một hội đồng thẩm định các tác phẩm văn học đã
mang những tác phẩm vô tội của Lê ra giải phẫu. Tội tình là họ chẳng thấy gì
ngòai mớ chữ nghĩa hiền lành, thế nhưng không vì lý do ấy mà họ không tìm cách
thọc dao sau lưng nhất là khi có nhiều kẻ tung tin rằng ông tổng biên tập tờ
báo tỉnh đã không dám nhận Lê vào vì có lắm vấn đề trong lý lịch đại khái là Lê
bị một kẻ máu mê tôn giáo như Vũ rủ rê, lôi kéo. Vũ bị buộc tội “lợi dụng tự do
tôn giáo, chống phá nhà nước”. Mà gia đình vợ của Vũ hiện định cư bên Mỹ. Bố vợ
Vũ là người của phía bên kia. Đủ thứ dây mơ rễ má dây cà ra dây muống. Lê thầm
nghĩ ba mẹ Lê ngày xưa dưới chế độ cũ không tướng tá, cũng viên chức, sĩ quan,
lính tráng,…thì bây giờ Lê đã xuất cảnh đi Mỹ. Hồi trước ba mẹ Lê chỉ là những
nông dân quèn, ruộng đất, vườn tược cũng tàm tạm. Về sau, dưới chế độ mới, tất
cả đất đai, điền sản của gia đình bị tịch thu hợp tác hóa hết. Nhà Lê rơi vào
diện bần cố nông.
Mấy vị trong ban đại diện ở chùa cũng nghe đủ lời dèm pha về
Lê. Không thể tiếp tục nương náu, ẩn dật cửa chùa dù chỉ là làm công quả quét
dọn, chẻ củi, nấu ăn. Lê gục xuống. Căm thù sự độc ác của con người ư? Làm sao
có thể căm thù được khi mà họ lúc nào cũng tử tế trong mắt người khác. Ai dám
cáo buộc cả bầy đàn là phường vô lại, gắp lửa bỏ tay người. Có chua chát trước
bộ dạng méo mó, đáng thương và đáng sợ của con người Lê cũng chẳng làm gì được
ngòai việc phải chịu một cơn đau tinh thần khủng khiếp, mà tinh thần ngự trong
xác thịt nên cơ thể Lê phát ra đủ thứ bệnh, chính xác hơn là bộ phận nào trên
cơ thể cũng bệnh, Lê phải vào bệnh viện nằm.
Lê không
có tiền, không ai là không biết điều đó. Ở đời anh có thể
dấu mọi thứ, trừ cái nghèo. Hồi nảo hồi nào một bà bạn văn chương ở
Hà Nội vì ngờ vực thằng bồ khốn kiếp của bà say mê Lê
đã xúi một gã Xuân tóc đỏ đến tán tỉnh
cô. Hắn tứ cố vô thân không thành vấn đề, hắn chuyên nịnh bợ đám con ông cháu
cha không thành vấn đề, hắn cố leo trèo cũng không thành vấn đề. Hắn vốn là anh
em của tình nhân bà bạn xấu. Bà ta bịa tạc rằng, Lê giàu lắm, giàu đến độ, hắn
mà yêu được Lê thì có thể trở thành phu đào mỏ chuyên nghiệp. Cũng vui là mấy
cô bạn cùng lớp biết chuyện đã dẫn dụ và nhốt hắn trong toalet đâu mấy giờ đồng
hồ, từ đó hắn xấu hổ và cái ý nghĩ tán tỉnh cho được Lê nhằm lợi dụng kiếm chác
cũng tiêu tùng.
Nhưng đó là chuyện
linh tinh thời còn đi học. Lê mệt mỏi vì tình đời, tình người. Vài ba
người tốt đã cứu Lê đúng lúc. Nhưng Lê đã bất lực trong sự chọn lựa một cõi
riêng. Vậy mà mọi cánh cửa cứ đóng sầm. Lê ngao ngán vì đi đâu cũng gặp một lũ
mèo mả gà đồng. Họ trông có vẻ lãng mạn, hiểu biết và có học nữa. Nhưng đó chưa
phải là bản chất của họ, bản chất họ chỉ là bọn điếm trá, trên phương diện nào
chúng cũng là lũ đĩ bợm, thúi tha. Chúng chỉ ưa tìm một nạn nhân bé nhỏ để chĩa
nọc ra châm chích. Độc địa lắm đấy nhưng mà chúng sung sướng thấy nạn nhân của
mình chết trong đau khổ. Chúng kéo người
này, lôi người nọ vào cuộc, rủ rê cả một bè lũ xả ra đủ mọi rác rưởi hòng chôn
lấp nạn nhân đáng thương của mình. Vì lý do gì? Vì ác thôi. Chúng có thừa đất
để dụng đến cái ác của mình. Xã hội đã nuôi béo cái ác. Nhà thơ trường chúng
tôi chưa chọn cái chết làm lối thoát, vậy là bọn chúng nhân một cái cớ liền đem
cô ấy ra giết mổ. Những người trong sáng luôn sợ bị bôi bẩn là đối tượng đầu
tiên bị chúng chọn. Chúng đánh đĩ lương tri không nhằm kiếm tiền thì cũng để
vui sướng một cách bệnh hoạn, ngu xuẩn nhất. Mà đã đĩ điếm kiểu ấy thì những cô
gái giang hồ, hành nghề bán trôn nuôi miệng còn sạch sẽ hơn nhiều.
Lê
ngờ ngợ khi anh Lâm còn bảo thằng Đôn nhiều lần dắt vợ đến khoe với
anh và cô ta trông quá hãnh diện, hoặc giả đó là cô gái kênh kiệu, gây mất cảm
tình nơi anh ngay từ đầu. Cô ta muốn chồng chơi chết Lê luôn. Chơi như một tên
chỉ điểm hoặc ngậm máu phun người, ném đá dấu tay càng tốt. Quái thai ấy hắn
đem tận ngoài Bắc về. Lê bảo anh Lâm thôi cứ mặc xác người ta. Chắc Đôn chỉ
khoẻ kiếm vợ trẻ thôi. Hy vọng cô ta chịu đựng nổi chồng suốt đời. Trong mắt Lê
cô vợ hắn cũng như bao cô gái trên đời này Lê chưa từng biết, riêng hắn, cũng
như lũ sinh viên văn khoa của hai trường sư phạm và tổng hợp ở Huế, cùng phe
nhóm nào đó bẩn thỉu hơn ở Quảng Nam-Đà Nẵng mà Lê không biết, đã chẳng làm gì
được Lê cả vì Lê đã coi như chưa từng biết họ. Mà một khi Lê không biết gì ai
thì họ cũng chẳng nên biết gì Lê. Giả sử Đôn còn tưởng Lê yêu hắn thì cứ cho
hắn làm con quỉ suốt đời. Oái oăm người như Lê chẳng biết vì muốn hưởng cái gì
ở cuộc đời mà đến thế giới này. Lê đau đớn lắm, đau đến mức có một động lực ném
Lê vào một thực tại khác, ở đó, Lê nhìn cái thế giới mà Lê đang sống như một
người nằm mộng, nhìn những ảnh hiện trong mơ không ngừng đổi thay. Dù phát điên
được bởi động lực đó cho Lê tỉnh giác để phải sợ bộ mặt thật của đời sống Lê
vẫn không thể căm thù nổi, như thể có bàn tay vô hình lấy cắp lòng hận thù
trong Lê. Về phía bản thân, Lê luôn nuôi một ước ao lớn hơn cái xác người trĩu
nặng nỗi đời là làm sao để một năng lực phi thường trỗi dậy, phá tan cái tinh
thần bạc nhược và thiêu rụi tật bệnh thân thể, đạp đổ mọi tường lũy, cần thiết
tích chứa một nội tâm hùng hậu cùng sức hiểu biết đủ để chứng minh cho loài
người hiểu: anh chỉ có thể sống trong cái vòng điêu linh vẫn vây bọc thập loại
chúng sinh trong bao nỗi thăng trầm từ đông sang tây, cổ chí kim và cũng chỉ
tồn tại trong vòng trăm năm thôi.
Còn nhớ anh
Lâm đau đớn bảo Lê con trai anh lấy bằng thạc sĩ sư phạm ngành Toán. Sau khi dự
phỏng vấn ba trường trung học và đều bị trả hồ sơ chàng trai đã đâm vào ô tô. Cái
chết không đến như chàng trai chờ đợi, như vậy chàng trai phải nằm bệnh viện
điều trị chấn thương cả năm. Bây giờ chàng trai ôm gói đi học đông y, cái nghề
từng giúp anh Lâm nuôi sống cả nhà nhưng đến lượt con trai thì muốn hành nghề
gia truyền phải qua trường đào tạo, phải có bằng cấp.
Vào cái thời Lê
học ở Huế, hai mươi tuổi Lê được hội văn học nghệ thuật Huế trao giải
thưởng thơ, đồng tiền kiếm được từ thơ phú không những bèo bọt mà còn gây ra
lắm sự yêu, ghét. Hồi đó Lê chưa biết làm một nhà thơ thì nên yêu thứ gì. Lê cố
thoát li ruộng lầy chốn thôn quê và trong cái mớ bòng bong văn chương, Lê cứ
tưởng nhà thơ nhà văn thì chỉ yêu cái đẹp, mà những ông bà văn nghệ sĩ là đại
diện để làm nên cái đẹp ấy. Giờ đây Lê thấm thía rằng: người cầm bút nào cũng
bị ném vào bãi lầy hiện sinh nhanh nhất. Làm gì để ra khỏi nó? Phải yêu những
thứ cát bụi kể cả cái nẻo đời lầy lội anh luôn ngập ngụa, trượt té. Anh là
người làm công việc sáng tác, vậy thì anh hãy uống đủ những đen tối trước khi
tiếp nhận ánh sáng. “Vậy tôi không thèm làm văn chương nữa!” Hoàng Mai đã dứt
khoát như vậy dù chị có một thần đồng văn học trong người. Chị nhận giải thưởng
tiểu thuyết hay năm mười bốn tuổi. Lê không làm được như chị. Ăn thua ban đầu
là anh có tiền không? Lê lúc nào cũng không có tiền nên là kẻ nổi chìm trong
bãi lầy hiện sinh vào mọi thời điểm. Lê kiếm tiền khó nhọc hơn người xưa tầm sư
học đạo vậy nên giờ đây nếu có kẻ hỏi Lê yêu ai nhất thì Lê thừa can đảm để nói
rằng Lê yêu một nhà tài trợ cho mình. Khổ nỗi, nhà tài trợ hảo tâm chưa xuất
hiện vì vậy mà chưa bao giờ Lê yêu ai. Con tim Lê còn trong sạch đến nỗi, mọi
sự quấy đảo cho dục tình chỉ khiến Lê chán chứ không làm Lê đắm trước hoặc thoả
hiệp. Cũng vì thế mà Lê từ bỏ tất cả những kẻ giả dối vẫn tìm cách chiếm đọat
đời mình bằng những hình thức cao thượng như tỏ ra ta là người yêu. Cũng may
người đời tuy lạnh lùng, dửng dưng với Lê nhưng cũng quay lưng lại những kẻ ấy
vì thế y chẳng làm gì được Lê và chẳng thể nhân danh bất cứ cương vị gì để lên
án, phê phán và phá đám, chọc gậy bánh xe.
Năm ngoái Trung,
một bạn học cùng lớp ở Huế bây giờ làm biên tập sách ở một nhà xuất bản tại Sài
Gòn viết thư cho Lê kể anh chỉ là một nhà thơ. Ngày trước gia đình anh chuyển
vào Sài Gòn thiếu tiền phải mua tạm một ngôi nhà ở Ngã Năm Chuồng Chó. Ngôi nhà
nhỏ, giá rẻ, bán lại chẳng bao nhiêu tiền. Anh bị ung thư phổi phải thế chấp
nhà vay tiền chữa bệnh. Không chỉ lo chuyện nợ quá hạn bị tịch biên mất nhà.
Ngày nào cũng sợ chết không đất chôn…
Hiện diện giữa Sài
Gòn bên cạnh những kẻ đồng hương Lê chỉ là một phụ nữ đi làm thuê, hết ăn nhờ ở
đậu ra thuê nhà ổ chuột trú thân. Lê từng phải phụ việc quán ăn, viết quảng cáo
và làm công nhân. Có nhiều tháng Lê thất nghiệp nhưng chưa bao giờ là kẻ vô
nghề nghiệp. Không tìm được một công việc như ý muốn Lê đã đi đan thuê bàn ghế
nhựa cả năm trời. Đôi bàn tay của Lê ngày nào cũng tứa máu. Đêm đêm Lê ngồi gõ
chữ và mong những tác phẩm của mình có đời sống dài lâu. Rồi Lê nhận ra mình
trở thành mục tiêu của những con thú khác, man rợ hơn, thèm xé xác người đàn bà
vẫn sớm vác ô đi tối vác về, quẩn quanh khắp phòng trọ, chợ búa, thỉnh thoảng
ngồi quán nước và ăn cơm bụi. Lê cũng mới chỉ như miếng mồi trước những con thú
ăn thịt đồng loại. Chúng chưa kịp tấn công Lê vội xa chạy cao bay. Thời ở Huế
không khó chịu nhưng chưa có chi vui: Lê dịch chuyển từ tuổi mười bảy đến hai
mươi khá nhanh. Lê trong mắt Huế chỉ có mái tóc dài và cái cười ngây thơ. Đôi
mắt nhìn cái gì cũng thấy lạ lẫm, chưa dính với anh nào – Phải đến bây giờ Lê
mới suy nghĩ nghiêm túc là hơn ba mươi tuổi mà mình vẫn không dính mắc một mối
tình – thuở đó thì Lê đôi mươi và nghĩ tưởng mình chưa gặp một người mình thật
lòng yêu.
Ông già ấy ở
bên kia sông Đuống, ông hơn Lê ít nhất cũng trên năm mươi tuổi. Thơ ông
hay chỗ nào kia chứ! Có nhiều bài được đưa vào sách giáo khoa dạy ở trường phổ
thông. Sau này ông còn được nhận giải thưởng nhà nước và là nhà thơ Việt Nam
được khoác vòng nguyệt quế bởi là nạn nhân vụ Nhân văn giai phẩm động trời. Ông
từng bị tù và nghe đâu khi được phóng thích ông còn xin được tiếp tục ngồi tù
để viết kiểm thảo. Trông ông hom hem và tội nghiệp lắm nhưng vẫn cứ được tôn
vinh nhà thơ lớn. Lê không nhận lời đi uống cà phê với mấy chàng sinh viên mà
lại lên tận nhà khách của hội văn học nghệ thuật Huế để nghe ông nói chuyện,
đọc thơ. Ông ta làm như đã phát hiện ra một thiên tài khi đọc thơ Lê. Lúc
đó trong Lê xảy ra một vụ nổ lớn. Ông ta chỉ vẽ cho Lê ra Hà Nội học. Những
thần đồng thơ ca đất Bắc đều học ở Trường Viết văn Nguyễn Du. Gần hai mươi năm
sau viết thư cho thi sĩ Trung ở Sài Gòn Lê kể một anh bạn cùng lớp người Ninh
Bình lớn hơn Lê mười lăm tuổi, được vinh danh quái kiệt sông Đà vì mất việc vội
chuyển về học cùng khóa với mình ở trường Viết văn. Anh ta bảo Lê ra học Hà Nội
là sai lầm vĩ đại, anh ta còn hỏi Lê trông chờ gì ở cái xứ Bắc kì ăn rau muống
lì như trâu. Mà Lê đâm lao phải theo lao. Ở Trường viết văn Nguyễn Du buổi vãn
chiều xế bóng của những giáo sư hàng đầu sáng lập nên Lê chẳng học được gì
ngoài cách đối phó với đám đông. Sau thời gian trường bị sáp nhập vào Đại học
văn hóa. Mà cái khoa viết văn trường Văn Hóa và khoa ngữ văn trường sư phạm
chẳng khác nhau mấy. Lê thất vọng đến không muốn viết cho bạn học ở Huế một bức
thư. Lê vẫn biết những cây bút gạo cội xuất thân từ trường Viết văn như Dương
Thu Hương, Hàn Vũ Hùng… bị cấm xuất bản. Đọc họ Lê vẫn thấy mình không thuộc hệ
thống đó.
Ôi tuổi hoa niên!
những ước mơ hão huyền và những chân trời vô định. Khi rời bỏ Huế, Lê quên luôn
khát vọng học hành đỗ đạt để làm ông nọ, bà kia. Lê cũng xóa nhòa bóng hình
Kiên. Lê yêu anh ư? Không hẳn. Kiên chỉ là một anh chàng Lê từng
mơ tưởng. Đứa con gái học sư phạm như Lê chỉ mơ yêu được một chàng trai
học y và thấy đó là đối tượng chọn lựa số một. Lê chẳng muốn ai biết nỗi lòng
Lê. Chàng cũng người Duy Xuyên, học y năm cuối, anh của đứa bạn cùng lớp với Lê
thời phổ thông. Lần đầu được anh chở bằng xe đạp từ ga Huế về trường sư phạm Lê
tràn ngập niềm vui. Lê mơ được anh yêu vì với Lê anh chững chạc, mạnh mẽ và quá
người lớn. Nhiều năm sau này Lê được Đôn tỏ niềm yêu mến nhưng dù Đôn lớn hơn
mười mấy tuổi nhưng sao lúc nào cũng nhỏ mọn trong mắt Lê.
Không
gì khó quên hơn cái kẻ khuấy động tình cảm đầu đời
trong mình mãnh liệt. Phải chăng sự ân cần của một bác sĩ tương lai, vẻ hào
hiệp cộng chút đa tình khiến Kiên hấp dẫn Lê thật nhanh, rồi để lại nơi Lê bao
niềm lưu luyến. Anh trọ học nhà một ông cán bộ tỉnh và là gia sư cho hai con
ông. Lê chỉ biết các quan hệ của anh ở quê nhà nhưng không biết những quan hệ
của anh ở Huế. Một ngày Lê vỡ mộng: hai năm trước anh đã yêu một chị sinh viên
người Huế. Lê biết cách chuyển hoá tình cảm thật nhanh khi hỏi anh về cái
người anh yêu. Họ trông cũng xứng đôi và Lê biết mình không nên nghĩ gì thêm.
Ngày Lê ra Hà Nội, anh đang đợt thực tế. Anh còn phải thi tốt nghiệp và học chuyên
khoa. Không hiểu vì lý do gì anh và người anh yêu chia tay. Sau này lang thang
tìm việc ở Sài Gòn, Lê gặp Kiên. Anh nói: “Em ra học ở Trường viết văn Nguyễn
Du làm gì cho khổ?” – Lê bất cần: “hận lòng cứ hỏi trời già, nỗi oan phong vận
mình ta buộc ràng”. Hồi học chuyên khoa, anh đã nghe cái đám đông ở Huế nhộn
nhạo rằng Lê yêu ông già bên kia sông Đuống và theo ông ra Hà Nội. Anh không
tin và thấy chỉ hơi ghê tởm dư luận. Anh không hiểu nỗi tại sao một bé gái như
Lê chịu đựng nỗi những điều tiếng ấy. Mà họ là ai mới được? Họ là các giảng
viên, giáo sư, văn nghệ sĩ, trí thức, cán bộ, sinh viên. Anh biết Lê chỉ muốn
được anh yêu chứ không phải ông già đáng tuổi ông nội.
Hà Nội cũng là
nơi tái lặp cái điệp khúc Lê yêu ông già sông Đuống mà Lê gọi bằng bác. Riêng
Vũ thì mơ hồ nhận ra Lê yêu hoặc gần như không dám yêu ai đó ở Huế, và cũng
chập chờn đến thế thôi. Lê không e ngại thổ lộ với Vũ rằng Kiên đã yêu người
con gái khác trước đó lớn tuổi hơn Lê. Buồn lòng là anh thực sự chỉ chạy theo
một phụ nữ duyên dáng xứ Huế bởi như mọi chàng trai muốn thể hiện bản ngã cũng
như nhu cầu giao cảm với cuộc đời anh cần có một cô bạn gái. Chị cùng tuổi Kiên
và so với đa số, chị có nhiều ưu điểm hơn. Hai năm sau anh mới biết Lê vì lẽ
những con nhóc bạn của em trai anh chẳng bao giờ được anh quan tâm. Anh có yêu
Lê không? Đó mãi mà là một bí mật của lòng anh.
Hồi tưởng lại những
xúc cảm dịu dàng nẩy sinh nơi lòng mình nhưng tình yêu có khuấy mãi cũng không
thành khối, Lê vỡ lẽ rằng: Lê chẳng yêu được ai vì không ai yêu Lê. Nhưng Lê
mãi yêu xứ Huế thơ mộng. Những người bạn cùng thời sao mà mờ nhạt và đám đông
mới thật là kinh khủng. Đứa con gái hai mươi là Lê đủ sức chịu đựng sự thị phi
là người tình của ông già hơn Lê trên năm mươi tuổi. Vài năm sau ở Hà Nội có
một ông chú một lần mang những đoá cúc Đà Lạt tặng Lê. Một bà bạn cũng hơi hách
dịch diễn đạt một vấn đề hơi tế nhị rằng, người đàn ông ấy giàu. Nếu trở lại Hà
Nội, Lê nên bắt bồ với ông, Lê sẽ được ông cho tiền. Hơn Lê hai mươi ông chưa
thật sự già. Một lần trò chuyện với Duy qua điện thoại Lê khôi hài: “phải chi
ngày xưa Lê yêu Duy, anh là đám hời nhất mà Lê để vụt mất”. Duy cười vui vẻ
khoe anh đã có hai con. Thuở đi học họ nghèo. Họ không dám liều lĩnh lao vào
nhau. Hơn nữa, tình yêu là một vấn đề cực kỳ khó hiểu và rắc rối. Năm xưa thân
ái với Duy ba bốn năm, Lê không thấy tình cảm của hai người thật thiêng liêng.
Nhiều năm sau nhìn lại, Lê tiếc nuối người con trai ấy đã nhiều lần nói là rất
yêu Lê. Vậy mà họ lại thất lạc nhau.
Thuở còn đi học, ba
mẹ Duy phải vay tiền của cả họ vì không muốn anh bỏ dở sự học vì nghèo. Lê chán
cái trường viết văn vì cứ học lại nhiều môn Lê từng học ở Huế. Lê mong chờ
những nguồn năng lượng đủ sức công phá như bom nhiệt hạch. Mấy ông giáo sư già,
quặt quẹo và thậm chí suy tư tưởng cứ đến hẹn lại lên buộc Lê mài đũng quần
trên ghế giảng đường một cách tội nghiệp. Lê lao vào tìm hiểu những điều khác
lạ rồi Vũ, anh bạn lớn tuổi cùng lớp dạy Lê hành thiền để chữa bệnh. Anh ta
từng đi Tây Tạng học thiền và dạy thiền. Anh còn bảo sau này anh sẽ vận động
xây dựng một thiền đường Phật giáo Tây Tạng. Nhiều kẻ bảo Vũ rao giảng tà đạo.
Lê không biết tại sao Vũ cũng vào học trường viết văn. Vũ bị công an bắt ở Sài
Gòn vào một đêm khuya, giữa lúc vợ sinh đứa con trai thứ hai. Ra tòa Vũ lên án
tội ác của chế độ nhà tù, còn bảo phiên tòa xử anh là sự bịp bợm và cương quyết
chống án. Cái chết của Vũ ám ảnh Lê không thôi dù gần năm năm sau vợ Vũ đưa hai
đứa con sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Một người đàn ông tu thiền theo
phật còn bảo Lê rằng: “Ai thực hành Bát Chánh Đạo đúng tinh thần của Đức Phật
dạy là chánh đạo, không thực hành đúng Bát Chánh Đạo thì tà hết(!)”. Nhưng rồi
biến mất khi Lê hỏi “vậy còn Chánh pháp là gì? Sao gọi Phật pháp, chánh
pháp?”
Ngày nào đó
gặp lại Thành chắc chắn Lê sẽ nói với anh rằng người duy nhất mà Lê
mong được gặp lại là anh. Mới bước chân vào trường viết văn, đám đàn bà
của xứ Bắc Hà bắn vào Lê cái sự đố kỵ và dư luận xấu cùng những lời bịa tạc
kinh tởm. Hễ Lê phản ứng và buồn nôn là bị cười là “ốm ghén”. Gần gũi ai Lê
cũng tưởng họ giương nanh vuốt vào mình. Vũ lúc đó chưa thật thân như sau này,
mới gặp, Lê thấy anh có vẻ ngoài của một lãng tử và Lê rất ít chuyện trò với
Vũ. Lê cô độc và hay lang thang. Thành tìm đến và cùng Lê đi khắp các tỉnh miền
núi phía Bắc. Họ quen nhau trên chuyến tàu tốc hành Nam Bắc trong lần đầu Lê
đến thủ đô và kết thân với Thành rất nhanh? Anh rất tinh ý và hay khuyên Lê
cảnh giác với cô này, đề phòng với cô kia. Một cô bạn bằng tuổi Lê quê Hải
Phòng có cái gì tráo trở làm Thành hiểu đó là con người mà Lê không nên giao
tiếp. “Con gái Hải Phòng giang hồ khét tiếng” – anh nói, rồi anh điểm danh vài
cô người Hải Phòng từng cầm đầu các đường dây buôn người, chuyên dụ giỗ, mua
chuộc, bắt cóc phụ nữ nữ và trẻ em bán sang Trung Quốc.
Lê thấy vui vì anh hơn Lê mười tuổi, anh
khá thành đạt và chưa vợ, nhưng Lê không yêu anh, không cảm nhận được sự khác
lạ khi anh xúc chạm vào mình. Anh nhìn vào mắt Lê làm bộ như hờn ghen rằng sao
có lắm gã đeo đuổi Lê thế? Lê thấy buồn cười và chọc anh rằng có nhiều người
yêu Lê lắm. Anh hể hả như thể Lê sẽ cho rơi cả đám.
Thành thường xuyên
công tác tỉnh, anh làm việc tại một cơ quan thuộc bộ xây dựng, hàng tháng anh
mới về Hà Nội. Một hôm Thành đến, cả nhóm của Lê đang tranh cãi về chuyện tiền
nong – lúc này Lê với hơn chục tên khác vây quanh Vũ, theo Vũ ăn chay, ngồi
thiền. Lê bảo hết tiền không biết ngày mai đến cuối tháng ai lo nổi cái ăn cho
cả nhóm. Vũ huỵch toẹt: chỉ cần đủ tiền mua gạo, ăn với muối cũng được. Lê
chẳng bao giờ có tiền để mua sắm những món ngon.
Đêm đó, Thành
chở Lê dạo phố. Qua đường Cổ Ngư, những đôi tình nhân quấn vào nhau.
Thành bảo: mình dừng xe uống nước nhé! Lê lắc đầu, nói khẽ: “về thôi anh!”.
Thành hỏi: “sao em nóng thế!” Lê không biết nói gì nhưng lòng nguội lạnh. Hồi
đó, và mãi đến giờ, chưa bao giờ Lê biết đàn ông yêu và chiều chuộng ra sao. Lê
cũng không biết Thành có yêu thương Lê nhiều không? Không ít lần Thành bảo: “em
cần tiền nói anh biết nhé!” Bao giờ Lê cũng cần tiền nhưng chưa lần nào Lê nói
điều đó với Thành. Bạn cùng lớp với Lê mở miệng ra là “tiền, tiền”. Cả thế giới
quanh Lê rùng rùng trong cơn sốt tiền. Cô chỉ thấy mặt trái của xã hội: người
nghèo chết đói. Gia đình Thành thuộc giới nhà giàu ở Hà Nội. Cha của Thành tập
kết ra Bắc và đang là quan chức thuộc bộ xây dựng. Ông có hàng trăm lô đất. Anh
ruột Lê cũng dân xây dựng nhưng là phu phen: suốt đời đi đổ bê tông, làm cầu
đường, phụ hồ, thất học lười biếng và hung ác, y dành giật cướp đoạt mọi thứ
của cha mẹ và để cho Lê gánh vác việc phụng dưỡng, nhưng đó là sau này, khi mẹ
cô đau nặng qua đời, còn cha cô đơn độc trong tuổi già. Lê nuốt miếng cơm của
cha mẹ không nổi vì sợ anh. Lần cuối cùng Thành đến chỗ Lê là khi anh bảo vệ
luận án tiến sĩ. Anh muốn Lê đến dự. Lê vừa tìm vay chút ít tiền đủ chi tiêu dè
sẻn trong 3 ngày.
Lê không đến
dự lễ bảo vệ luận án tiến sĩ của Thành.
Lý do thật đơn giản. Lê không mượn được tiền để mua một
bó hoa mừng tặng anh. Thành ôm chiếc cặp bóng loáng, buồn rầu lên chiếc xe
mới mua. Lê nói dối anh là Lê phải đi thực tế, vé tàu đã đăng ký. Tối hôm sau
anh đến giữa lúc Lê nằm đọc sách, Vũ ngồi cạnh giường ca cẩm chuyện vợ mới sinh
con đầu lòng. Anh ta cãi nhau với mẹ và đem vợ con ra Hà Nội. Anh gửi vợ con ở
nhờ nhà người bạn. Anh năn nỉ Lê đến giúp vợ con anh và hứa không được cho người
khác biết. Lê và Vũ bắt tay rồi cười. Thành nhìn thấy họ bắt tay nhau cười vui
vẻ mà lắc đầu, quay về, từ đó Thành không bao giờ đến chỗ Lê. Ngày 8.3 năm đó
Lê nhận được một cánh thiệp với lời chúc hạnh phúc của Thành. Bao lần Lê mong
gặp lại Thành nhưng anh biệt tăm thật sự. Trong mắt đám bạn Lê là đứa con gái
khác lạ. Người ta có thường khổ đau quá mà phân tâm thành một thứ người lập dị
hoặc tự đối ngẫu không? Ít khi Lê nhớ về Thành vì anh chắc chắn là thành đạt và
giàu. Lê không cần bận tâm, thương nhớ về một người con trai giàu, thành đạt,
chưa biết thiếu đói rét như mình. Thuở xưa có lúc bên anh, Lê hỏi: “sao anh ít
khi ghé trường em chơi!” Anh bảo bận. Anh đã đi làm nhưng vẫn phải tranh thủ
học lên cao hơn. Rồi mẹ anh đau. Họ đã từng cùng nhau vượt biên giới, sang tận
Trung Quốc mua thuốc cho mẹ anh. Nhiều năm sau này, cuộc sống ngày càng cơ cực,
Lê muốn có một người như Thành bên cạnh để nói rằng: anh hãy ôm em, giữ chặt
em, che chở em.
- Lê biết Lê
giống ai không? Có lần Thành hỏi.
Lê lắc đầu có cảm
tưởng anh sẽ bảo Lê giống một người kì quặc nào đó như Lê hay đùa anh
nhưng sợ Lê phật lòng hay sao đó mà Thành bảo rằng Lê trông rất giống ca sĩ Lê
Dung. Thì ra anh yêu Lê Dung bằng một thứ tình yêu gần như là thần tượng. Từ
Thành, Lê mê nhạc kịch opera, biết Lê Dung hát opera hay nhất Hà Nội. Đâu bằng
tuổi Lê bây giờ hoặc lớn hơn chút ít chị chết vì bệnh ung thư. Lê chưa yêu ca
sĩ nào tài hoa bạc mệnh như chị. Lê không yêu Thành và có lần Lê tức giận, Lê
bảo chẳng bao giờ là Lê Dung thứ hai. Mười mấy năm sau, đau khổ lắm Lê mới nhận
ra rằng Lê nuối tiếc sao một cuộc tình với Thành không nẩy sinh. Chưa gã đàn
ông nào xử sự với Lê theo cách của Thành. Yêu là gì? Những kẻ vẫn thơn thớt
rằng yêu Lê đã làm gì cho Lê kia chứ. Họ thèm muốn và toan tính chiếm đoạt được
Lê là trở mặt. Họ chưa bao giờ biết Lê cần tiền, Lê thèm một sự nâng đỡ những
lúc kiệt quệ vì bệnh, Lê cô độc. Đôn thường khen Lê thánh thiện và trong sáng.
Nhưng Đôn có thể tốt với cả thiên hạ còn với Lê Đôn nghĩ có hèn hạ cũng không
sao?
Một điều gì
đó hết sức lạ lùng làm thay đổi Lê hòan tòan vào cái lúc cô ở trong tình trạng
quẫn bách. Hắn như một gã đàn ông bước vào cuộc đời một người đàn bà độc thân.
Hắn nói là biết chắc Lê còn trẻ, “Em chừng mười bảy nhỉ?” hắn nhìn Lê nói như thể
Lê có vẻ vậy thôi, thực tế Lê lớn tuổi hơn nhiều. “Em làm gì?” “Tôi viết văn”.
“Đọc văn em tôi có ấn tượng em đang tuổi ba lăm, ba sáu. Ngoài ba mươi thì tối
đa chừng đó. Lớn hơn nửa thì phải gọi là U40. Vâng! Chính xác. Nhưng em có thấy
em có khả năng phân tâm hoặc tự chuyển hóa tâm thức không?” “Có thể, nhưng mà
sao kia?” – “Em là một con người lưỡng diện. Trong em có hai cô gái: Lê lớn và
Lê nhỏ!” – Tôi đang kén vợ, nếu phải chọn giữa hai tôi chấp nhận Lê nhỏ. Tôi
chỉ yêu con nít. Tôi không yêu đàn bà!”
Lê cười khanh
khách: “đi mà tìm con nít khắp trời đất rồi yêu! Tôi không có thời gian để làm
một bài thơ đừng nói là chạy theo một ông đang kén vợ”.
- Thế nhưng cô nghĩ
sao nếu tôi giúp cô tiền bạc và cưới một cô gái am hiểu mọi chuyên ngành văn
hóa như cô!
Lê chua chát “nếu
không phải lo âu cơm áo gạo tiền, vì anh, tôi sẽ từ chối!”
Hắn bỗng
giận dữ: “Nè, cô nhỏ! Hưởng cái chó gì mà đến cuộc đời này. Con gái người ta
ngực mới nhu nhú là lấy chồng rồi”. Lê nổi sùng vì con người khác thường đó xui
Lê duỗi tóc, tô phết, là lượt áo quần và ra đường, liếc ngang liếc dọc xem có
anh nào nhìn mình thì nhìn lại, làm sao cho họ hiểu là mình đang đi tìm đàn
ông. Hắn bảo hề nhất là những người đàn bà như thế nhưng họ làm cho đàn ông
điên lên, đàn ông chạy theo họ, ỡm ờ, ẽo ợt, uốn éo kiểu gì rồi cuối cùng cũng
quấn vào nhau, quặp thằng giàu thì tranh thủ xin tiền thế nào hắn cũng cho, mà
hắn không cho thì đá bay, tìm thằng khác. Lê lắc đầu, Lê chưa bao giờ muốn làm
những việc như vậy: “mi chờ một thằng tử tế hả? Nói cho mi biết: hoàng tử, quân
vương, đại gia nào cũng chỉ muốn tìm gái đẹp, rước về hoàng cung, ép vào hậu
điện để thoả sức mây mưa. Đàn bà con gái nào đặt chân vào chốn cung đình thì
coi như cập bến hạnh phúc. Mà mi nghĩ xem, vừa bốn năm tuổi là mi đã mơ mộng
trở thành hoàng hậu, công chúa, mệnh phụ... được đón rước, được sống hạnh phúc
bên ông hoàng đời mình. Đứa con gái nào cũng mơ chuyện ái tình ngay từ lúc hỉ
mũi chưa biết chùi sao cho sạch”. Lê bảo hắn: “lớn lên thì không mơ chuyện yêu
đương nữa, chỉ nên đem tình ái ra cười cợt!”. “lớn lên ấy à!” Hắn đong đưa như
thể Lê sẽ theo hắn ngay khi hắn nêu ra cái sự thật tàn nhẫn: “lớn lên cô gái
nào cũng bị một hoặc nhiều thằng đàn ông đến dụ khị. Hắn nói những lời đường
mật, hắn chạy vòng vòng như con gà trống giữa một lũ gà mái. Vậy là cô nào cũng
mơ về hắn đến nỗi trong lòng các cô hắn không thật là hắn như trong đời. Hắn
chiếm đoạt xong sẽ ỉa vào cô ta, hắn chửi mắng, nhục mạ làm như thể vì cô ta mà
hắn hư hèn, đê tiện, đĩ thõa. Mà hắn là ai mi biết không? Hắn là mọi thằng đàn
ông bất kì trên đời này. Có thể hắn khốn nạn với đứa này nhưng không khốn nạn
với đứa khác, hắn vẫn cứ khốn nạn. Cô em yêu quý! Khôn hồn cô em đừng mơ tưởng
đến ai. Đặc biệt đừng mơ tưởng đến những thằng như tôi”.
Lê nói với hắn Lê
yêu quý kính trọng hay trông chờ hắn thì Lê cũng chỉ mong lúc nào Lê cũng là
Lê. Một phụ nữ sẵn sàng làm những công việc trong khả năng mà mình có thể để
mưu sinh. Lê sống khó nhọc và nghèo khổ. Lê chỉ mong một cuộc sống nhẹ nhàng và
sung túc hơn. “Tiếng tăm! Thế mi không muốn có chút tiếng tăm ư!”
Hắn cười, bỗng độ
lượng quá! Lê bộc bạch: “Tôi đã te tua với trăm công ngàn việc trên đất nước
này. Gần mười năm im lặng như bước vào cõi chết. Ở anh còn điều gì khác nữa
không?”
Hắn ném cho Lê một
thư mời tham gia một trường viết văn quốc tế. Lê bảo trên xứ sở mình cô đã bị
đóng đinh câu rút! Đi thì về đâu?
Ý thức Lê vẫn vận
hành như thể, Lê sẽ tri kiến được những gì sắp xảy ra. Thời tương lai không
tuyệt vời như Lê trông đợi mà chất chứa những lo âu, hiểm nguy, tai ương và tội
ác, độc dược nhưng hy vọng ai cũng nhận ra dù quá đỗi muộn màng.
Lê
Thu Thùy
NHỮNG ĐỨA CON CỦA MỘT THIẾU PHỤ
*
Đám người đang ồn ào chợt im
bặt khi Trà xuất hiện. Bảo lia cái nhìn khó chịu một lượt khắp người Trà. Vợ
chồng anh Ba liếc nhau đầy tội lỗi. Trà tránh ánh mắt nặng nề của chị Tàu. Trà
biết mình có mặt không đúng lúc. Cô cũng biết mình đang là trung tâm của câu
chuyện đang đến hồi nham nhở. Lẽ ra Trà đừng quay lại nơi đây. Ban nãy anh Hai
kết toán tiền thu chi sau đáng tang. Trà thoáng nghĩ: giá như mình chết!
Bỗng nhiên Trà
hình dung lại mẹ và tim như nhói lên bởi một lưỡi dao vô hình xuyên thẳng. Giá
như cô có được sức chịu đựng của mẹ, dù chỉ một phần thôi. Mẹ bao giờ cũng là
người bị đau nhiều nhất những cơn cớ của mỗi người trong cái gia đình vốn lắm
sự bất cập bởi khó nghèo, cơ cực và tối tăm. Vâng! Tối tăm. Trà không thể dùng
cách gọi khác hơn bởi vì trong đại gia đình này ngay từ thời niên thiếu cô đã
thấy nó là địa ngục. Bây giờ chẳng khá hơn: sự so bì tỵ nạnh, thói hợm hĩnh hơn
thua, mưu toan, loại trừ, ghen tuông, những cuộc cãi vã triền miên mà người nào
cũng cho mình đúng, và dù không đúng thì cứ hễ có một cuộc xung đột thì bao giờ
kẻ trong cuộc cũng muốn mình hơn. Không ai tiếc lời để đối phương phải tức,
phải khổ đau, phải uất ức, phẫn nộ, thậm chí có phát điên lên vẫn chưa thể làm
hả dạ kẻ muốn thắng cuộc.
Mẹ vẫn thường bỏ
lên chùa vào những đợt xung đột như thế. Còn cha vào những lúc như thể khổ lắm,
tủi nhục lắm. Cha chỉ biết cứ vài ba ngày thì lầm lụi lên thăm mẹ. Hai ông bà
già ngồi trò chuyện. Họ nói chuyện gì Trà không bao giờ biết. Sống cùng nhau
hơn năm mươi năm và thương yêu nhau nhường ấy thì có biết bao nhiêu điều để
nói. Con cháu có làm được chút gì cho cha mẹ, thậm chí mua một miếng ngon mời
cha mẹ xong là cứ tưởng mình hiếu thảo với cha mẹ lắm, công mình to lớn lắm.
Hơn tất cả những người khác trong gia đình, con tim Trà đủ biết tan nát trước
những cay đắng của mẹ cha. Nhưng cô con gái nghèo chẳng làm gì được cho ai. Ở
cái vùng quê mọi thứ tưởng chừng yên lành này hãy còn lắm mọi rợ, ngu dốt, độc
địa, khát máu, thú vật. Dường như người ta nghiễm nhiên cho phép mình đê tiện,
tàn hại nhau, vậy mà rồi vẫn cứ đĩ miệng “tôi tốt”. Vẫn tưởng mình thiện tâm
hơn những con người ở nơi khác. Ừ, thì họ chưa bao giờ sát nhân, chưa nghiện
ngập, chưa làm những việc đồi bại, đồi trụy... thế nhưng trong mỗi gia đình,
nhà nào cũng như có sẵn một con rắn độc bảy đầu lúc nào cũng rình rập không mổ
kẻ này thì cắn kẻ kia để rồi nạn nhân bất thần gào thét, kêu cứu nhưng đâu ai
đánh thức được thói vô cảm. Kẻ không được cứu có thể sẽ chết hoặc dị dạng,
khuyết tật và hắn sống càng lúc càng khó nhọc hơn. Trà cũng chỉ là một nạn nhân
của một bầy rắn độc. Cô không thể không đau lòng vì người làm cho cô chết trong
đau khổ trước tiên là những người ruột thịt. Nhiều lúc cô muốn nằm xuống, hai
tay buông xuôi quên hết sự đời nhưng rồi như còn nặng nợ với cuộc đời, cô tiếp
tục bơi lội trong địa ngục.
Anh Ba! Mới nghe qua tưởng
tình thâm cốt nhục. Cả chục lần y siết cổ cô, có một kẻ dấu mặt hàng giờ a lô,
hắn hất cái mỏ là y tuôn theo răm rắp. Hắn muốn gì. Hắn muốn y bóp cổ đứa em
ruột tên Trà. Hắn biết vợ y lắm, vợ y làm cái việc là hễ Trà nói gì, làm gì, đi
đâu là mụ phải a lô cho hắn, hắn sẽ sai người theo Trà báo hại. Có lần Trà đến
một ngôi chùa có cậu em con ông chú đang trụ trì, đám cô hồn trời đánh bu theo.
Chúng a lô cho hắn, việc của hắn là gọi điện thoại ngay lập tức đến chị dâu,
anh ruột Trà, gã anh trai bất nhân được hắn cho biết là Trà đang theo trai, Trà
đi đâu, làm gì hắn cũng nghĩ là Trà theo trai, hắn vừa lưu manh vừa bệnh hoạn
vừa biến thái. Có thể hắn từng làm việc cạnh Trà hàng năm trời và thèm khát
Trà, hắn tưởng Trà yêu hắn, thuộc về hắn. Hắn như con quỷ khi hiểu ra Trà có
một đời sống khác, có những tình cảm khác, và nếu như việc cô từng muốn làm vợ
một người đàn ông, hoặc cô đã yêu thương một đứa trẻ như con đẻ là điều hắn
không thể chấp nhận, bỏ qua, tha thứ (tha thứ thế đó – trong cái đầu óc hẹp
hòi, nhỏ nhen, ti tiện chứa đầy ghen tuông bẩn thỉu đó vừa thèm khát một đứa
con gái trẻ trung nơi Trà) vừa như con chó điên chỉ muốn cắn chết Trà và khi
hắn phát hiện ra Trà rất nhiều bạn và hơn nữa số bạn của Trà là đàn ông thì hắn
chỉ có thề hiểu Trà đi đâu, làm gì cũng là đi theo trai, dan díu với tình nhân
và hắn phải giết Trà bằng được.
Anh Ba trước kia không đên
nỗi nào, từ khi bị thằng lưu manh đầu độc, vợ y thì mê chết hắn và mụ không
ngừng rót vào lòng chồng nỗi hận thù với cô em chồng vì có lần cô dám tát vào
mặt mụ và dần dần mụ biến anh ruột Trà thành kẻ sát nhân.
Không ai hiểu tại sao Trà bị
anh ruột và anh rể vây đánh. Y a lô cho một lũ đầu trâu mặt ngựa vào tận giường
ngủ của Trà, đang lúc Trà nằm bên máy vi tính nhập liệu các mã bảo mật cho một
Công ty việc làm nhanh. Một lũ cô hồn nách thước, tay dao xông vào có sự hướng
dẫn của gã anh ruột, chúng đánh Trà đến hộc máu miệng, chúng trói chân, trói
tay Trà rồi gọi ô tô đưa thẳng vào nhà thương điên. Hơn ba tháng trời Trà bị
nhốt cùng những con bệnh tâm thần không còn tri giác, thằng lưu manh không
ngừng dùng điện thoại hướng dẫn bọn bác sĩ, y tá vô lương tâm hành hạ Trà bằng
đủ mọi cách. Chúng móc ngoặc với nhau. Ngày nào cũng có một gã trời đánh mặt
blu trắng đến chỗ Trà nhắc đi nhắc lại một chàng trai có tên là Thi. Cứ như cái
thói dã man của bọn này thì cái lần cô vào chùa chúng cố tình xuyên tạc là cô
đến chỗ Thi. Cô với Thi chưa bao giờ yêu nhau. Cô chỉ gặp Thi một lần trong đám
cưới em trai người bạn. Nhưng không ai hiểu tại sao lòng ghen tuông độc ác và
thói mọi rợ khát máu của bầy ma quỷ đẩy Trà đến cái chỗ kinh tởm nhất trần gian
này. Trà phải tính sổ với con quỷ ăn thịt người kia sao? Sức đâu cô làm nổi
việc đó. Đằng nào anh Ba của Trà cũng cũng nhơn nhơn bộ mặt ma quỷ thay thế cái
mặt nạ của thằng lưu manh. Y đã làm cho mẹ Trà đau khổ khi chứng kiến con gái
bị giết một cách tinh vi đã phát bệnh nặng, và gần ngày mẹ mất, một bác sĩ nhân
đạo chịu khó nghe Trà bày tỏ sự thể mình bị anh ruột và bầy nguời nham hiểm hại
anh ta mới vội vã can thiệp để bệnh viện thả Trà ra. Nếu không Trà đã chết như
một người điên. Trà vừa kịp về nhà đã lao ra bệnh viện chăm sóc mẹ. Vài tuần
sau thì mẹ qua đời.
Chị Nghĩa không phải chịu
những nỗi đắng cay như Trà dù rằng hồi mới về nhà chồng chị cũng bị cười chê
không ít. Thói đời là vậy, hễ thấy người ta hơn mình là ganh ghét còn thua mình
thì khinh khi. Thưở xưa, khi mọi người ai cũng nhàn rỗi sau những ngày đồng
áng, vụ mùa vất vả, vào những dịp ngồi lại với nhau trò chuyện thôi thì cũng
lắm trò vui, đặc biệt là vào những ngày giỗ trong các gia đình. Bây giờ mọi nhà
đều giàu hơn xưa nhưng táng tận lương tâm, người ta chỉ muốn tỏ một thái độ để
giết chết nạn nhân thôi. Trà biết mình sống mà như chết.
Lúc này đây Trà thèm ở một
nơi nào đó chỉ riêng mình cô thôi. Phù hợp với cô có lẽ là một ngôi chùa càng
ít người tới lui càng tốt. Hôm kia cô lên chùa, một bầy người như lũ thần trùng
ăn xác chết, ăn xương khô bám theo cô. Cứ nghĩ đến ngôi nhà với vài người ruột
thịt cũng lắm tội ác là Trà chẳng muốn về đó. Ban nãy đã không nghe theo lời
chị gái, Trà cầm hồ sơ đi xin việc bị chị trề môi. Còn đứa cháu đang làm việc
tại một cơ quan tư pháp châm chọc Trà rằng: “thời buổi này dì đi kiếm việc làm
ở các cơ quan nhà nước mà vác bộ hồ sơ chay thì có mà chờ đến tết Công gô. Cháu
phải mất số tiền mà tính theo lương thì phải làm việc ba năm mới thu hồi đủ
đó”. Nghe nó nói Trà như thấy có ai chẹn ngang cổ họng. Trà nghĩ đến cái hồi
còn ở Sài Gòn, làm việc cho mấy doanh nghiệp tư nhân mặc dù công việc không
đúng chuyên môn và tuy bị ép dầu, ép mỡ, vắt chanh lấy nước nhưng cô không phải
chạy chọt biếu xén. Lại nữa, đứa cháu học đại học pháp lý mới ra trường rất có
thể nói dối cô. Dù sao cô cũng biết quá rõ, không chạy tiền thì còn lâu nó mới
được vào biên chế của cơ quan ngay lập tức. Nhưng cô không có ý muốn chạy chọt
khi xin việc. Mà có chạy cũng chưa chắc được.
Trà không rõ sáng nay cha
nói thật hay móc máy: “Tao chết đến nơi rồi. Mi đi đâu đi đi!...” Nhìn cha nằm
liệt trên giường Trà ra khỏi nhà một ngày nghĩ đến cha là cô hốt hoảng. Về nhà
không thấy cha là cô vội đi tìm. Cô đến nhà chị Tàu cầm tạm mảnh đất mà cha cho
riêng cô để cất một túp lều mấy năm trước. Cô đã sống yên ổn trong túp lều kia
mấy năm. Một lần, cơn bão lốc nari và mưa lũ đã làm sập lều, cô không thiết
dựng lại. Trà phải cầm tạm mảnh đất lấy nửa cây vàng.
Chị Tàu gọi cha cô bằng cậu ruột. Mấy năm nay
chị phất lên như diều gặp gió. Chồng chị vừa xây tòa nhà ngót nghét ngàn cây
vàng. Ngày xưa chị Tàu nghèo lắm, những ngày giáp hạt, thiếu ăn cả nhà thường
sang ăn uống chung với ba mẹ Trà, có năm tình hình đó kéo dài cả tháng trời.
Khi anh Tú chồng chị Tàu mở công ty, chị Tàu về nhờ cha thế chấp vườn nhà vay
tiền giúp chị làm vốn. Cha bao giờ cũng sẵn lòng với đám cháu ruột.
Bây giờ cha già yếu lắm rồi.
Vườn nhà chia ba xẻ bốn cho lũ con mỗi đứa một thửa, cha chẳng còn gì ngoài
tuổi tác. Chị Tàu chê cha vô phúc. Sinh một đàn con ăn tàn phá hoại, chỉ biết
báo đời, báo kiếp cha mẹ. Trà cũng biết mình cùng đường mới tới chị Tàu.
Có một người anh như anh Ba
thì thà không có còn hơn. Trà tuyệt vọng khi thấy bên ngoài thói gia trưởng vô
học anh ruột là tên ác ôn tàn hại cô đến điêu đứng. Giờ đây trong tim Trà chỉ
còn nỗi hận thù vợ chồng ông anh tàn độc.
Có lần bà chị dâu đay nghiến:
- Học
cho lắm vào rồi chẳng biết làm gì cho ra hồn, ra vật. Sinh viên ra trường thất
nghiệp đứng đầy đường, trèo cao để rồi té nặng, sống dở chết dở. Đi mò cua bắt
ốc bán cũng ra tiền chứ cần gì phải học(!)
Trà hết biết với bà chị dâu
quỷ quyệt ấy, một người anh khác của cô đã từng bao phen muốn bỏ xứ đi. Chị ta
không thôi rủa vào sự học của Trà. Ít nhất ở cái xóm Chó này Trà là người học
hành hơn hết.
Chị Ngà có lần bóng gió:
“con Thoa nó bỏ chồng rồi. Từ hồi trở thành thư ký riêng của ông Hưng. Được ông
ấy cưng, nó như bà hoàng...”
Thoa nổi tiếng bởi sắc đẹp
gái một con, Trà và Thoa là bạn chung học thời phổ thông. Học xong mười hai
Thoa lấy chồng. Một thiếu gia o bế cô nàng suốt mấy năm nhưng khi rước nàng lên
xe hoa về nhà mình thì cứ cơm không lành, canh không ngọt bởi mẹ chồng ghét dâu
còn Thoa kiêu kì như một mệnh phụ. Con trai Thoa lên mười thì nhà chồng sa sút.
Thoa tìm việc làm. Tay giám đốc sở giáo dục gấp đôi tuổi Thoa bất chợt phải
lòng Thoa ngay trong giây phút đầu tiên cô nàng dự phỏng vấn tuyển thư ký
riêng. Không khó khăn gì Thoa được nhận vào làm và nhanh chóng trở thành vợ ông
Hưng. Chị vợ lớn cùng ba đứa con đau khổ bởi cảnh nhà tan cửa nát. Đứa thì lìa
đời trong bệnh tật, đứa bỏ nhà đi tu. Bản thân chị ta cũng đi tu và ông Hưng
nghiễm nhiên cưới Thoa và rất hãnh diện với người đời khi có cô vợ sắc nước hương
trời.
Chưa bao giờ Trà là một cô
gái đẹp, là tâm điểm để mọi ánh mắt đàn ông dồn vào mà hy vọng làm một cuộc
soán ngôi ngoạn mục như Thoa. Ông giám đốc sở giáo dục sẵn sàng mất chức, ráo
máng cạn tàu với vợ con và tranh đoạt toàn bộ tài sản rồi dắt mẹ con cô vợ bé
vào Sài Gòn tạo dựng lại tất cả. Ông chưa già. Ông nói đã tìm được nửa của
mình, thấy mình có ép vợ, ép con một chút cũng chẳng việc gì. Ở Sài Gòn không
ai biết ông đã đối xử như thế nào với người vợ hiền và đàn con bất hạnh. Còn
Thoa thì vẫn ngời ngợi một tấm nhan sắc để các quý ngài chốn đô thành phải ghen
tỵ với ông Hưng.
Có lần Tâm nói với Trà rằng
nhiều khi người ta phải làm những việc nhẫn tâm vì họ phải suy tính thiệt hơn
cho mình. Xem ra Tâm có vẻ thông cảm với Thoa trong cuộc tranh giành này. Không
phải Thoa chỉ đẹp mà còn hơn người một thủ đoạn. Trà biết Tâm nói vậy vì ý thức
vào nhan sắc của mình. Ai cũng biết là Tâm rất đẹp. Tâm không đa đoan như Thoa
đâu. Bao giờ Tâm cũng được chồng yêu và với bản tính hiền lành, chăm chỉ, Tâm
gây thiện cảm trong lòng những ai biết Tâm. Trà có lần đùa rằng, mình mà là đàn
ông, ngay từ khi còn chung học, mình sẽ phong tỏa Tâm cho riêng mình. Nhưng chỉ
riêng với Trà thôi, Tâm mới thể hiện cái nỗi đau khổ của một phụ nữ nhiều khi
phải làm một kẻ nhẫn tâm:
- Trà có
tưởng nổi không? Suốt đời Tâm cứ ân hận vì ngày xưa đã theo học y chứ không
theo ngành khác như sư phạm chẳng hạn. Giá mà không con cái, không bị chồng
ngăn trở mình sẽ theo một nghề khác. Vứt mẹ cái bằng đại học y vào sọt rác,...
Trà không biết nói sao vì
mấy anh, chị của cô vẫn so sánh, phân bì một cách thảm hại vì Tâm kiếm được
nhiều tiền bằng công việc ở bệnh viện. Tâm đớn đau cho Trà biết mỗi khi phải
giải phẫu những mối tình ngoài ý muốn, cô có cảm giác các thiên thần rời cơ thể
mẹ chấp chới bay, những sản phụ như tên tội đồ suốt đời không quên được tội lỗi
và Tâm khóc. Trà khuyên bạn nên xin sang một bộ phận khác hợp chuyên môn dù thu
nhập ít cũng được. Tâm phân bua: “đáng giá gì cái công việc của một bác sĩ,
nhưng phải chạy chọt đủ cửa mới được phân công vào chỗ làm này. Giờ muốn đổi
chỗ phải chạy bận nữa, mà muốn chạy đâu cũng phải nhờ đến chồng, anh ta lại là
người tích cực chống tình trạng chạy chọt,...” Nghe Tâm tâm sự Trà buồn lắm. Cô
biết công việc của bạn không chỉ có thế. Tâm cũng là một bà đỡ mát tay nhất nơi
cái khoa sản của bệnh viện lớn này. Nhưng Tâm cứ than phiền sao mà ngày càng
lắm người đi phá thai như thể, các anh, các ả không biết đến biện pháp tránh
thai theo ý muốn hay cứ tưởng quan hệ tùy tiện, vỡ kế hoạch thì vào bệnh viện
giải quyết là xong. Trà nói với Tâm rằng ở một số quốc gia có đạo luật chống
phá thai, nhưng ở nước mình thì xem chuyện phá thai như giải pháp nhân đạo. Tâm
không nói gì. Rất nhiều khi không có tiền Trà đến chỗ Tâm vay mượn. Cô vẫn mong
cho bạn chuyển sang một công việc khác như văn phòng hay được đề bạt lên vị trí
cao hơn để khỏi phải “nhúng chàm”, nhưng rồi bạn của cô thì chỉ trông đợi đủ số
năm công tác rồi xin nghỉ hưu. Trà cười buồn. Trà muốn làm việc lắm, cùng tuổi
nhau nhưng chưa bao giờ Trà thực sự làm việc hết mình với nghề Trà theo học như
Tâm. Lúc nào cô cũng như mới bắt đầu vào công việc, chuyện về hưu là cái gì như
là đến tuổi thì hưu mà thất nghiệp như cô thì hưu không lương.
Những cay đắng mà Trà nhận
được bắt đầu từ lúc cô tuyên bố về sống hẳn ở quê cùng với cha mẹ. Trước kia,
khi công việc còn ổn định ở thành phố, mỗi lần về Trà luôn được thăm hỏi ân
cần, hồi đó công ty chưa phá sản, cô tuy phải làm việc nhiều nhưng chưa đến mức
long đong, lận đận cầu cạnh người này, người kia.
Tai họa xảy ra khi cơn bão
lạm phát tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm, Công ty Văn hóa - truyền thông nơi cô
làm phải dẹp tiệm sớm, quyết định về quê của cô là giải pháp bất đắc dĩ. Nhiều
đồng nghiệp của cô không đồng tình nhưng hết phương chọn lựa. Bạn bè đúng nghĩa
của Trà chẳng có mấy ai, nhưng kẻ vẫn xưng là bạn lâu nay tan biến như sương
mai dưới nắng.
Ngày Trà lặng lẽ thu dọn căn
lầu của người anh khác đã vào Sài Gòn để yên ổn viết những cuốn sách theo đặt
hàng của các chủ đầu nậu một đứa bé gái cô bảo trợ ngây thơ hỏi: “bao giờ dì
kiếm được tiền để chu cấp cho con học đại học?” Nước mắt cứ lăn dài trên má
thiếu phụ lắm nỗi truân chuyên. Khi cô về sống với cha mẹ, chỉ mấy ngày mẹ ra
người thiên cổ.
Gần một năm trôi qua, cô
nguôi ngoai những phẫn nộ, căm hờn. Đứa trẻ mà cô bảo trợ đã kịp về thăm cô. Dù
có trả giá bằng sinh mạng cô cũng phải kiếm tiền nuôi nó ăn học. Lòng hiếu thảo
của đứa trẻ đã cứu Trà. Cô vẫn kinh tởm con người, nhất là vợ chồng anh Ba.
Những vết thương lòng không
dễ liền miệng. Trà ngã bệnh. Cô không có tiền nên cuối cùng đành gật đầu chuyển
nhượng tác quyền cuốn tiểu thuyết đầu tay cho một chủ đầu nậu. Cô không khỏi
xót xa rằng bao nhiêu năm ăn học và tích lũy kiến thức, dày công suy tư, xây
dựng và sáng tạo một tác phẩm văn học vậy mà chỉ vì mấy triệu đồng đành nhắm
mắt trao tay đứa con tinh thần của mình cho kẻ khác.
Cô đã giành số tiền nhỏ mọn
cho đứa trẻ trong lần đi thi học sinh giỏi của em. Cô vẫn mong em thành công
trong cuộc đời. Mẹ của em đã chết trong đời này. Cô vẫn tin em coi cô như mẹ và
giờ đây cô nghĩ đến việc dạy cho em gọi cô bằng mẹ dù không bao giờ cô là vợ
của cha đẻ em.
LTT
NGOÀI BA MƯƠI
I
Tòa biệt thự Hà
liên tọa lạc bên bờ sông Sài Gòn, chênh chếch hướng Đông Nam phía hạ lưu sông.
Thêm một buổi sáng bình thường như mọi buổi sáng, những thợ học việc phân chia
các công việc có trật tự và mỗi người tất bật với vai trò của mình. Cuộc sống
trở nên buồn tẻ, thế nhưng tôi vẫn chưa tìm được một chốn nương thân tốt hơn.
Như thường lệ, San vào bếp đốt một điếu thuốc và mỉm cười. Y nhìn đám thợ như
nhìn những con rối. Tôi đọc lại bức thư vừa nhặt được dưới bậc thềm: một bức
hận tình thư! Lời lẽ xót xa, bất lực của một người có học. Nét chữ con gái mảnh
và nghiêng. Cứ theo thuật đoán người qua chữ viết thì cô gái có vẻ yếu đuối và
lệ thuộc kẻ khác, ấy là chưa nói nàng có phần nhẹ dạ và dễ bị lợi dụng. Điều
này thể hiện rõ qua nội dung ngắn ngủi của bức thư không ghi tên người nhận lẫn
ký tên tác giả. Người viết chỉ gọi anh, xưng em.
Tôi đã đọc đâu
đó một đoạn văn có đại ý rằng: “không điều gì cụ thể hơn nỗi đau mà một người
ta hằng yêu thương lại gây ra cho ta, có người phải mất nhiều năm mới nguôi
ngoai những niềm đau và mất cả đời người mới quên kẻ đem đến khổ đau cho họ…”.
Nỗi đau của cô gái không biết sẽ còn kéo dài bao lâu, riêng bản thân tôi một
khi biết đến vô tình đã ít nhiều lụy cảm. Tôi không biết người con gái ấy thế
nào, tôi cố hình dung ra nàng nhưng rồi thất bại, khi tôi chìa bức thư nàng gởi
người yêu cho mấy cô bé học việc chưa mảnh tình vắt vai xem, và cùng các cô
đoán non, đoán già ai là tác giả, cuối cùng cũng như tôi, các cô kết luận:
người yêu của San.
Tôi bắt đầu tò
mò về San, lâu nay tôi sống trong nhà San nhưng chưa bao giờ chúng tôi trao đổi
với nhau dù chỉ là một tiếng chào. Từ lúc biết San là em nghệ nhân Ái Liên, tôi
thích tránh mặt người đàn ông đó. Tôi vốn không quen tọc mạch vào các mối quan
hệ xã hội của người khác, nhất là với gia đình bà Liên. Hơn nữa, tôi không ưa
nổi ai trong số những người em của bà Liên, hễ có việc gì là họ luôn nói với
chúng tôi bằng một giọng hách dịch, mệnh lệnh, cay nghiệt như nói với những con
ở dù San không giống mấy những người khác trong nhà này, San có vẻ giản dị, dễ
gần và chẳng bao giờ ra vẻ chủ nhân của tòa biệt thư như đa số trong gia đình
họ. Mà sự thực thì đây là nhà của anh rể y, một đại gia trong giới địa ốc, còn
San chỉ giống dân lao động phổ thông, chắc chắn y không có tên trong số những
người được hưởng thừa kế của anh rể. Không
hiểu sao tôi vẫn cho rằng San là một con người thiển cận, chắc điều này phát
sinh từ mối định kiến với Ngọ, chị gái của San, một phụ nữ cay độc, nanh nọc và
thô thiển lại hợm hĩnh. Có một thời tôi tưởng mình không bao giờ dây vào những
kẻ như họ hoặc chỉ giao du với những người khác họ về mọi phương diện.
Người yêu San
lại khác, bức thư mà tôi tình cờ nhặt được và đọc đến thuộc lòng đã nói lên rất
nhiều về nàng, một phụ nữ như nàng lại yêu tha thiết San như vậy sao? Thật buồn
cười nhưng tôi lại bị ám ảnh về mối tình đó: họ yêu nhau năm năm chứ có ít ỏi
gì đâu, và một ngày San phỉ thui “để cho tôi yên!” Cô gái tội nghiệp chỉ hỏi
thêm một câu tuyệt vọng: “Bấy nhiêu đó đủ rồi phải không anh...?”
San phản ứng thế
nào khi nhận được thư nàng? Trí tưởng tượng của tôi lại làm việc, tôi thấy rõ
là San chạy đến chỗ nàng, có lẽ bức thư của nàng cho San thấy nàng là một con
người sâu sắc và không dễ tìm trong thời buổi này, nhưng quá muộn với San rồi.
Nàng không đón San với nụ cười hạnh phúc như ngày trước, ngược lại, San chỉ
thấy ở nàng một con người xa lạ. Nàng bước ra, không buồn nhìn San và khép mạnh
cửa, tiếng rít ghê rợn của cánh cửa sắt như báo hiệu cuộc tình đã cáo chung.
San không kịp nhìn cái dáng dấp kiêu sa khuất dần, nàng chẳng thèm mất một lời
xua đuổi. San đứng thật lâu không thể nào tin nổi một người con gái yêu mình
đến nô lệ lại dám hành xử như vậy. San không bao giờ hiểu được nàng đau đớn như
thế nào khi phải làm một việc trái với con tim. Đúng hơn là nàng đang chết cả
con người. Còn San thì bất lực quay về, mọi thứ chẳng còn gì để nói thêm ngoài
trừ bản thân San. Từ đêm ấy về sau, mặt y lúc nào cũng đanh rắn, trừ những lúc
y nhớ đến nàng, trong mắy y hun hút một niềm tuyệt vọng…
Tôi không phủ
nhận là mình thêu dệt những tình tiết này, dù sao nó cũng hợp lý. Tôi không bao
giờ yêu được ai, với tôi tình yêu là một tặng quà vô giá mà hóa công ban cho
loài người, nhưng không phải ai cũng có được ân sủng thọ nhận. Tôi nghèo nàn,
trắng tay giữa cuộc đời chính vì thế mà mỗi khi nghe ai đó nói chuyện tình yêu,
tôi kết luận: với mình nó thật xa xỉ. Tôi không có tình yêu để ban phát và cũng
không ai mang đến cho tôi tình yêu, là một kẻ cô đơn không nhu cầu và chưa bao
giờ nhọc sức cho những điều không giống ai của mình. Tôi chú ý đến San ban đầu
cũng chỉ vì vẻ khắc khổ không thích hợp với một kẻ con nhà như y (nhưng lại rất
hợp với hậu quả tình yêu mà y là người có lỗi). Cô gái kia có lẽ đang phân vân
có nên nhận lời cầu hôn của một người đàn ông đã nhiều năm đeo đuổi nàng? Không
bao giờ nàng tha thứ cho San nhưng nàng vẫn còn yêu San nhiều lắm, yêu hơn
những ngày họ còn là của nhau bởi mối tình của nàng giờ đây phải tồn tại dưới
một dạng thái khác, đau thương hơn.
Tôi bắt cầu nhập
cuộc chơi – tôi phác họa hình ảnh cô gái: nàng đấu tranh với chính mình đến rời
rã trí năng mới không gọi điện thoại cho San, tôi thì không cần một chút cố
gắng của nàng, có điều phải mất tiền cho những cú điện thoại trời ơi, đất hỡi,
nhưng đây là một trò vô hại. Đầu tiên tôi nói bằng một giọng thiếu nữ Hà Nội
với San rằng có người yêu San nhiều lắm, San Biết không? San đã ngờ vực nhưng
tôi mặc xác y, nàng trong tôi phải là con gái Hà Nội. Còn như nàng quê Nha
Trang hay gốc Sài Gòn thì đó là việc tôi không tính đến. Khi San hỏi ai gọi
điện tôi mới thấy là mình nhầm. Tất nhiên nàng gọi thật thì San nhận ra giọng
nàng ngay, còn tôi chẳng dại gì để San biết là tôi gọi điện thoại, có điều San
cúp máy một cách tàn nhẫn làm tôi bẽ bàng, lần đầu tiên tôi có cái kinh nghiệm
(dù là đóng kịch) của một phụ nữ gọi cho người mình hết lòng yêu nhưng lại
không được tiếp chuyện. Tôi ghét San hơn bao giờ hết, và vạch một kế hoạch bài
bản hơn. Tiếc là tôi đã không thực hiện được những kế hoạch kia.
San thỉnh thoảng
ném về phía tôi một ánh mắt nửa bạn bè, nửa chủ tớ mỗi khi đi ngang chỗ tôi
ngồi. Tôi thường phớt lờ cái nhìn ấy, chỉ một lần phải che mặt vì San nhìn hơi
lâu. San ngạc nhiên và chợt cười. “Đồ trẻ con!”
tôi thầm cáu. Y bao nhiêu tuổi nhỉ?
Chắc chắn là San nhiều tuổi hơn tôi, nhưng vì không thích gọi San là anh,
tôi gọi y bằng cậu, cũng nói thêm là mấy cô bé học việc vẫn gọi y bằng cậu để
thể hiện sự tôn kính bởi chúng coi nghệ nhân Ái Liên như mẹ mà San là em của
bà. Rõ ràng là San không thích tôi gọi y theo kiểu đó, có lẽ y thấy mình quá
già khi bị tôi gọi như vậy. Tôi khác, chỉ gọi đàn ông bằng cậu khi cho rằng họ
trẻ dại hơn mình.
Tôi vẫn thường
thức đến mười hai giờ đêm để làm tranh, cũng vì thế mà tôi là người mở cổng cho
San mỗi khi y về muộn. Một bữa tôi bảo y là lần sau nhớ nhắc người yêu để cho
anh được về sớm hơn và y sa sầm nét mặt. Tôi thoáng chạnh lòng và hay tự hỏi: y
làm gì mà đêm nào cũng về muộn, thậm chí có đêm mãi đến ba giờ khuya y mới về…?
*
Mọi thứ dưới tòa
biệt thự Hà Liên không yên ổn như tôi nghĩ, ngược lại là đằng khác. Thái độ hơn
thua, những lời quát tháo, chửi mắng phủ mặt kẻ ăn, người làm của chị em bà Liên
làm cho nhiều người bất bình. Chính vì thế mà mấy cô bé đến làm tranh lần lượt
bỏ đi, và bản thân tôi cũng không ngờ một ngày vội thu dọn, cuốn gói đúng bài
bản tránh voi chẳng xấu mặt. Nhưng đó là chuyện của những tháng sau này, còn
vào thuở ban đầu, mọi việc có vẻ dễ chịu.
Tôi không rõ
thói quen đợi chờ San đến với mình vào lúc nào. Có lẽ xuất phát từ ý nghĩ hãy
nhìn thẳng vào mặt y tỏ ra mình chẳng thấy gì hết, y chẳng là cái gì hết sau
một vài lần y nhắc tôi điều này, điều nọ nhưng tôi cố tình không nghe. Vậy
nhưng tôi đã vô lý rất nhiều trong những định kiến về San, bởi vì thường tôi
thấy y hết sức dễ thương trong mọi ứng xử và có lẽ là người được cưng nhất nhà.
Một lần tôi ngồi trên ghế đá cạnh hồ bơi, nơi San thường dựng xe và thấm thía
cảm giác chờ đợi đơn phương mà mình chưa trải nghiệm trong đời, tự hỏi về những
người phụ nữ mà San đã yêu. San chia tay mối tình đầu từ bao giờ…? Những người
con gái đã gieo vào lòng San những tình cảm yêu thương giờ đã thuộc về thì quá
khứ. Tôi không cùng họ trên dòng sông quá khứ ấy, tôi thuộc một dòng chảy khác
và cập bến khác, liên đới với những số phận khác và không in bóng vào kỉ niệm
của họ.
Dòng sông thời
gian vô thủy vô chung bao chứa tất cả đời sống của San trong đó có những cuộc
tình. Chắc không ít cô yêu San vì nghĩ San là một ông nhà giàu, chưa vợ. Không
phải ngẫu nhiên mà các cô bé học nghề vẫn thường mơ thấy mình xúng xính trong
chiếc áo cưới dành cho cô dâu mà chú rể là San. Hiếm có cô gái trẻ biết y là em
nghệ nhân Ai Liên mà không mơ tưởng. Tòa biệt thự nguy nga hẳn có sức hấp dẫn,
nhưng để trở thành chủ nhân của nó thì theo thiển ý của tôi ngay những người em
ruột của bà Liên còn không dám mơ. Tuy vậy, họ vẫn chứng tỏ với những kẻ đến
làm việc như tôi họ là gia chủ. Tôi thì đã thấm thía thế thái nhân tình, đặc
biệt về quyền sở hữu, chiếm đoạt tài sản, của ai ra người nấy, sòng phẳng, lạnh
lùng. Buồn cười là đôi khi San có những cử chỉ để tôi hiểu là cần gì cũng mất
tiền, chẳng lẽ San không có tiền để sợ tiêu phí. Tôi thì chẳng biết tiền là gì,
vậy nên tôi luôn thất bại cũng là sự thường.
Dù sao tôi vẫn
mong San về sớm sau một ngày y nai lưng làm việc ở đâu đó, giờ đây tôi hay tìm
kiếm ánh mắt của y. San có thể đinh ninh tôi mến yêu San, cho rằng mình có một
sức thu hút và dễ làm nẩy sinh trong tôi những tình cảm sâu xa, và vốn nông nỗi
như mọi phụ nữ, tôi không đủ sức vượt lên tình cảm chính mình. Cũng đôi lúc San
cho tôi ấn tượng San đang nghĩ là tôi ghét San, nhưng tôi chẳng có lý do gì
ghét San được. Tôi thấy buồn cười nhưng nghĩ lại thân phận học việc nên không
thể đi xa hơn. Đúng là tôi đến nhà San học việc. Tôi chỉ là một nhà thơ đúng
nghĩa, mà như thiên hạ than thở: “cơm áo không đùa với khách thơ”. Tôi đã làm
khá nhiều thơ và ngộ ra rằng càng làm thơ thì càng đói. Tôi lại luôn chán những
việc khác và để món nợ bút nghiên dây dưa mãi đến giờ.
Trong nhà San ai
cũng coi những người học việc như tôi tớ. Ngay cả nghệ nhân Ái Liên vẫn làm tôi
rờn rợn bởi quyền biến và đa nghi. Có lần bà hỏi tôi sợ bà không, tôi chưa biết
sợ bà nhưng chẳng lẽ trả lời còn nhiều thứ làm tôi sợ hơn nên mới cầu cạnh bà
như vậy. Ở đây tôi không nói đến thứ nghề tranh khắc đá, tranh cát, tranh gỗ
mộc đem đến niềm tự hào cho bà, hoặc khía cạnh khác vừa phù phiếm, vừa dễ chơi
nhưng khó nuốt. Thậm chí nhiều người khác chứ không riêng chi bà Liên, cứ khoác
lên mình những giá trị giả và hãnh diện về sự giàu có để tôn vinh thêm những
thứ không thật kia.
Với một bộ hồ
sơ, giấy tạm trú, đơn xin việc thì San vẫn không biết gì về tôi ngoài một cái
tên, và chẳng ai kể cả tôi cần y biết nhiều hơn. Vậy nhưng đôi khi chạm ánh mắt nửa như thăm hỏi, nửa ưu ái tôi chợt
nghe trào dâng một niềm xúc động mãnh liệt tận đáy lòng.
*
Người đầu tiên
đọc ra những chuyển biến trong nội tâm của tôi là Huy. Chúng tôi chơi thân với
nhau nhiều năm nay, và vô hình chung trong tâm lý hình thành cái ý thức sở hữu
nhau. Tôi không bao giờ muốn Huy yêu một phụ nữ khác và ngược lại Huy cũng thế.
Mặt dù hiện tại chúng tôi chỉ là anh em, bạn bè.
Vào những chiều
chủ nhật chúng tôi thường hẹn nhau đi ngồi quán. Huy tỏ vẻ xót thương khi buộc
tôi phải đối diện với một thực tế phũ phàng là chúng tôi quá đơn độc trong thế
giới chữ nghĩa và nghèo, đó là những thứ chẳng cần thiết với bất kì ai trong
thời buổi này. Lại nữa, San là mẫu người thuộc số đông, thích lớn giọng, ồn ào,
hơn thua. Huy bảo: liệu tôi có thể chịu nỗi thái độ cau có, cáu kỉnh của San ở
mọi nơi, mọi lúc không, vì lẽ, những người như San chẳng dễ mà dịu giọng với
những kẻ thấp cổ, bé họng.
Huy châm chọc:
-Em đẹp nhất
trần gian, bớt hài hước, ngông nghênh, may ra làm xiêu lòng người đó!
Tôi nói với Huy
anh cho tôi một tòa biệt thự anh sẽ làm tôi xiêu lòng. Của đáng tội, chúng tôi
quá rõ về nhau nên chẳng chất chứa nổi bóng hình của nhau trong con tim vốn chỉ
biết đau một cách tù mù về sự vô thường, tráo trở của cuộc sống. Rồi Huy báo
tin anh chuẩn bị cưới vợ. Anh sẽ lấy lại toàn bộ số tiền mà anh hứa cho tôi để
mở một phòng tranh. Anh dùng đủ mọi lý lẽ để phân bua với tôi rằng vợ anh cần
nó hơn tôi. Cảm thấy ngán ngẩm bởi những lời thanh minh của Huy, bởi chính tôi
cũng không biết vợ Huy sẽ nhận được tiền của Huy hay chỉ nhận được những lời
hứa. Chơi thân với nhau nhiều năm nhưng chưa bao giờ tôi thấy Huy có tiền, anh
ta chỉ thích cãi nhau trên tất cả các diễn đàn hơn là tìm một công việc gì đó
để làm kiếm tiền. Những khi trong túi sạch nhẵn, anh thường hỏi bạn bè vay, nếu
có người bạn nào từ chối, Huy nghĩ chơi với họ liền. Dù sao đó cũng là một
người tốt. Đôi ba lần Huy giúp đỡ tôi, nhưng điều làm tôi ưa thích tính cách
Huy là chưa bao giờ anh ta làm người khác buồn. Thậm chí anh có lấy lại toàn bộ
những thứ anh hứa cho thì cũng không ai giận anh được vì điều anh nói có vẻ để
gây cười hơn là lật lọng.
Cái ngày mà Huy
nói quá bận rộn chuyện cưới vợ, tôi dự định sẽ bỏ việc, tôi không có ai để làm
cuộc chia tay đúng nghĩa. Tôi mời San đi uống cà phê để nói vài lời từ biệt.
San từ chối. Tôi thấy lòng trống rỗng. San đâu phải Huy để mà bất kì lúc nào
cũng chiều theo những ý muốn ngẫu hứng của tôi. Thế nhưng tôi đã ăn ở trong nhà
San một thời gian đủ lâu để khi sắp ra đi mới thấy y và mọi người trở thành
thân thiết.
Nghệ nhân Ái
Liên ngờ vực. Tôi biết bà đinh ninh tôi muốn đến làm ở một phòng tranh khác,
mang theo những bí quyết nhà nghề và bí mật kinh doanh bán cho người ta. Đấy là
chuyện thường xảy ra ở nhà bà. Các cô bé học việc thích đến làm ở một phòng
tranh khác hơn là làm thuê cho bà dù trên thực tế bà là thầy của tụi nó. Thường
trước mỗi trường hợp như thế, bà Liên bảo các cô bé là đồ phản thầy, và không
cần biết đến chúng nữa. Cũng có những học viên đến học nghề để mở công ty, và
khi cái cách học nửa vời, ăn xổi ở thì không làm nên tài năng cho họ, lúc ấy họ
tung tiền ra để chiêu dụ những người thợ
đang bất mãn với bà Liên bởi nhiều lý do, mà nhất là chuyện tiền lương bèo bọt.
Cũng có người không muốn làm cho nghệ nhân Ái Liên bởi miệng lưỡi cay đắng của
bà. Nhất là cái cách ép thợ làm cho người ta thấy tổn thương, đau đớn và bị xúc
phạm. Tôi cũng là một trong số ấy, nhưng tôi không định làm cho những phòng
tranh khác như đa số thợ ở đây.
Tôi buồn. Nhất
là khi hiểu ra ngày nào không gặp San, ngày đó tôi thấy nhớ nhung San đến nao
lòng. Chỉ gặp cái nhìn thoáng qua của San là trong tôi tràn ngập niềm vui. Thực
tế thì những chuyện quen biết rồi xa cách để nhung nhớ vẩn vơ, mơ hồ tôi đã
trải qua nhưng chẳng bóng hình nào đọng lâu trong tâm khảm. Cũng đã từ rất lâu
tôi sợ được yêu hơn sợ bị ruồng bỏ. Sợ cả những tai hoạ mà kẻ mình từng yêu gây
ra cho mình.
Huy thường giễu
cợt cái kiểu tôi thích yêu trong mơ hơn là trải nghiệm thực tế dù tôi đã ngoài
ba mươi tuổi. Ước mơ bao giờ cũng đẹp. San có mặt nhiều hơn trong những giấc mơ
của tôi. Người yêu của San không còn là mối bận tâm của tôi nữa. Riêng San khi
biết tôi bỏ việc vẫn giữ một thái độ để tôi hiểu mình với San không là gì với
nhau hết, San không ghét không thương gì tôi hết. Tôi tìm cách tiếp cận San
nhưng ngay từ đầu tôi thấy Huy có lý. Người như San có tiền thì làm chủ, không
tiền đi làm thuê, những phụ nữ như tôi không hề tồn tại trong tình cảm họ.
*
Một đêm, trở về
phòng trọ chật hẹp, khi leo lên cầu thang
do sơ ý sẩy chân nên tôi ngã nhào. Trước đó, tôi đã bị một cơn đau đầu
khủng khiếp và chóng mặt đến không làm chủ nổi mình.Có ai đó dìu tôi lên xe cấp
cứu, tôi loáng thóang thấy hình ảnh của những người thân đã quá cố đang đến bên
mình, họ cúi nhìn, có người vẫy gọi tôi. Bằng cách nào lúc đó tôi đã nhớ đến và
gọi điên thoại cho San sau này chính tôi cũng không hiểu nổi. Không phải tôi
cầu cứu, càng không phải tìm mối cảm thông. Đơn giản là tôi muốn vĩnh biệt
người tôi thương yêu vào giây phút này. Vừa nghe tôi xưng tên trong điện thoại
San gay gắt: “mệt quá! Đừng gọi điện nữa. Tôi cũng sắp chết đây.” và cúp máy.
Mất một tuần nằm
trên giường cấp cứu cơn tai biến mới qua đi. Khi trở lại với công việc bình
thường tôi còn quá nhiều chuyện để lo nên chẳng có khoảnh khắc rảnh rỗi bận tâm
về San như trước. Tình cờ một buổi sáng tôi gặp lại San trong một lễ hội, anh
ta đang chuyến du lịch ngang qua vùng tôi sống. Chúng tôi không nói gì với
nhau. Tôi đã kịp nhận ra một thực tế rằng: Sau cơn đau, không phải tôi mà chính
mối tình đơn phương, phù du của tôi đã về bên kia thế giới.
LTT
TÔI LÀM CON BÒ
Trong cơn đau dài tôi nghe loáng
thoáng tiếng của thằng bạn một thuở từng chung sách chung đèn bảo rằng: bây giờ
mày như cá nằm trên thớt. Tôi ứa nước mắt trước cái vẻ khóai trá của nó. Đến
bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao một thằng con trai như nó lại luôn đem lòng
đố kỵ với bọn đàn bà. Hồi còn du học hắn “nối khố” với một cô bạn giờ là giảng
viên đại học ở Sài Gòn. Cả hai đều cầu tiến nhưng hắn chẳng bao giờ hơn nổi chị
ấy và rồi lòng đố kỵ với đứa bạn gái đầy ứ không có chỗ chất chứa nổi hắn quyết
đi vào con đường văn chương. Hắn tin mình sẽ là thống soái trên văn đàn, nhưng
mới những bước chập choạng hắn nhận vô số quyết định kỉ luật, có vụ hắn viết: “dân
phải ăn xương rồng chống đói”, đấy là chuyện ở Bình Dương và hắn bị buộc thôi
việc, lần đó không nhờ cô vợ chịu thương, chịu khó, và sự hậu thuẩn của cha mẹ
vợ chắc chắn cả nhà hắn phải chống đói bằng những thứ tượng tự như xương rồng.
Không hiểu sao đã đồng bệnh tương lân hắn còn chơi trò chụp mũ sau lưng tôi, để
rồi tôi nhiều lúc hình dung khuôn mặt hắn sau chiếc mặt nạ dày mo, dày đến mức
nếu hắn muốn ai đó nhổ vào mặt hắn thử hắn có thấy nhục không thì nước bọt cũng
chỉ sượt qua cái mặt nạ kì cục đó chứ chẳng bao giờ dính vào bản mặt hắn. Tôi
chỉ còn biết cười, cái cười này hoàn toàn được trời phú và cũng vì lẽ ấy mà
chẳng ai tin tôi có thể ha hả cả khi bị bao vây bởi những kẻ ăn thịt người.
Thường xuyên tôi bị cả một đám đông qui kết, thi hành án.
Ở đâu chứ xó nhà quê miền Trung này
người cầm bút được xem là có nghề nghiệp cao quý nhất, chẳng vì thế mà những ai
không biết luồn lách trong nghề, văn nô, bồi bút ăn lương mà còn cố sức viết
hay rất có thể bị chết đói nếu chưa đến nông nỗi phải vào tù hoặc bị khai trừ,
thậm chí phải tự khai tử, vì lẽ đó mà có một anh láng giềng lớn tuổi sau ba
mươi năm ra phố làm phóng viên báo công an và chánh đại diện một tờ báo Đảng đã
dại dột mở blog để chơi và mấy ông lãnh đạo nhà nước bị anh ta đem ra chơi đểu
nhất. Một ngày đẹp trời cảnh sát áp giải anh ra Hà Nội nhốt vào Hỏa ngục.
Từ thuở đám bạn của thằng người tôi
nửa yêu nửa mến vẫn thích và gọi tôi là đứa con gái vui nhất trái đất mà hắn,
mong thấy tôi lúc nào cũng vui đã không ngần ngại cho tôi chết với những đòn
trí mạng không vì lý do gì hết, cứ vô tư vu oan, giá họa. Mà cần gì lý do: chỉ
riêng cái mác “vui nhất trái đất” dù không cho người mua vui thì tôi vẫn khóc
cho đến nước mắt chảy pha máu và tự hỏi đến giờ không biết có còn ai gọi tôi là
người đàn bà khôi hài nửa không. Tôi biết mình có tài gây cho người khác ấn
tượng là cô gái luôn cười cợt. Điều này không phải dễ với một phụ nữ, càng
không dễ khi người phụ nữ ấy đã quay về quê, những thằng bất nghĩa, bất lương
cứ hỏi thăm sức khỏe như cơm bữa. Từ ngày về quê tôi thích nhìn mình trong
gương, moi móc từng nét đanh đá của mình nhưng tôi thật sự thất vọng vì khổ đau
trông tôi rách nát hơn là quá quắt như tôi vẫn muốn. Tôi từng lên phố để mưu
sinh và thành phố buộc tôi cắn răng cười thường trực. Cũng biết mình đâu dễ đe
dọa giết ai đó nếu kẻ ấy vô cớ muốn làm gì mình thì làm, kể cả làm cái việc vô
nghĩa như lấy mạng mình bằng một liều thuốc độc hoặc một phát súng, một vụ tai
nạn giao thông. Tôi có thói quen lang thang lại ngơ ngáo trước bầy đàn nên một
tai nạn với tôi xem ra dễ thuyết phục. Còn nhớ có thời gian dài công an đã truy
lùng tôi khiến tôi hiểu là họ bệnh họan hoặc bị ám thị bởi nhiều kẻ mắc chứng
bạo dâm... Bao giờ cũng bắt đầu từ nguyên cớ. Mà hỡi ôi! nguyên cớ là thứ dễ
bịa tạc nhất, chẳng vì thế mà ngày xưa, Nguyễn Du đã cho thằng bán tơ lên phủ
đường xưng xuất, vu oan cụ Vương thế là chính hắn cũng không hiểu nỗi tại sao
nạn nhân của hắn phải chịu một tai họa khủng khiếp đến thế. Khủng khiếp đến nỗi
thời đại văn minh này, không ai xử tội phạm kiểu “rường cao rút ngược dây oan”
cả cha lẫn con như dưới thời Gia Tĩnh triều Minh, mà tôi thì ngày hằng sống,
hằng tin một chủ nghĩa nhân đạo thống lĩnh xã hội này, để mình tuy như cá nằm
trên thớt vẫn có thể cười được, chơi được theo cách của những kẻ đã phá sản
đang chơi bạc bằng những đồng tiền ăn xin.
Tôi xài phí thời gian trong cuộc chơi
vô bổ và cũng ít nhiều hiểu rằng, có ngao du thiên đàng hay địa ngục thì cả hai
chốn ấy chẳng bao giờ dung nạp mình. Bóng tối vẫn bủa lưới như thể tôi đang
trẫm mình giữa dòng nước đen đục. Tôi bỗng thích tưởng tượng mình tan biến đi,
vô hình chỉ tồn tại trong một thứ âm thanh thảm thiết nhất: tiếng quạ! “Tại sao
lại là tiếng quạ?” có lần chị gái tôi hỏi thế, tôi cắt nghĩa: “loài quạ thường
báo điềm lạ! Chị có bao giờ để ý tiếng quạ kêu, quạ tru không? Nó giống như
người đem đến tai ương.” Tôi cũng là kiểu tai ương đối với gia đình: trẻ đẹp
tài hoa, thông minh.. sao tôi không kiếm một đám hời ngất xây đời lên tột đỉnh
nhân gian. Chị tôi là một người đàn bà phù phiếm nhưng tôi không ghét chị ở cái
thói phù phiếm ấy, tôi chỉ ghét cái thói ghen tức kì cục nhất mà chị dành cho
em gái mình. Ngay từ hồi còn rất nhỏ tôi đã xung khắc với các anh, chị ruột. Họ
cứ làm như thể tôi dành hết ân sủng trần gian và để họ chịu tội nợ không bằng
hoặc giả họ độc ác và chỉ độc ác với riêng tôi. Chẳng bao giờ khắc chế được
điều này và tôi thực sự khổ sở. Xưa kia, khi cả hai chị em còn trinh bạch những
giấc mộng tôi luôn muốn chị đi thật xa để tôi không phải chứng kiến cái sự thể
đáng thương ở chị. Mà chị luôn biết giữ cái sự đỏng đảnh, phù phiếm và đèm đẹp
của mình đến nỗi chị biết làm cho người đời thích chị. Như thế cũng chả sao
nhưng vì được thích mà chị cứ moi móc để tôi phải thấy tôi quái đản lắm, tôi
không được như chị, thêm lần nữa trò hiềm khích của hai chị em gái buộc tôi
phải muốn xa chị ở cái tuổi mà mọi ước mơ đã được xài sạch nhẵn. Lần này kẻ đi
là tôi.
Ngày xưa tôi muốn chị đi xa thế là chị
bay thẳng qua Liên Xô, chị rong ruổi gần mười nước cộng hòa. Hơn năm năm trở về
chị như con mèo ốm nhách và chị cáu kỉnh: “dân đi Nga chỉ ăn cháo rìu!”. Tôi
thường có những chuyến đi xa ngòai ý muốn, lần này thay vì làm một du sinh tôi
chỉ xê dịch trong phạm vi năm ki lô mét cách nhà mình bởi đơn giản mẹ mất rồi,
không ai lo tiền cho tôi đi xa hơn.
Chị tôi bảo: “đi như thế thì đi làm gì?” Tôi nổi
khùng: “Tôi muốn đi khỏi nhà là tôi đi được!” Chị chì chiết: “muốn gì được nấy,
sao không muốn tiền?”.
Chưa bao giờ tôi buồn như lần này. Cái người đàn bà là
chị ruột lớn hơn tôi ba tuổi đã nói với tôi như thế đó. Chị đã rất muốn có
tiền, muốn đến mức vét sạch hầu bao của cha mẹ làm một chuyến xuất ngoại với hi
vọng kiếm được nhiều tiền vậy mà chị đếch kiếm được gì để đem về ngoài căn bệnh
thời khí của xứ sở giá rét. Tôi biết ở cái nơi đất trũng đồng hoang này nhiều
người xứ khác đến lập nghiệp tiền của vẫn vào túi họ như nước, nhưng với chị em
tôi mà hỏi tiền, tiền cười khẩy: còn khuya!
Trong phòng trọ cạnh khu công nghiệp
tôi tự hỏi mình muốn có nhiều tiền vậy mọi thứ có xảy ra theo ý muốn của mình không?
Mấy tên nước ngoài đến đây làm ăn cũng ma cà rồng ớn lạnh, chúng mà cắn ai thì
họ hóa ma chó sói, cứ theo thể thức ấy mà cắn xé lẫn nhau. Bọn chúng không
những nô dịch dân nghèo còn tạo ra một thứ quái thai nửa chó điên nửa ma quỷ,
chúng lắm nanh vuốt và giỏi hút máu người lao động. Suốt mấy năm nay tôi trầy
trụa, thương tích, thiếu đói, cay cú vì kiếm việc làm để có tiền thế nhưng chưa
bao giờ tôi muốn có tiền. Tôi thường bảo: tôi không muốn điều gì nữa hết! Khi
biết tôi không muốn gì nữa thì cha, mẹ, anh chị, cháu chít họ mạc của tôi tức
điên lên vì không chịu nỗi cái con người ngu xuẩn của tôi. Họ chỉ muốn tôi biết
mình ngu như cách họ nhìn nhận. Biết mình ngu cũng là lúc tôi nghe đâu đó trong
vô hình những tiếng rống phát: uồm ò bo o ò!
- Trời ơi!
Tôi thảng thốt. Tôi từng tưởng tượng
mình trong trạng thái tiếng kêu lòai quạ vậy mà cuối cùng tôi nhận ra nó giống
con bò hơn.
- Mày ngu như con bò ấy!
Ông anh hung ác của tôi chửi vậy và
tôi thấy rằng mình phải chiều theo cách nhìn của ổng vì rõ ràng chẳng đời nào
ông ấy hiền lành để có thể cho tôi cơ hội làm một con gì đó khác hơn con bò.
Một con bò thì chỉ biết gặm cỏ đó là chưa nói nếu người khác muốn thọc huyết
thì dù có khả năng tự vệ cũng không thóat. Gây nợ máu với một con bò dễ hơn với
một con sói, con sư tử, con ngựa mà.
Tôi hỏi Thảo, cô bạn thân nhất vốn
khôn ngoan và xinh đẹp rằng:
Từ nay trở đi tao làm một con bò thì
liệu tao có thóat cảnh nghèo mà từ trước đến giờ tao lâm phải không?
Thảo nhìn tôi ra chiều suy nghĩ. Vợ
chồng Thảo vẫn cưu mang tôi vào những lúc tôi khốn quẫn nhất. Tôi yêu quý nó
biết bao. Tôi biết mình làm một con bò nó sẽ mất một người bạn. Tôi đánh mất
mình thì nó còn tôi sao nổi? Nó giúp đỡ tôi bao phen chỉ vì tôi là tôi chứ
không phải tôi là bò. Tôi đọc trong đôi mắt tuyệt đẹp của Thảo một niềm thương
xót sâu xa, thế nhưng tôi đã suy tính và quyết định:
- Từ nay trở đi tao chỉ là bò thôi! Mày
hiểu không? Tao đang do dự là không biết mình làm bò xong sau đó để mặc cái con
bò ấy đi kiếm tiền, hay là chỉ mong muốn được giàu và khi có được những gì mình
muốn thì hãy đã làm bò.
Thảo có tất cả những thứ mà nó mơ ước
dù chưa bao giờ phải làm bò. Tôi từng bảo chồng Thảo: “vợ anh là một Hằng Nga”.
Anh hỏi: “Hằng Nga là sao”? Tôi
vui vẻ: “Hằng Nga là tiên nữ còn vướng nợ hồng trần”.
Chồng Thảo không biết tôi nói thật hay
hài hước.
Cái thằng bạn có chiếc mặt nạ thiện
xảo lại bảo tôi: “bây giờ mày mới làm bò thì muộn quá!”.
- Tôi đáp: “cái gì cũng nên từ từ.”.
Tôi từng thân thiết với một người đàn
ông, vì tình bạn tôi đã chịu mọi hệ lụy, phiền toái. Bọn anh học thiền và tôi
bị rủ rê. Chúng tôi đều bị đẩy ra bên lề xã hội. Nhà nước không cho bọn anh xây
dựng hội thiền định, các anh bị tẩy chay, bị bắt giam. Anh viết một thỉnh
nguyện thư gửi thủ tướng chính phủ xin miễn trừ khủng bố. Anh chết trong tù
không rõ bị thủ tiêu hay đau nặng. Anh muốn làm sứ giả của thượng đế dù anh chỉ
là một nhà văn quèn. Anh uống những chén đắng nhưng không “tử vì đạo” được như
anh trông đợi. Tôi nói với mọi người là anh tự sát. Người thân của anh chỉ quen
bảo rằng anh đã “qua đời”. Riêng với chính mình tôi chưa bao giờ thấy anh đã
chết thật sự. Có gì lạ đâu: anh như đã đi đâu đó quá xa, xa đến mức anh không
quay lại nữa hoặc chưa muốn quay lại. Anh như nói với tôi vào cái lần cuối cùng
chúng tôi gặp nhau: “Tôi đang làm gió
qua truông thiên đàng”.
Chúng tôi vốn yêu những nhạc phẩm của
Trịnh. Tôi luôn tự hỏi: có bao nhiêu con bò thích nhạc Trịnh. Khi nghĩ về cái
cách anh qua truông thiên đàng, tôi muốn bằng cách này hoặc cách khác anh đừng
quay lại nữa, có quay lại nơi đây anh cũng chỉ làm con người thừa. Anh có vẻ
buồn trong một buổi chiều anh đối thọai với tôi qua thần giao cách cảm:
- Tại sao em không muốn anh quay lại nơi
đây?
Tôi hỏi:
- Chỗ của anh hiện tại có tệ lắm không?
Anh tỏ ra quan trọng:
- Ổn lắm.
Tôi bỗng tức khí:
- Vậy anh quay lại đây làm gì? Lâu nay kể
từ cái ngày anh qua truông thiên đàng ấy em phải làm con cá nằm trên thớt.
Phải công nhận là tôi hồ đồ. Tôi cứ
đinh ninh như anh là Trịnh nhạc sĩ nhưng chắc chắn anh chẳng bao giờ là Trịnh
để vừa lưu thân mỏi mòn vừa qua truông thiên đàng mà vẫn thấy mình như đá. Và
rồi tôi bỗng bàng hoàng: chỗ của anh chưa bao giờ là truông thiên đàng. Còn anh
ở đâu mà “ổn lắm”. Trông anh quá tội nghiệp khi thật sự ốm yếu nhưng anh không
giống những linh hồn khắc khoải trong cõi hư vô.
Tôi bảo:
- Nếu chỗ hiện tại của anh không tệ hơn
đây thì cứ yên vị. Em thì chẳng biết phải đi đâu về đâu?
- Bộ em cứ nằm mãi trên thớt chờ dao như
vậy sao?
Tôi muốn nói: “anh cút đi!” Ai mà
chẳng yêu quý sự sống của mình. Tôi thà làm con bò và tiếp tục gặm cỏ vỗ béo,
dù biết rằng bò hay trâu hay bất cứ giống gì thì cuối cùng không chui vào bụng
lòai thú khác kể cả lòai thú hai chân như lòai người thì cũng chui xuống đất
hoặc ra tro bụi.
- Không biết làm bò thì em sẽ ngu ngốc hơn
hay khôn ngoan hơn anh? Chúng ta chưa bao giờ biết mình làm gì thì đúng nói chi
cái vụ anh ngông cuồng đi làm sứ giả của Thượng đế.
- Em
còn cơ hội để quán xét rằng: đức Phật làm gì, nói gì cũng đúng. Em đã bảo em sẽ
là người truyền thừa.
Có
phải một lần tôi nói vậy với anh không?
Tôi chua chát:
- Mấy ngàn năm rồi. Dấu vết người xưa đã
mịt mờ. Những gì được ghi lại trong sách vở ngày nay không biết có đúng với
những điều từ thuở sinh tiền đức Phật đã dạy, đã làm không?
Anh phẩy tay như thể muốn nói cùng tôi
cái việc khó khăn nhất anh đã làm xong dù chẳng biết nó đúng hay không, có ai
cần thiết không rồi anh ra đi, không quên ra dấu rằng anh chẳng bao giờ quay
lại nữa. Nếu còn cơ hội anh sẽ tống khứ những gì anh đã thu nạp suốt bao năm
làm kiếp con người.
Tôi vẫn chưa biết làm con bò thì mình
bắt đầu từ đâu và như thế nào. Hiện tại tôi chẳng có gì nhưng xung quanh tôi cỏ
nhiều lắm. Tôi nhai cỏ với tất cả niềm háo hức của lòai vật nhai lại và tôi
biết mình chưa bao giờ khôn.
Tôi cũng biết nàng Hằng Nga yêu quý sẽ
mất mình. Gần mười năm nay tôi đã quen với mọi mất mát. Trước kia thì trắng
tay. Rất có thể sau này tôi thành kẻ ăn may! Ngay bây giờ tôi tự chúc mình may
mắn.
LTT
MA ĐẦU BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG
Người
đàn ông ngồi lặng lẽ trên bờ biển nhìn về bên kia đại dương, xa xa, những
chuyến tàu ngược xuôi như mang theo bao nỗi đời trĩu nặng. Anh nhớ đến ước muốn
của người phụ nữ hết mực tôn thờ anh là được ít nhất một lần cùng anh xuôi
thuyền trên sông. Tại sao nàng muốn vậy anh không bao giờ biết được bởi anh
không phải là nàng, tuy nhiên, như cách liên tưởng xa xôi của nàng một chuyến
đi như thế tượng trưng cho một sự độ thoát của thầy với trò khiến anh thấy nàng
chỉ là một con nhóc ngô nghê. Ừ! thì được cùng anh sang bờ bên kia cũng có
nghĩa nàng thôi một kiếp nổi nênh. Anh không khỏi đặt nhiều dấu hỏi về nàng.
Anh biết nàng tình cờ. Một chị bạn của anh được nàng gọi là cô giới thiệu hai
người làm quen với nhau. Không hiểu sao chị bạn tin tưởng anh giúp được nàng
điều gì đó. Nàng kể nàng đang sống ở giữa những đầm lầy, cồn hoang, mộ cổ, đền
tháp,...tóm lại đó là một vùng dã thoại xa xưa mà ngày nay dân du lịch và những
người làm công tác văn hóa mất công tìm hiểu, nghiên cứu. Anh chưa từng một lần
sống trong không gian huyền hoặc ấy, anh cho rằng ở đó, là cô gái quê nên nàng
rất muốn thoát khỏi cái sự bết bác của đám đàn bà nông thôn và thích bằng an
cùng bao cảnh ngộ đói nghèo, khổ nhọc, lầm bụi. Không rõ nhờ đâu nàng có được
chút vốn văn hóa đủ để đọc được nhiều thứ sách báo. Anh biết được điều này vì
lẽ, trong những bức thư gửi anh nàng cố ý tỏ cho anh thấy tư thế của một con
người đã điều phục được những thói tật, cơn cớ và bao tội nợ của một kiếp đàn
bà. Anh nhớ nàng từng viết cho anh những bức thư chan chứa niềm tin cậy. Và anh
tuy đã già rồi vẫn còn vô duyên đến độ, hé lộ điều này cho một gã lưu manh ở
đâu đó gần nàng. Gã vẫn thường đeo bám, moi móc nàng, tìm cách cầu cạnh những
người thân của nàng ở nước ngoài, trong khi nàng chưa bao giờ nhận được một sự
giúp đỡ của bất kì ai như bà cô của nàng hy vọng. Bà sống bằng món tiền trợ cấp
người già ở Mỹ và lo nhất là vào viện dưỡng lão. Anh vẫn ngồi trên ghế của một
ông quản lý một nhà sách điện tử trên mạng. Thư quán của anh có đến hàng vạn
đầu sách, mà hễ muốn nàng tha hồ đọc. Một thời anh tâm niệm nhà anh cần sách
hơn cần cơm. Hiện tại anh vẫn giữ lập trường này và anh vẫn cứ sưu tầm sách đưa
lên thư quán. Gã lưu manh hy vọng loại trừ được nàng để độc quyền chiếm lĩnh sự
ưu ái của bọn các anh, trong đó có cả bà cô tội nghiệp. Bọn hắn gồm một lũ theo
đóm ăn tàn. Chúng mơ được những người tốt bụng ở Mỹ cho chúng tiền và đón chúng
sang Mỹ. Anh bảo chúng là muốn qua Mỹ không khó, chừng nửa triệu đô la là đủ
cho một công dân ở một quốc gia bất kì được phép nhập cư, trường hợp nàng dễ hơn
nếu nàng kiếm được cơ hội du học rồi xin thẻ xanh lưu trú. Anh không định cưới
nàng. Cuối cùng nàng làm anh sượng sùng bởi lẽ họ chưa gặp nhau, nàng mới biết
anh qua những thư điện tử, dù cả một trăm người đàn bà đi qua đời anh hoặc nàng
nhầm lẫn anh với ai đó mà mà nàng thấy xứng đáng được mình yêu thương dù hắn ta
có nhiều vợ....thì cũng chẳng sao cả vì lẽ trong tất cả điều này có gì đó vừa
hết sức trớ trêu nhưng cũng hết sức kì khôi. Trong mắt anh những người đàn bà
mà cứ lì lợm yêu những thằng đàn ông đang sống với vợ là điên đảo không thuốc
chữa. Hồi trước anh làm việc ở một tòa soạn báo, cô thư kí trẻ hơn anh gần 30
tuổi chanh chua: “tôi yêu anh dù tôi biết là anh đang có vợ. Theo tôi nghĩ vợ
anh không biết chuyện thì chẳng có gì ảnh hưởng đến tình yêu của mình!” Không
ít chị em rơi như táo rụng mà không hiểu là anh chẳng hề muốn chiều lòng họ.
Anh thấy rõ là nàng không thuộc ngữ ấy, nàng ngấu nghiến những ebooks dày cả
ngàn trang trên thư quán mà anh gửi cho và như muốn nói với anh theo cách của
mình: “em yêu quí anh và không cần biết anh có vợ con không?” Anh mệt mỏi và
chỉ muốn giết chết tình yêu của nàng khi một ý nghĩ quái đản nẩy sinh trong đầu
anh rằng: rất có thể một thời nàng từng được một hoặc nhiều gã con trai yêu
nàng, chúng biết nàng không yêu chúng nhưng vẫn cho rằng mình có yêu nàng đơn
phương cũng chẳng sao, chúng chỉ cần có một bóng hồng để cõi lòng sa mạc của
chúng xanh lên một tình yêu. Khổ thay, cái thứ ái tình của chúng đã gây cho
nàng không ít khó chịu đến mức thấy trốn chạy bọn chúng không xong nàng đành
phải cầu mong cho chúng chết phứt đi. Anh thầm hỏi cái người phụ nữ kia có phải
như thế không? Có phải nàng rất muốn kẻ yêu mình, muốn chiếm đoạt mình, ăn
tươi, nuốt sống mình mà mình không yêu chúng phải chết đi không? thường thì người
khác không yêu người yêu mình thì họ mặc xác, cũng không ít kẻ biết học cách
yêu thương người đang yêu mình. Cả rừng sách dạy con người học cách yêu thương
tha nhân hoặc bạn tình chắc là nàng có đọc. Bất hạnh nhất là nơi nàng sống tuổi
xuân của người con gái ngắn ngủi lắm. Cô nào theo chồng là bỏ cuộc chơi. Những
ai cơ nhỡ hay dang dở, giữa đường gãy gánh thì coi như sang sông đắm đò. Anh
chợt nghe lòng rung động khi cảm nhận bằng trực giác là nàng hiền từ và rất dễ
bị thương tổn trong tình trường, mà như thế có nghĩa là nàng lãnh đủ trong vụ
đắm đò định mệnh.
Nàng vẫn sống trong
một xứ sở khác, nơi đó chưa bao giờ là quê hương của anh. “Cô nàng có yêu quê
hương không nhỉ?” Có lần vì hằn học anh đã tự hỏi như thế. Anh thấy rằng lúc
này nàng nương náu chốn quê nhà là do lâm bước đường cùng chứ nàng không hề yêu
quê mà tìm về. Có tiền chắc nàng đã bay, không Mỹ, cũng Úc, Canada, hoặc giả
anh nhầm. Mà anh thì không thích những kẻ dối trá siêu hạng, cứ đem cái mác yêu
quê hương, bản quán ra cho người đời xưng tụng.
Có một thời anh
từng muốn làm cỏ cái xứ sở mà giờ đây anh gọi là nơi chôn nhau cắt rốn, cũng
chưa lâu lắm, mới mấy mươi năm đây thôi. Vì sao anh biết hơn ai hết. Có kẻ nghĩ
đó là vì tham vọng chính trị hoặc vì anh quá độc ác bởi hận thù giai cấp hoặc
xung đột ý thức hệ hoặc cuồng tín, vân vân... điều dễ dàng chấp nhận là nền
cộng hòa của anh đã sụp đổ, mà một nhà thơ khao khát được nó đội vòng hoa lên
đầu và tống tiễn. Nào ngờ rơi thẳng vào xã hội cộng sản, anh phải qua kinh
nghiệm tù đày. Có gì đó như là tình trạng tẩu hỏa nơi anh. Ừ! Thì con người dễ
oán hận và nóng máu lắm, nóng đến có thể có không ít người cầu mong hoặc chúc
dữ rằng sao cho ngày tận thế nhanh đến để thế giới này tan tành tro bụi rồi
tiên tri lắm thứ hiểm họa trong đó có hiểm họa loài người sẽ diệt vong. Hỡi ôi!
Con người. Khi đã trót sinh làm kiếp con người thì trong cuộc tồn vong biết bao
ách nạn ập xuống đầu hắn để rồi hết chịu nổi hắn có thể nổ tung, hắn thành tên
khủng bố, kẻ ăn thịt đồng loại, giết người hàng loạt,…
Anh còn nhớ thời
trẻ một người con gái yêu anh rồi phụ bạc. Anh cũng chẳng biết ai cưới được ả.
Anh và ả từng thề non hẹn biển, nhưng non thì cao, biển thì rộng còn anh thì
thưở ấy chưa danh phận gì. Nhiều năm sau anh mới thức thời rằng: người ta không
muốn gả con gái cho anh chẳng qua vì anh nghèo... Vậy là anh thù hận, chán đời
và anh bỏ đi.
Bây giờ thì anh
sống ở Mỹ, anh cũng khá nổi tiếng và cứ muốn cho cả thế giới biết là anh rất
nghèo. Nàng từng đùa là xem anh như một vệ tinh và rất có thể gặp anh nàng sẽ
xoay mòng mòng chỉ vì quá ngưỡng mộ. Nàng từng biết nơi mình có hai con người:
một có thể giúp nàng tranh đoạt tài lộc, công danh với thiên hạ bằng mưu ma
chước quỷ và con người kia thì sợ đau khổ, tội nợ và cũng đớn hèn nên đã không
muốn để con người thứ nhất hành động ở mọi nơi, mọi lúc. Nàng khước từ con
người lưỡng diện ở mình. Bằng một mớ tạp nham kinh sách không hiếm thứ được
ngụy tạo nàng lập luận rằng: người duy nhất chịu sự cám dỗ của ma quỷ và khước
từ được nó mà nàng biết là Chúa Giê Su. Nhưng Giê Su đã rao giảng “hãy yêu
thương kẻ thù!” nên mới bị đóng đinh. Người đời có thể yêu thương một con vật
kinh tởm bất luận đó là con gì, song yêu thương kẻ thù thì còn lâu. Thật ra sau
khi chúa Giê Su chịu khổ nạn trên thập tự ác thì nhân loại bắt đầu xuất hiện
một kiểu người tự đóng đinh câu rút dù chẳng cứu chuộc ai kể cả chính mình
nhưng nàng không muốn tuẫn nạn kiểu ấy. Nàng không phải tín đồ của Thiên Chúa
giáo hay tôn giáo bất kì nào. Nàng cũng không có một thượng đế tính để lớn dậy
trong niềm vui sáng tạo. Dù sao thì anh cũng là một cá thể có một từ trường cực
mạnh đủ sức nhấn chìm nàng như sóng thần nhấn chìm một chiếc tàu và nàng, nhiều
khi bất ngờ về anh đã tự hỏi: anh là gì mà kì lạ vậy? Rất có thể anh chống
lưng, trợ thủ gã lưu manh vẫn ám hại nàng.
Anh từng khoe với
nàng anh đang sống hạnh phúc với vợ con. Nàng có thể hình dung một người đàn bà
ra vẻ phong lưu lắm vẫn chu đáo với anh từ ly cà phê, bữa điểm tâm đến những
cơn ghen tuông vừa đồng bóng vừa đểu cáng. Anh gắng sức kiếm nhiều tiền tôn
vinh cái gia đình mà anh thấy càng hoàn hảo càng hạnh phúc. Theo như lời anh kể
thì dứt khoát anh không thuộc loại giỏi kiếm tiền, nhưng ở Mỹ mà không có tiền
thì đừng mơ về quê nhờ vả bạn bè. Những khi anh không tự xoay sở nổi thì vợ sẽ
lo. Chị ta có đủ sức làm cho gia đình giàu sụ vì thói thực dụng, vẻ sành sỏi và
thủ đoạn lọc lõi. Muốn gì đi nữa thì anh chẳng bao giờ đi yêu một thiếu phụ
nghèo như nàng vì chắc chắn trong khi làm phép so sánh giữa hai người đàn bà
anh thấy tài lực nàng chưa bằng cái móng tay lúc nào cũng trau chuốt, đánh
bóng, sơn vẽ lòe loẹt,... của vợ anh. Buồn cười là nàng bĩu môi nếu anh bảo vợ
rằng anh chỉ kiếm một cô vợ lắm tiền. Rồi nàng không thể không nghĩ về những
quan hệ xã hội của anh trong thời hiện tại ở một nơi xa lạ nhưng cũng trên trái
đất này thôi. Không hiểu sao nàng cứ hình dung về nếp sinh hoạt của những con
người hàng chục năm chưa một lần chạm chân xuống bùn đất mà anh là một trong số
ấy. Cái đô thị nơi anh an cư tuy chưa sầm uất nhất thế giới nhưng hẳn nhiên là tráng
lệ và sạch. Một bộ phận cư dân ở đó có thể suy đồi, ngập ngụa nhưng không bao
giờ làm bẩn tay chân và áo quần bởi đất đai. Họ di chuyển trên xe hơi và đi lại
trên những con đường tráng nhựa và điều hiển nhiên họ không biết thế nào là tay
lấm chân bùn,... Mỗi khi ra phố hoặc đến các điểm du lịch nàng thích ngắm một
cách bất nhã những tay việt kiều trắng trẻo, mập mạp, trí thức, ánh mắt bề trên
nhìn cái gì cũng như ban phát từ nước ngoài, đặc biệt từ Mỹ về. Đám đàn bà
trong số ấy thì quá chảnh nên nàng không đến xỉa đến họ. Đàn ông có sức hấp dẫn
hơn. Bọn gái điếm và ma cô vẫn thích cua mấy tay việt kiều trắng sạch hoặc cố
tình để cho họ chú ý tới mình, dụ dỗ mình. Thôi thì đủ mọi hạng người xúm vào
làm tiền những quí ông, quí bà, quí cô, quí cậu. Ngày xưa chắc anh lấy vợ cũng
theo cung cách mấy tay Việt Kiều và cái người đàn bà vớ được anh hẳn làm cho
toàn gia hãnh diện với ý nghĩ theo anh qua Mỹ thì gia đình và bà con tha hồ
nhận tiền đô từ Mỹ gửi về xài. Mà cũng có khả năng chị vợ gặp anh ở Mỹ và mê tít
cái con người ngang tàng, coi trời bằng vung để rồi bỏ chồng chạy theo anh với
hy vọng một ngày nào đó thời cuộc đổi thay, chị cùng anh về nước cũng ngôi mệnh
phụ đường đường như ai. Có một nghịch lý là tất cả mọi người ở đây, thân cũng
như thù với nàng chẳng ai chịu để cho những người như anh chị áo gấm về làng
tiếm ngôi hoặc giành ghế, mà cũng có thể hoàn toàn không phải như thế. Sao mà
nàng cứ hay tưởng tượng?
Một ngày không
việc, buổi chiều nàng cùng với mấy vị giáo sư trong hội đồng thẩm định các tác
phẩm nghệ thuật và nhóm viên chức của trung tâm văn hóa ngồi tại quán cà phê
lớn nhất mới được mở nơi thị trấn quê nhà và nàng chợt tưởng tượng ra những con
người như anh. Họ đã phải trắng tay trong cuộc cuộc chơi máu lửa mới có thể
viết những câu thơ khiến nàng nát con tim khi đọc. “nhưng tôi không bao giờ đi
cùng con đường với anh. Tôi chỉ là một lối nhỏ nhưng nó là duy nhất, nó hình
thành muộn màng và cũng có thể bị xóa nhòa. Anh phát lộ cái gì ở phía bên kia?”
Mọi thứ chỗ anh chắc không nhếch nhác như chỗ nàng. Ngay như cái quán nước này
đây, không biết cố tình hay sơ ý mà chủ nhân đã chọn mua một thửa đất tiếp giáp
đồng trũng để xây dựng và rồi rác rến cứ sục, cứ bắn tận ly cà phê của khách
khi đất dưới đồng được cày xới. Mấy vị giáo sư ở Hà Nội xem ra rất muốn khó dễ
với cái trung tâm được duy trì chỉ bằng nguồn tài trợ của một chủ tiệm vàng.
Bất chợt nàng thấy mình bị bỏ quên và gọi anh bạn thợ điêu khắc đang thực hiện
một tác phẩm để đời tham dự đại lễ Thăng Long Ngàn Năm Văn Hiến và chỉ cho anh
xem những gốc rạ choài ra sau luống cày. Nàng bảo anh thử tạo bề mặt tượng
đồng bào thô ráp như thế được không? Anh cười: ý tưởng hay nhưng đồng bào
anh phải phơi mưa, dầm nắng, dãi dầu, quăng quật giữa lũ cuồng, bão tố nên chi
mọi thứ phải na ná bức thành đồng hoặc đá vọng phu. Ruộng đất cho dẫu trơ gan
cùng tuế nguyệt vẫn không thể thay thế bất kỳ chất liệu nào bền hơn nó được.
Nghe vậy nàng đùa với anh thợ điêu khắc rằng anh cứ lấy đồng đen mà tạc tượng.
Anh bảo nàng cứ kiếm tiền in thơ, việc làm tượng đồng bào là do nhóm anh thực
hiện với chất liệu từ gỗ quí. Nàng bảo quá muộn để nàng đi học điêu khắc, nếu
sớm theo nghề này nàng chẳng thua Điềm Phùng Thị. Anh làm ra vẻ bâng quơ: Điềm
Phùng Thị gần bốn mươi tuổi mới học điêu khắc, còn anh học từ năm mười bốn tuổi
vậy mà đến giờ gần bốn mươi rồi nhưng chẳng ai muốn nghe tên tuổi anh.
Nàng chẳng thấy có
gì là thật trong việc nàng tham gia vào cái trung tâm này, cũng như nàng là
đồng sự của tay điêu khắc. Nhưng nàng tin chắc lần này anh ta thành công. Một
lần ông Tổng biên tập bảo nàng sưu tầm 1000 bài thơ để làm sách kỉ niệm đại lễ.
Mới tìm được gần 500 bài thì ông lên cơn đau tim và chết đột ngột. Chủ tiệm
vàng giờ là Giám đốc trung tâm bảo nàng stop vì đã có nơi xuất bản loại sách
như thế rồi. Nàng bực tức vì mất công. Có người bảo nàng cứ giữ chừng ấy bài
thơ và tự bỏ tiền túi xuất bản vì trung tâm không có kinh phí in chứ không phải
việc làm sách trùng lặp ý tưởng nơi khác. Nàng tiu ngỉu vì kiếm vài mươi triệu
để in sách là việc nan giải, giữ chỗ thơ thì thừa. Ông chủ tiệm kim hoàn an ủi
nàng bằng cách khích lệ nàng viết bài giới thiệu về tác phẩm Thiên long Việt
đồ. Ông ta đàng hoàng trình bày ý tưởng xây dựng bức phù điêu đồ hình đất nước
từ 1000 con rồng bằng vàng với kinh phí hàng tỉ đồng để trưng bày tại đại lễ.
Nàng biết ý tưởng này chưa đụng hàng vì khó mà có nổi một gia tài để chơi bạo.
Chưa bao giờ nàng
nhìn kỹ cái người đàn ông từ nơi khác đến lập nghiệp rồi trở nên giàu nhất ở
cái thị trấn quê nàng dù nàng biết ông ta mấy mươi năm nay. Nhà nàng chỉ cách
trung tâm thị trấn một ki lô mét vậy mà vài đổi thay kể cả việc mở cái quán cà
phê lớn nhất này nàng cũng mới biết mấy tuần nay thôi. Còn ông chủ tiệm kim
hoàn thì thông thuộc khắp các hang cùng ngõ hẻm kể cả những xóm nhà lều bẩn
thỉu của dân đào đãi vàng tận thượng nguồn con sông. Một lần ông ta kể rằng,
ngày xưa ông ta rất muốn ra nước ngoài. Ông từng thi đỗ đại học nhưng vì lý
lịch xấu nên không được nhập học. Mấy thằng bạn cùng cảnh ngộ bất mãn gom hết
tài sản để vượt biên. Họ rủ rê ông tham gia và khi biết ông không có đủ vàng
một trong số thân hữu đã chia sẽ cho ông một ít gia tài của mình. Thế nhưng, dù
thuộc diện người gốc Hoa được tự do ra đi có trật tự ông vẫn sợ, linh tính chết
chóc thì đúng hơn. Hình như chuyến đi ấy thân hữu ông gặp bão hay cướp biển gì
đó và tàu đắm chết cả hay sao đó mà gần ba mươi năm rồi ông vẫn không tin tức.
Ông ta cười buồn: “chỗ vàng bạn hữu cho là toàn bộ vốn liếng để tôi mở cơ sở
kinh doanh này đấy. Tôi học nghề kim hoàn và về đây mở tiệm vì thấy đất này con
người hiền lành và cũng dễ làm ăn”.
Nàng nghĩ về anh
chàng quản lý nhà sách trên mạng tự hỏi nếu anh cũng làm ra nhiều vàng như ông
chủ tiệm kim hoàn từ những gì anh đọc suốt đời. Hình như ngày trước anh cũng đi
vượt biên chứ không phải xuất cảnh. Anh nói anh nghèo xơ xác và nàng tin, tin
chỉ vì nàng biết những gì anh làm chỉ đưa đến sự sung sướng trong đổ nát. Trừ
phi anh có tài phù phép ra tiền, còn không, anh mà giàu thì chỉ nhờ vợ thôi.
Tư phôn cho nàng
bảo Tư nhắn lại bao giờ anh về Tư mời anh đến chỗ Tư chơi. Cứ như thơ phú của
anh thì Việt kiều Mỹ phải là khách vip và một khi về nước họ sẽ ban ân sũng cho
con dân Việt Nam từ Bắc chí Nam. Đồng bào tha hồ mà nhờ ơn mưa móc. Anh quen Tư
trong dịp Tư tham quan nước Mỹ cùng đoàn nhà báo cao cấp. Anh nhìn nhận Tư thế
nào mà bảo sẽ đến chỗ Tư học hỏi thêm thuật xử thế. Anh từng viết thư cho nàng
bảo có biết một nhà báo tên Tư đang công tác đâu đó gần khu vực nàng sinh sống.
Nàng sửng sốt vì vợ chồng Tư vốn cùng học chung với nàng tại học viện văn hóa
quốc gia ngày trước nhưng họ lớn tuổi hơn nàng nhiều, là bậc đàn anh, đàn chị
của nàng. Anh khuyên nàng chịu khó đến để Tư dạy thêm điều nọ, điều kia. Phải
chăng bao nhiêu năm qua mãi mưu sinh nơi đồng chua, nước mặn, chống chịu mưa
bão, lũ lụt và hạn hán, kiến thức rơi rụng đến mức nàng mà không học trở lại
thì sẽ không được tích sự gì. Nàng đã tìm gặp Tư và hỏi thăm về anh nhưng cuối
cùng đành thất vọng vì Tư bảo không liên lạc với anh và hơn cả thế, Tư còn dạy
nàng rằng: sự thức thời và thực dụng của y đã khiến Tấn rất nể phục và rồi Tư
khuyên nàng nên cày xới trên cánh đồng của mình bởi không bao giờ nàng xu thời
được như y, nàng khó mà vừa tán dương một vị thủ tướng vừa khóc cùng dân đen mà
không thấy mình xấu hổ. Riêng nàng hiểu là Tư khéo chạy chọt, luồn lách, lựa
gió bẻ măng. Bản thân nàng một lần nữa đã giả định viễn cảnh một ngày kia bộ
ba: Anh – Tư – nàng cùng hội ngộ trên một dòng sông.
ĐOẠN KẾT
...Nhân dịp về Việt Nam cưới vợ cho con trai Tấn chủ động tìm gặp
và rủ nàng đến chỗ Tư. Nàng không thay đổi mấy sau nhiều năm kể từ lúc quen anh
và nàng thì thấy rõ là thời gian đã làm cho lòng tin yêu của nàng chuyển dịch
về một thế giới xa xôi, và chỉ hiện diện đâu đó trong tâm tưởng nàng như là
hoài niệm. Thế nhưng trong trí nhớ của anh thì bao yêu thương ở nàng là chốn đi
về của sự quên lãng dù rằng ký ức anh lưu trữ những lời dịu dàng xuất phát từ
đáy lòng nàng đã trở thành những sáng tạo đẹp nhất của ngày hôm qua. Có lần vì
giận anh nàng buông ra những lời cộc cằn, cay đắng nhưng nàng quên bẵng và anh
cũng không để bụng. Tư chế giễu anh là nàng chẳng bao giờ nhớ nổi những gì xảy
ra trong quá khứ. Gợi lại những chuyện buồn vui hoặc không đâu vào đâu là điều
chẳng nên chút nào, nó chỉ cho mỗi người một dự cảm chứ không phải trải nghiệm
sống thực sự. Mà điều này thường chỉ đem đến nỗi lo âu tuy mơ hồ giữa những kẻ
nặng nghĩa tình với nhau.
Anh không thích
cách võ đoán của Tư. Rõ ràng Tư ngờ vực họ. Lẽ ra y phải hiểu anh về đây đâu
phải để gặp nàng. Anh bỏ ra số tiền khổng lồ bay từ Mỹ về cái vùng quê này. Tư
hỏi anh có phải vì quá yêu nàng không? Câu hỏi này xem ra ngu ngốc nhất vì lẽ
anh biết giữa anh và nàng chỉ là thầy trò. “Vậy tại sao lại đến chỗ nàng. Vì
chán vợ ư?” Tư lại hỏi. Y không quên đau đớn rằng: y nghi ngờ vợ nhiều lần
ngoại tình nhưng không muốn li dị vì lẽ bản thân y từng tìm đến với nhiều người
đàn bà và thấy họ không thay thế vợ mình được nên cuối cùng đành chấp nhận cái
sự thể ông ăn chả bà ăn nem và coi đó như là cách mỗi người tự làm khác mình...
- Tôi từng đau đến
tưởng chừng nát cả người ra như sứa biển khi yêu – Tư nói điều này với Tấn và
nàng vào cái lúc cả ba đang du ngoạn trên thuyền - có gì đó như là lời buộc tội
khi nàng kể Tư hay rằng Tấn đã biến nàng thành vật hiến tế cho gã lưu manh vô
học, vô đạo mà Tấn cực kì ưa thích – lạ điều là hắn cũng đến chỗ Tư, hắn muốn
hạ sát nàng để tranh đoạt tình yêu, hắn yêu thương tất cả những người nàng quen
biết ở Mỹ và có vai vế trong xã hội -
Thứ tình người này kịch phát con người
hắn thành khối thuốc độc. Té ra Tấn dạy hắn sống sao cho tốt đẹp và thường
xuyên giúp đỡ người đời, riêng với nàng thì không cần - Hắn đã làm theo lời Tấn theo cách của hắn là
lợi dụng tất cả những quan hệ xã hội của nàng – biến bất cứ ai nàng biết thành
kẻ thù của nàng, mượn tay họ tru diệt nàng. Một con người có hiểu biết rốt ráo
về cuộc đời như Tấn hẳn nhiên là đủ sức giúp nàng thành đạt trong mơ ước cỏn
con ở mọi độ tuổi, nàng nào ngờ anh thiếu thực tế đến mức tưởng trong sát na
cảm hóa nổi một ác quỉ thành bồ tát để nàng yêu thương hắn. Tấn vẫn điềm nhiên
từ xa điều khiển gã lưu manh theo cái cách mà anh nghĩ rằng tốt đẹp nhất. Lại
còn dạy nàng thương người như thể thương thân(!). Mà sao nàng thấy anh cũng hội đủ sự tầm thường của mọi gã đàn
ông.
Anh thấy khó chịu về Tư nhất là khi bắt buộc
phải giãi bày:
- Đến hôm nay tôi mới
về vì lẽ, tôi nghĩ rằng chậm năm mười năm thì nàng sẽ lớn hoặc già hơn thôi chứ
chẳng vấn đề gì, làm người đàn bà trưởng thành nàng sẽ nhìn mọi quan hệ một
cách tỉnh táo. Bởi vì tất cả chúng ta đều sống trong chuỗi những sự đời và song
hành với những người khác cũng như cùng chung hưởng món quà tặng vĩnh cửu là
thời gian. Tôi thấy không cần thiết phải giả bộ như những tay Việt kiều khác là
cho nàng biết tôi mất vợ hoặc không có vợ. Ở Mỹ, anh có thể mời vợ của người
khác mà anh tình cờ quen biết về nhà để yêu nếu cô ta đồng ý. Tôi nhiều lần
phát hiện ra vợ mình rất thích những vụ lăng nhăng và bị mời mọc kiểu này. Tôi
không thấy thiếu vắng vì thỉnh thoảng
vẫn đưa đón các cô gái độc thân ở sở làm. Có cô gắn bó với tôi hàng năm trời
mới dứt tình ra đi. Cứ mỗi mất mát cũng buồn lắm, đau lắm nhưng dần rồi cũng
chấp nhận được mọi đổ vỡ.
Tư rót thêm rượu
vào ly và xa xôi về sự chênh lệch tuổi
tác giữa anh và nàng. Anh không thấy thế làm điều vì biết là nàng nhỏ hơn anh
đến hai mươi tuổi, nhưng dù nàng nhỏ hơn hai hoặc hai mươi hay năm mươi tuổi
thì họ cũng chẳng trẻ hơn hoặc già hơn bao nhiêu trước thời gian. Anh đã đến
cái tuổi mãn chiều xế bóng và thấy đời vô thường lắm. Người con gái kia ngày
trước yêu anh như yêu mọi gã đàn ông thì hẳn là nàng có thể lấy một tấm chồng
rồi sum vầy vui vẻ nhưng nàng đã không. Nàng tìm kiếm một điều gì khác lạ với
cái cuộc sống bần hàn, khốn đốn và cô đơn chốn đầm lầy của nàng. Làm sao anh có
thể cho nàng hiểu dòng đời vẫn xuôi trôi như nước trên sông mà mỗi người thì
không ngừng thay đổi, không phải là nàng, hay anh hay ai đó bị thay thế bởi một
kẻ khác mà là bản thân mỗi người tại mọi thời điểm đã biến thành người khác mới
hơn, lớn hơn, hoặc già hơn.
Họ ngồi trên thuyền
uống rượu. Trong lặng im hốt nhiên Tư như chợt nhớ ra điều gì đó và y nói:
- Suy cho cùng thì có
gặp nàng hay không cũng thế phải không ông Tấn? Tôi nhớ ngày xưa có một nữ thi
sĩ đất Hà thành yêu tôi. Mối tình ấy đẹp đến nỗi tôi cứ mơ ngày kia đưa nàng về
ra mắt họ mạc và sẽ làm bà con lóa mắt bởi vẻ đẹp của nàng, chẳng là lúc ấy tôi
đang theo học tại học viện văn hóa, đi học theo diện sĩ quan quân đội phục viên
nên lúc này tôi cũng khá lớn tuổi. Người tôi yêu còn trẻ trung, thanh lịch lắm,
bao giờ tôi cũng sợ mình thể hiện cái sự thô kệch của thằng lính quê khiến nàng
dị ứng và tôi nâng niu nàng như nâng niu con chim cảnh. Ngày nọ, tôi bắt gặp
nàng và ông hiệu trưởng đáng tuổi bố nàng hôn nhau. Khi tôi hỏi thì nàng nhấm
nhẳng:“thầy muốn vậy chứ em đâu muốn”! Tôi chỉ có thể xáng cho nàng một cái tát
tóe lửa và đi cưới vợ.
Y suy nghĩ một chút
rồi chợt cười buồn:
- Nếu sống trong tâm
thức rằng đêm nay ngủ có thể ngày mai mình sẽ chết đi và như thế thì tìm lại
một tình yêu đã mất phỏng có ích gì? Ấy vậy mà anh Tấn ạ! lúc nào tôi cũng đau
đáu một điều là nên một lần tìm gặp lại cô ấy. Tôi thiết tưởng đó là lời xin
lỗi muộn màng. Mấy mươi năm rồi nhưng tôi chắc thương tích trong lòng cô ấy vẫn
còn nguyên cũng như sự hối hận vẫn luôn giày vò tôi mỗi khi tôi nhớ lại cái tát
của mình.
Khó ai biết vì sao
lúc đó nàng vờ như không nghe Tư nói chuyện với anh và đăm đăm nhìn bầy vịt
trời bơi ngược dòng. Giá mà Tấn biết nàng rất ghét thói vũ phu của Tư. Từ lâu
nàng biết y hay đánh vợ chỉ vì ghen.
Anh nhìn nàng hồi lâu rồi bảo Tư:
Anh nhìn nàng hồi lâu rồi bảo Tư:
- Mỗi chúng ta ai cũng
có vài ba hoặc hàng loạt cuộc tình trước khi lấy vợ còn nàng thì sao. Nàng từng
là hoa đã có chủ. Chồng nàng chẳng muốn gì hơn được một góa phụ ở Mỹ bảo lãnh
theo diện kết hôn, mà chồng quá cố của chị ta lại là bạn nàng. Sau khi đã lãnh
cảm trước cái sự khả ố và vô nghĩa của những người đàn ông kết hợp với nàng
trên danh nghĩa tình nhân hay tình vợ chồng, rồi bội bạc, cuối cùng nàng chỉ
muốn tựa vào một kẻ như mình sao được. Đã có lúc mình muốn gã lưu manh mà nàng
kinh tởm cưới nàng.
Nàng giật mình và
len lén nhìn Tấn. Đâu đó là bóng ma của gã lưu manh vẫn rình rập.
Ráng đỏ chiều tà nhuộm hồng sóng nước trên
sông. Thực vật phù du vật vờ theo dòng chảy. Tư uống như không biết say. Tấn
ngồi nhìn những bức tranh hư ảo không ngừng thay hình đổi dạng từ đám mây nổi
phía chân trời. Anh đã có dấu hiệu của một ông già mà nàng thoáng nhìn chỉ thấy
trẻ hơn anh chút xíu.
LTT
MỘT CHUYỆN TÌNH Ở HUẾ
Châu gặp anh ta ở Huế vào năm mười
chín tuổi. Thưở ấy Châu chưa có một mảnh tình vắt nhưng cũng nếm đủ dư vị chua
chát, đắng cay ở đời. Châu chẳng thể nào nhớ nỗi mình đã sống chuỗi ngày sinh
viên sư phạm thế nào, một điều đặc biệt là Châu có rất nhiều bạn nhưng không
thân thiết lắm. Nỗi thất vọng giảng đường cùng với cảnh khó nghèo buộc Châu thu
mình lại như con ốc sên. Có nhiều điều Châu không hiểu khi đang mười chín,
trong đó có cả cái chuyện là tại sao người ta như thấy mất một phần thân thể
khi bị phản bội hoặc dối lừa. Còn nhớ có lần Châu tranh luận với Yến Linh về
tình yêu. Yến Linh chưa một lần yêu nhưng nó nhìn tình yêu qua tro tàn cuộc
tình của chị gái. Linh hay nhắc đến người đàn ông mà chị nó từng yêu. Châu đoán
rằng Linh rất tôn thờ người đó. Rồi Châu cũng gặp người đàn ông mà Yến Linh
luôn nhắc – con người mà từ bao tiếc nuối ăn năn sau những cơn cớ khủng khiếp
của tình yêu và tình huống đau khổ của hôn nhân, người chị của Linh tái tạo lại
thành một vị thánh, dù đã có lúc dưới mắt chị ta, anh chàng chỉ là một khối vô
nghĩa. Còn Yến Linh thì khỏi phải nói: tuy không có năng khiếu hội họa nhưng nó
cũng vẽ thành công một chân dung thần ái tình hoàn hảo nhất. Châu đã cười chị
em họ, nhất là khi Châu biết chắc rằng người đàn ông kia ở không xa nhà Châu
mấy, chẳng qua anh ta lớn tuổi hơn Châu nhiều, từng là bạn của thầy dạy văn lớp
Châu thời trung học, nhưng không mô phạm như thầy, anh ta ăn chơi và rượu chè
ngập ngụa. Thầy của Châu bảo: văn nghệ sĩ là như thế. Thuở đó, Châu ngây thơ,
thầy nói gì, Châu hay vậy. Sau này, do sự đưa đẩy của dòng đời, cùng với thiên
tư và như một quy định của định mệnh. Châu trở thành một nghệ sĩ đích thực. Cố
gắng duy nhất của Châu trong tư cách một thi sĩ là thanh bạch đến sơ sài. Nhờ
đó, chưa bao giờ Châu gợi cho người khác cái ý nghĩ cô cũng hư đốn bê bối như
đa số dân văn chương. Nhưng đó là bây giờ, hồi mười chín tuổi, Châu tinh khiết
như giọt sương ban mai và các cô gái vào tuổi mười chín đa số đều như thế.
Châu nhớ cái lần đầu chạm mặt anh ta:
buổi chiều nọ, người đàn ông bước ra từ những câu chuyện mà Yến Linh thường kể
và gõ cửa phòng hỏi Yến Linh. Châu và Linh ở chung phòng nơi Ký túc xá sinh
viên sư phạm. Người đàn ông thành khách của cả phòng và từ lúc đó Châu trở
thành chỗ quen biết với anh ta. Mối quan hệ của anh ta và Châu mấy năm sau đã trở
thành một bằng chứng phi lý của ngộ nhận yêu đương mà không phải ai cũng kinh
nghiệm trong đời.
Lần ấy Yến Linh đã giới thiệu người
đàn ông một cách đầy kiêu hãnh với bạn bè cả phòng. Đám nữ sinh mở to đôi mắt
chiêm ngưỡng người hùng, bởi chăng, cả lũ đều biết trước chúng hơn mười năm,
anh ta đã học, đã xây dựng tập san của trường, sáng tác của anh ta từ tranh đến
nhạc, thơ, văn xuôi,... đầy khắp các tập san và cô giáo trưởng khoa đã tán
dương rằng: trong suốt 15 năm qua, toàn khoa chưa có ai xuất sắc bằng người đàn
ông đó. Không hiểu sao Châu vẫn thờ ơ dù biết mình đâu dám coi thường một người
nổi tiếng. Ấn tượng của Châu vào lúc ban đầu là anh ta chẳng có gì liên quan
đến con ngươi viết các tác phẩm dành cho sinh viên mà Châu từng đọc, anh ta quá
gàn.
Yến Linh đã trách cứ Châu rất nhiều
khi anh ta có thái độ hỏi han ân cần vậy mà Châu cứ như bận tâm chuyện gì đâu
đâu và trả lời nhát gừng. Rồi Châu cũng chú ý đến anh ta nhưng trong cuộc gặp
gỡ khác, hơn một năm sau đó tại Hà Nội. Lần này cả hai đều tham dự Đại hội
những nhà văn trẻ. Anh ta thấy Châu và đến bắt chuyện, trong suốt kỳ đại hội
anh ta đeo dính Châu nửa bước không rời. Khi mọi người tụ tập đông vui, anh ta
đề nghị Châu đọc thơ nhưng Châu chỉ ký tặng anh ta tập thơ mỏng đầu tay của
mình.
Người đàn ông nhận xét:
- Trong em quá nhiều u uẩn, mất hết sự hồn
nhiên. Em viết như khóc, đọc càng nao lòng. Đôi chút khinh bạc không giúp em
thắng vượt được yếu đuối, đa sầu. Chỗ yếu của em là khuynh hướng yêu thương,
ước muốn ban phát, vị tha. Hơn thế nữa là nhu cầu bao dung, dâng hiến không vị
lợi. Trong khi đời sống thì đầy tráo trở, cạm bẫy. Người đời thì ích kỷ, tham
lam. Em trắng tay, không chỗ ẩn náu, tâm hồn dễ tổn thương. Em chỉ có thể sống
bằng đau đớn.
Châu giật mình. Không hẳn người đàn
ông thấu được tâm can Châu. Điều lạ là từ trước đến giờ chưa ai nói với Châu
như vậy. Cô mới hai mươi tuổi, những điều cô viết mới chỉ là dự phóng. Anh ta
quá cáo già, hoặc giả anh ta đánh lừa. Châu tìm thấy ở người đàn ông một cuộc
tình đầy oan nghiệt. Bao giờ cũng bắt đầu từ sự dại dột đầu đời.
Hắn nhìn vào đồ thị biểu diễn những
bước thăng trầm đời mình: một hình sin với nhiều đỉnh đáy so le. Là thằng bé mồ
côi cha, có mẹ cũng như không – mẹ hắn tái giá sau khi cha hắn qua đời không
lâu – bao thương tích suốt chuỗi ngày bỏ nhà đi hoang đã tạc lên mặt hắn nét
phong trần hoang dã khi đang còn thơ trẻ. Rất nhiều thiếu nữ yêu hắn, định mệnh
khiến xui hắn chọn Mai – một nữ sinh khoa văn học dưới hắn vài lớp. Mối tình ấy
chẳng có gì đặc biệt ngoài trừ những cuộc cãi vã, hờn giận như cơm bữa bởi hắn
ưa đàn đúm, bù khú còn Mai thì chỉ thích được chiều chuộng, cưng hư. Hắn vào
đại học khi tuổi tác đã ngang bằng các giảng viên. Tình yêu hắn dành cho Mai
từa tựa như tình thầy trò. Vốn hiểu giá trị của tri thức nên hắn tự học cũng
ghê lắm. Khi Mai đưa hắn về giới thiệu với gia đình, hắn thấy nhà Mai cũng
thường thường như nhà hắn. Điều hắn không ngờ là cha của Mai nhìn hắn lắc đầu.
Thì ra ông hãnh diện vì con gái ông hơn hắn là còn cha. Ông ta biết Mai còn một
người tình khác. Có chút gì đó thật khôi hài trong mọi quan hệ của cô con gái
mà người cha không tiện nói ra, chí ít ông cũng cho như thế là khôn ngoan giữa
thời buổi ấy. Gã kia không học vấn bằng hắn nhưng gã là cán bộ nhà nước. Vào
cái thời bao cấp, ở quê làm ruộng đất chật người đông trong các hợp tác xã cơ
cực lắm cho nên, một cán bộ nhà nước xem ra phong lưu và đáng giá, lại nữa, nhà
anh ta và nhà Mai khá gần, trong khi nhà hắn cách trở đường trường, đèo truông
đầm phá một lần đi về là hiểm nguy khôn lường. Hắn không đủ tinh ý để sớm hiểu
cái kiểu cha của Mai loanh quoanh vấn đề cung mạng tử vi, soi đi soi lại năm
sinh tháng đẻ của hai đứa rồi cho rằng hắn và Mai không mấy hợp nhau, ông còn bảo
nếu thật yêu thì cưới lập tức.
Hắn chưa có công ăn việc làm ổn định, Mai
vừa mới ra trường, họ kiếm đâu ra tiền để lo đám cưới cũng như chi phí cho cuộc
sống lứa đôi sau hôn nhân. Người cha biết điểm yếu của hắn, ông nhắc khéo là
hắn không nên tìm gặp Mai khi chưa nên sự nghiệp gì.
Đó là những ngày buồn nhất trong đời,
không phải hắn quá yêu Mai, chẳng qua bây giờ những cô bạn sinh viên từng rất
yêu hắn và có nhiều điểm vượt trội hơn Mai đã ra trường và ai cũng lo ổn định
một chỗ làm, một mái ấm. Hắn đã yêu Mai gần năm năm. Thời kì đầu Mai ảo tưởng
hắn là một người xuất chúng sau này sẽ nên danh phận khi nhà trường giữ hắn lại
làm giảng viên và gửi hắn theo học chương trình sau đại học. Sau, chỉ vì lý
lịch người khác tốt hơn nên được chọn, hắn bị loại và trường trả hắn về lại địa
phương. Hắn cảm thấy hằn học mà chẳng làm gì được, Mai quyết định tiến tới hôn
nhân với người tình dự bị. Hắn từng thề nguyền với Mai rằng: Mai bỏ hắn đi lấy
chồng, hắn sẽ không bao giờ lấy vợ. Bi kịch của tình yêu bắt đầu từ lúc hắn
quay về quê, gõ cửa xin việc nhiều nơi nhưng không đâu nhận. Hắn theo một người
bạn lên núi nổ mìn phá đá đem bán. Thuở ấy đói thê thảm và hắn chỉ có thể kiếm
chút ít tiền bằng hình thức lao động kinh khủng này. Một năm sau hắn mới tìm
gặp lại Mai. Hắn không tin khi Mai cho hắn biết đã lấy chồng, trước đó mấy
tháng Mai viết thư nói lời chia tay hắn, còn bảo hắn chỉ là kẻ thất nghiệp nên
Mai không thể yêu và chờ đợi. Tự ái, hắn im lặng. Khi Mai thấy mình quá đáng,
Mai đã viết thư xin lỗi và van hắn nghĩ thế nào về Mai cũng nên hồi âm. Hắn không
viết gì. Khi hắn có chút vốn tàm tạm và tính chuyện làm lành với người yêu thì
ván đã đóng thuyền. Mai kể hắn nghe trong đêm hợp hôn chồng Mai đã vò xé Mai
đến nát nhàu vì cô đã thất tiết trước khi về nhà chồng. Hắn như chết cả con
người. Mai điên dại và không chịu về nhà chồng sau khi họ gặp lại. Mai đã theo
hắn về nhà người bạn cũ gần trường xưa, mặc cho hắn xé nát áo quần quặp cứng và
gầm gừ như một con thú. Cha mẹ Mai khi vỡ lẽ mình gả đứa con gái rượu cho một
thằng vũ phu mà cứ tưởng là người đức độ thì quá muộn. Mai chán chồng muốn bỏ
về nhà cha mẹ, chồng Mai dọa tự sát. Nhìn Mai nhếch nhác, hắn không khỏi động
tâm.
Chuyện tưởng kết thúc ở ngoại ô. Một buổi chiều Mai
đến gặp hắn theo hẹn. Hắn chỉ nói với Mai ngắn gọn:
-
Đi với anh!
Mai trả lời hắn là không thể. Mai đã
có thai với chồng. Mai không muốn phá thai, càng không muốn hắn lãnh món nợ
này. Đêm ấy hắn dìu Mai về ngủ với chồng. Cố gắng lắm hắn mới chống nổi niềm
ham muốn tìm gặp Mai. Giờ đây Mai như nô lệ của hắn. Bao giờ gặp nhau Mai cũng
khóc như mưa gió. Cô bỏ bê mọi thứ theo hắn đến một nơi chỉ có riêng 2 người.
Hắn biết gặp Mai là hèn mà không gặp cũng hèn.
Hơn hai mươi năm hắn tàn phá trong các
cuộc rượu. Hình ảnh Mai cứ như bóng ma ám ảnh hắn. Nhiều phụ nữ đã đi qua đời
hắn trong đó có cô bạn láng giềng đã kịp sinh một đứa con nhưng không ai kéo
nổi hắn ra khỏi quá khứ tội tình. Hắn khinh Mai nhưng không đủ sức khinh mình
khi bản thân sa lầy vào một cuộc tình trớ trêu mà người đàn bà của đời hắn đã
có con với kẻ cưới chị ta làm vợ nhưng lúc nào gặp hắn cũng bảo không biết
trong hai người đàn ông ai mới thật là chồng của mình. Hắn căm thù cái người
hắn yêu và biết thừa sự quỷ quái trong cái gọi là tình yêu đích thực nhưng cố
vớt vát và tự an ủi mình chỉ là chơi thôi. Nào ngờ ai cuối cùng cũng kiệt sức
trong cuộc chơi dài. Gần năm mươi tuổi, hắn đánh mất dần vẻ gai góc của một
thằng người bất cần. Hắn bắt đầu nghĩ đến cái chết. Một chẩn đoán sai lầm của
bác sĩ rằng hắn mắc phải căn bệnh ung thư ác tính khiến hắn toan kết thúc đời
mình thì bỗng một hồi chuông vang lên. Chính người vợ đáng tuổi con hắn đã lầm
lạc kéo hồi chuông định mệnh này, cùng với đứa con vô thừa nhận khi hãy còn
trong bụng mẹ và người đàn bà hàng xóm bất hạnh đã chắt chiu giọt máu hắn để
lại lúc mới tượng hình lúc hắn hứng chí mà ăn nằm với chị ta. Vâng! đứa con vì
không muốn làm một đứa trẻ không cha đã túc trực bênh giường bệnh của hắn hàng
tháng trời chỉ để được hắn gọi tiếng con trong niềm ăn năn muộn màng. Thế
nhưng, ngay cả khi bị đập một đòn dữ dội theo đúng nghĩa “có vay, có trả” bởi
sự cố cô vợ trẻ giàu có hắn cưới ở cái tuổi tri thiên mệnh phát hiện ra hắn vẫn
đi ngang về tắt với người tình xưa đành ẵm con về quê xa tít tắp để rồi hắn vẫn
bám víu vào ảo ảnh cuộc tình Mai. Khi vắng vợ, thiếu con, buồn lòng, hắn trở
lại Huế đưa đón Mai đến các nhà nghỉ, khu an dưỡng. Giờ đây hắn đã thành đạt và
rộng đường đến nơi hẹn hò. Người đàn bà đến tuổi hồi xuân đầy ham hố dù chị ta
nheo nhóc cùng đàn con hờn trách hắn rằng: “không biết còn ai yêu mình nữa
đây?” Hắn mới nổi sùng bảo chị ta đừng để hắn phải khinh chị ta nhiều hơn nữa.
Mai đanh đá rằng hắn đã làm cho Mai suốt đời không biết thế nào là hạnh phúc
gia đình. Hắn chửi Mai làm cho hắn ghê tởm cả những gì Mai nói với hắn ngày
xưa, khi hai đứa chết trong đói nghèo và duyên phận bẽ bàng, nào là một người
con gái khác từng yêu hắn, và hắn thực sự muốn cưới nàng làm vợ - không phải vợ
hắn bây giờ đâu – thế nhưng phát hiện ra mối tình nhập nhằng của hắn với Mai,
nàng đã bỏ đi lấy chồng. Nàng không có hạnh phúc vì hắn đã trả thù bằng cách
gieo rắc những điều tiếng mập mờ nhằm đánh vào sĩ diện của anh chồng trẻ thiếu
kinh nghiệm và chưa từng biết mọi hiểm hóc của lòng người. Thằng con trai bất
hạnh vì không biết mình hạnh phúc đã làm cô vợ trẻ chịu hết nỗi bèn bỏ nhau,
nên suốt đời hắn đem nàng ra bêu riếu. Hắn tưởng nàng sẽ tìm đến hắn, van xin
hắn như Mai ngày xưa nhưng tuyệt không. Bao nhiêu năm qua hắn biết nàng trầm
luân trong biển khổ nhưng nàng cũng sòng phẳng với hắn đến mức có lần bảo thẳng
không hiểu sao nàng yêu phải một kẻ bỉ ổi như hắn.
Mai bảo bây giờ chị ta và hắn đi bất
cứ nơi đâu làm lại từ đầu cũng không quá muộn. Con cái chị ta đã lớn chúng hiểu
mẹ hơn. Hắn nghĩ đến chuyện dỗ dành làm lành với cô vợ trẻ và phải hết sức bí
mật chung chạ với Mai. Con đèo Hải Vân ngày xưa là chướng ngại trên hành trình
đến điểm hẹn với Mai thì giờ đây những phút chui qua đường hầm trên đường ra
Huế làm hắn sung sướng đến điên dại. Mối tình gần 30 năm của hắn được bù đắp
muộn màng. Chồng Mai đã ra một ông già tự mãn. Mai vẫn cứ phây phây đem đến cho
hắn cơn khát thèm đến u mê. Nhưng hắn hãnh diện đó là tình yêu và chẳng có gì
đẹp hơn đoạn kết có hậu của cuộc tình khùng điên này.
“...Thời gian chảy đến đá cũng phải
mòn nhưng tình yêu thì vững bền mãi mãi – người đàn ông nói với Châu câu đó khi
Châu đem lòng yêu anh ta bằng tất cả sự nông nỗi lẫn ngông cuồng – tình yêu thì
muôn thưở vẫn là tình yêu: mãi mãi đôi lứa yêu nhau để rồi chung tình hoặc bội
bạc, tha thứ hoặc hận thù, nhưng bao giờ người trong cuộc cũng hạnh phúc khi
sum họp và đau khổ khi li tan....” Châu đã học lý thuyết tình yêu như thế đấy.
Ngày ấy Châu có hiểu bao nhiêu điều anh ta nói đâu. Châu chỉ cảm thấy thương
mến anh ta một cách đầy mù lòa để rồi phiền muộn, khổ tâm khi phải chuyển hóa
cả một quá khứ tối tăm của anh ta thành của mình. Có lẽ do lãnh đủ từ cuộc tình
đó mà Châu trở nên thất thường và đáng ghét. Chỉ có điều Châu không sao hiểu
nỗi người tình của chị gái Yến Linh và người Châu yêu lần đầu lại là một? Yến
Linh theo lẽ thường đã phản đối chị gái nhưng vẫn thèm muốn nghĩa tình của anh
ta. Họ không muốn mất nhau vĩnh viễn nên họ làm Châu khinh ghét. Ở đời có nhiều
điều vô lý nhưng lại diễn ra theo một sự xếp đặt bí ẩn, chẳng hạn như câu
chuyện tình này. Châu chưa gặp chị của Yến Linh bao giờ. Sau ngày rời trường Sư
Phạm Huế, Châu chưa một lần gặp lại Linh. Châu đã sống những đêm trường tình
yêu mà không biết. Tình cờ Châu phát hiện người yêu cũng vậy. Đứa con đầu lòng
của chị gái Yến Linh là kết quả của những giờ phút nhẹ dạ: chị ta đã trao thân
cho một thầy giáo đã có vợ nhưng phải lòng cô học trò. Khi biết mình có thai mà
người yêu thì mấy tháng ròng không một lời nhắn nhe, chị đành phải chọn đức ông
chồng sau này làm vật hiến sinh cho hôn nhân bởi anh ta đã trồng cây si gần
chục năm ròng rã.
Những bi kịch đôi lứa loại này ít xuất
hiện trong mọi thời. Cái đáng nói ở đây là khi yêu người ta thường mù quáng và
không yêu thì tàn nhẫn lắm. Đáng lẽ Châu không nên bước vào đời người đàn ông
đó, hoặc đã vào thì ra khỏi cho nhanh. Vậy mà Châu đã dây dưa trong mấy năm.
Những năm tháng đó Châu biết mình bị dối lừa nhưng cố tình để người ta lừa. Về
sau, Châu hiểu tình yêu sâu xa hơn, Châu biết nếu yêu trở lại, Châu sẽ theo
người yêu đến tận cùng. Thế nhưng trong trái tim vốn mềm mại nhưng dễ thương
tổn Châu tự đau với những mối tình vô vọng và rồi giờ đây, cô nhận thức được
rằng: tình yêu lẫn hạnh phúc là không thật có với Châu. Riêng những kẻ đã yêu
quá nhiều hay nhiều lần tổ chức hôn nhân, khi được hỏi về tình yêu hoặc hạnh
phúc, câu trả lời thành thật của họ là cái lắc đầu tỏ vẻ mệt mỏi, chán chường. Rồi,
như sỏi đá cũng cần có nhau, Châu cũng mong muốn phải dựa vào ai đó để sống.
Mọi hướng vọng về hạnh phúc đích thực xem ra còn quá xa vời. Châu không biết
với một trái tim không tình yêu, mình có vun bồi được hạnh phúc hay không.
LTT
SỐNG THỬ
Chẳng có gì hay ho trong cuộc sống của
tôi nếu không muốn nói là quá đỗi thất thường. Tôi đã từng ôm ấp vài ba người
đàn bà và không ai chung chạ với tôi quá một năm. Ngày tôi ký tên vào tờ hôn
thú, cô ta như không tin vào quyết định của tôi. Không biết từ nguồn cơn nào mà
quá nhiều cô nương trong đó có không ít nữ sinh vừa lém lỉnh vừa bạo dạn cứ chủ
động tấn công tôi chỉ vì tôi là một trong những người mai sau thừa kế ngân hàng
của ông bố đang đến hồi sa sút, nguy cơ phá sản. Từ ngày nhập hộ khẩu định cư
nơi thành phố biển này tôi được cánh phụ nữ ưu ái thật sự. Có người chế giễu:
thằng Quyền có học vấn, có tiền, khá điển trai: vóc dáng cao ráo, gương mặt
cứng cỏi, chân tay rắn rỏi và nụ cười rất duyên với chiếc răng khểnh nhòn nhọn
như cố chĩa vào thói kiêu kì của một cô nương xinh đẹp, đắt giá và chỉ cần quen
biết trong chốc lát, không cần một lời bắt chuyện, một trong những phụ nữ ấy
chủ động mời tôi đi đâu đó như dạo phố, uống cà phê hoặc vào siêu thị mua
sắm... rồi lên giường, mà tôi, vốn được tiếng là thiếu gia con ngài thống đốc
một ngân hàng ngoài Hà Nội, vì quá nhiều đam mê nên luôn bị bè bạn hút về mọi
phía để rồi cứ xung đột cãi vã, ẩu đả,... làm bố mẹ hết chịu nổi, cuối cùng các
vị cũng thu xếp để tôi chịu mua một căn hộ trong khu chung cư cao cấp mới xây
dựng tại miền duyên hải này cùng tài khoản riêng mà ngoài số tiền bố rót vào
như rót nước, tôi vung tay quá trán thì vẫn có thể cưới hàng chục cô vợ và sinh
hàng đàn con, ung dung suốt đời. Ngoài ra, mẹ tôi (bà mẹ giỏi buôn bán cũng như
chụp giựt trên các sàn chứng khoán lại hết mực tự hào về cậu quý tử), mỗi tháng
vẫn chuyển hàng chục ngàn usd để tôi tha hồ tiêu xài. Mẹ chỉ sợ tôi nghiện ma
túy và cờ bác, tôi từng hứa với mẹ bản thân tôi hoàn toàn dị ứng với nàng tiên
nâu cũng như bác thằng bần...
Tôi đã rất buồn cười khi nghe một em
thỏ thẻ những gì người khác nói về mình. Không mấy ai hiểu tôi không nhầm lẫn
khi chọn bục giảng thay vì về công việc ở phòng thống kê của bố. Nó sống lay
lắt đến bây giờ là nhờ bố dám nhận mọi trách nhiệm về phần mình: cơn bão lạm
phát quét qua, hàng trăm con nợ bỏ trốn, chủ ngân hàng điêu linh nhất nhưng mấy
ai lường trước hiểm họa này. Bố muốn tôi tìm một chốn nào đó, an phận trong vai
trò của một công chức hoặc một anh giáo quèn vì ông quá sợ cái viễn cảnh bi
đát. Cả nhà tôi đều biết vào những thời kỳ ổn định hơn, tôi có thể yên tâm làm
bất kỳ điều gì sau đó thì thay ông ra gánh vác cơ nghiệp, nhưng trong buổi này,
với năng lực hạn chế, tôi chẳng nên chung lưng đấu cật với bố. Đúng hơn bố tôi
lo âu cả bố lẫn con cùng chết chìm. Tôi tạm hài lòng khi xin được chân giảng
viên ở trường đại học. Tôi thật sự yêu nghề. Tại trường, tôi với vai trò giảng
viên bộ môn Xử lý số liệu thống kê bằng
máy tính, và đồng lương được tính theo giờ nhìn chung đáng để cho giới trí
thức thành phố mong ước nhưng còn lâu mới sống nổi từ nó nếu tôi không kiếm
thêm từ tiền bán bản quyền các bộ ảnh nghệ thuật. Tôi vẫn lên lớp theo lịch vào
các buổi trong tuần. Sẽ không có gì đáng nói nếu hàng ngày tôi không khám phá
ra bên ngoài những số liệu cùng bảng thống kê và những cô cậu sinh viên lúc nào
cũng căng thẳng, máy móc và tranh nhau từng phẩy điểm số ở bảng thành tích học
tập, tôi còn thú vui khác là rong ruổi đó đây để tiêu phí từng thước phim mong
có được những bức ảnh ưng ý nhất, mà hình như tác phong nhà giáo làm cho tôi
trở nên mô phạm và không thích sống hết mình, chơi hết mình, làm việc hết mình
như cánh thanh niên cùng tuổi ở Hà Nội ngày nào. Đến năm ba mươi tuổi, tôi vẫn
chưa từng say đắm một người đàn bà và cảm nhận niềm háo hức trước một tấm thân.
Không hiểu vì sao trước giờ rất nhiều phụ nữ thân cận nhưng chẳng ai làm cho
tôi bừng dậy một niềm đam mê. Hồi nhỏ tôi vẫn thường nghe bố nêu ra bốn cái
sướng nhất trần đời khi làm người đàn ông: ăn
Tàu, ngủ Tây, cưới vợ Nhật Bản, chết Việt Nam. Bố mẹ tôi thích đùa: chết
thì không nên thử, còn ba món kia nếu chưa, mình hãy thử xem. Nhà tôi thuở ấy
đủ tiền để đưa nhau đến các hội quán học đòi lối ăn uống kiểu giới nhà giàu
Trung Hoa đâu vài lần. Riêng bố mẹ ngủ theo kiểu người nước nào thì tôi không
dám lén nhìn, các cụ vẫn đùa rằng mai sau, khi có nhiều tiền, tôi cứ sang Nhật
mua một oshin nhan sắc chim sa cá lặn về làm vợ.
Bên cạnh nhà tôi là phòng của đôi trai gái thuê trước
ngày tôi dọn đến chưa lâu. Hiếm khi tôi trông thấy cô ta. Trước khi tôi thức
dậy cô ta đã đi làm và hôm nào cũng về nhà lúc không giờ (là thời điểm tôi đang
cuộn tròn trên giường). Tôi biết gã đàn ông là nhờ vào các ngày thứ bảy, chủ
nhật gã luôn có mặt ở nhà, thỉnh thỏang gã tiếp rượu các cô ăn mặc mát mẻ mà hễ
ai hỏi là gã buông một câu cộc lốc: gái ghẹ
thời a còng! Cũng nói thêm trong khu nhà này không ai tai quái như họ.
Những cuộc cãi vã liên miên của hai người khiến hàng xóm cứ thấy tốt nhất là
mỗi khi họ lời qua tiếng lại mình cứ khóa trái cửa phòng và bưng tai bịt mắt để
khỏi phải nghe những điều tiếng kinh khủng nhất mà họ dành cho nhau. Một đêm
tôi nghe cô ta mãi gọi cửa nhưng gã không mở. Thế là sau mấy tiếng đồng hồ vừa
tru tréo tên người đàn ông, vừa gào thét chửi bới, cuối cùng cô ta cũng thôi
tra tấn tôi đến phải mất ngủ vì có lẽ gã kịp sửa soạn đi ăn sáng. Một chị thuê
nhà phía bên trái than thở với tôi rằng bọn họ có học là thế mà sao trong những
cuộc cãi nhau trở nên hỗn ẩu như đám lưu manh vô học. “Chị cũng có học phải không?”
Tôi hỏi vì biết chị sẽ hãnh diện. Chị bảo: “Tôi cũng như cậu!” Tôi rút về phòng
vì nhớ cái cảnh đêm kia, chị ta đã ngả ngớn trên ô tô của sếp chị đậu dưới lề
đường. Anh chồng đang công tác đâu tận Đà Nẵng. Dù vợ trí thức hay không trí
thức thì anh chồng vẫn bị cắm sừng và bà vợ xem ra rất mong chồng thường xuyên
công tác tỉnh xa dù thỉnh thoảng chị alo cho chồng: “mình ơi! Em nhớ mình đến điên
dại...”
Tôi bắt đầu chán những trò check mail với đám bạn gái
thân thiết Hà Nội. Câu hỏi: bao giờ cậu
về? làm tôi thấy ớn. Hồi xưa tôi khá hào hiệp với họ. Tôi được họ yêu quý.
Tôi bỏ đi khi biết rằng từ nay mình sẽ không rủng rỉnh tiền bao trọn các cuộc
vui. Cũng may chỗ hiện tại của tôi không đến nỗi nhưng rủi cho tôi là đôi trai
gái bên cạnh không mấy biết điều.
Tôi đã nhiều lần chứng kiến cảnh sát phạt, đâm chém,
thanh tóan nhau trên phố, bản thân tôi từng đánh lộn và đua xe, có lần đi bão
tôi bị nạn phải vào bệnh viện, lần duy nhất ấy chưa phải cưa chân, đó cũng là
năm tôi phải bỏ dở trường nghệ thuật. Vậy nhưng chưa bao giờ tôi thật sự biết
có những người như đôi trai gái phòng kề cận. Họ thù hận nhau đến mức chỉ thích
bóc mẽ mặt trái của người kia cho hàng xóm láng giềng cười:
- Này! Tôi nói cho mà biết. Cô muốn lang
chạ với đủ hạng đàn ông thì cứ việc. Nhưng từ nay tôi cấm cô về gọi cửa sau nửa
đêm. Nếu những thằng ăn nằm với cô phải về với vợ trước sáng mai còn cô chẳng
thể về sớm hơn thì cứ việc ra cống rãnh mà ngủ!
Cô vợ gào lên nghe phát long óc:
- Đồ khốn nạn! Tháng nào tôi cũng phải
nhận việc cả hai ca nên làm khuya về muộn. Tôi phải nai lưng mới kiếm đủ trả
tiền thuê nhà cho anh ăn ở đấy. Không có tôi thì anh giỏi lắm là ra nhà thổ ngủ
chung với mấy con đĩ ngày nào cũng đến nhà tôi đổ bệnh vào anh! Tại sao tôi lại
dây vào một thằng ăn tàn phá hoại đến như thế hả trời? Anh nhìn coi: lương
tháng của anh có đủ anh tiêu không? Anh moi móc, đem bán cả giày dép, bóp ví
của tôi. Tốt nhất từ nay anh đi tìm chỗ khác mà ở. Nhà này của tôi. Anh không
có quyền hành gì đừng có hòng cấm cửa…
Tôi không biết gã nghĩ gì khi bị cô ta
xua đuổi ra khỏi nhà, và nếu đúng cô ta thuê ngôi nhà này bằng chính tiền cô ta
làm ra và ỷ như thế ngang nhiên đi sớm về muộn thì gã không có lòng tự trọng
hay sao mà vẫn tiếp tục chung sống. Cô ta nữa, cô nợ gã thứ gì kia chứ? tại sao
cô không bỏ quách gã và tìm thuê một căn phòng khác? Hành hạ nhau bằng những
lời thô bỉ thì quá khủng khiếp nhưng họ không thôi hành nhau.
Tôi thử hình dung một ngày mình cưới
vợ: cô nàng tôi yêu phải khiến cho đàn ông cả thế giới này ghen tỵ với tôi. Lần
ấy tôi trông thấy một thiếu nữ Nhật Bản đang tạo dáng trước hàng trăm ống kính.
Cô vừa đăng quang hoa hậu biển. Khi xem video clip: “Thiếu nữ Nhật xinh đẹp một mình trên biển” tôi chợt đem lòng yêu.
Tôi nghĩ về cặp trai gái cạnh nhà. Tôi không biết có thật cô ta phải làm việc
hai ca trong ngày kể cả ngày chủ nhật và ngày lễ không? Nếu đúng như thế thì sẽ
kiệt sức và chẳng mấy chốc sẽ chết vì thằng đàn ông khốn nạn không ai bằng. Cô
có ngã bệnh cũng chẳng ma nào đếm xỉa. Cứ cung cách gã thì cô là một thứ nô lệ
trá hình. Tôi phát lộn mửa khi nghe mấy người đàn ông trong khu chung cư bảo
rằng, trong khi cô ta vắng nhà buổi tối, hắn nằm ườn xem phim sex và chỉ mong
cô ta sớm về để hành lạc vì lúc này bản năng trong hắn trỗi dậy, chỉ khi thấy
phải chờ quá lâu hắn mới điên để rồi, bốc máu, chỉ cần nghe có người bấm chuông
là trút xuống đầu cô ta những từ bẩn thỉu: “mà
con gái miền Tây xuống tận dưới này sống thử. Hình như cũng xong đại học và làm
việc hai ba nơi, nhan sắc thì đủ cho đàn ông trong khu chung cư ngơ ngẩn nhìn
kia đấy”. Tôi không thích tham gia đàm tiếu điều kia, tiếng nọ. Để dịu bớt
đầu óc tôi tìm hình ảnh người đẹp Nhật và bao giờ tôi cũng mơ thấy mình nắm tay
nàng chạy trên bãi biển trước mỗi bình minh.
Hồi theo học ngành nhiếp ảnh, tôi thích dạo qua các ký
túc xá nữ để tìm chụp những gương mặt thật cá biệt. Tôi học dở năm thứ hai và
bỏ: một phần vì nghề này chỉ hợp với những tay chơi thượng hạng, bên cạnh những
học phần bừa bộn cùng với hàng lô hàng lốc những bài giảng về các trường phái,
trào lưu hầm bà lằng và sự ngái ngủ của các giảng viên khiến tôi khoái các buổi
chuồn giờ đi chơi với cánh sinh viên nội trú. Hồi đó tôi chưa đến hai mươi
tuổi, tôi đã theo nhóm bạn người miền Nam sang trường văn hóa, ở đó tôi quen Dung.
Lúc đầu tôi gọi Dung bằng chị dù nàng nhỏ hơn tôi một
tuổi. Chúng tôi thân với nhau rất nhanh. Tôi thích Dung đứng mẫu để chụp kiểu Cô gái trong bóng tối! Bức ảnh này chụp
Dung khác lạ, từng đem lại cho tôi giải thương ảnh nghệ thuật. Ngay từ đầu tôi
và Dung xác lập tình cảm của mình rõ ràng và dứt khóat: “chúng ta chỉ là bạn của nhau thôi!”. Dung biết tôi trốn học thường
xuyên, có khi cả tháng đến trường nhưng không đến lớp rồi nhờ người khác điểm
danh và lang thang khắp các tỉnh miền núi Tây Bắc để nháy hết những cuộn phim
mang theo rồi không hài lòng đành tống vào sọt rác.
Tôi bị trường buộc thôi học vì bỏ quá nhiều học phần.
Năm sau tôi gạo bài như một cậu học sinh phổ thông để thi trường Ngân hàng. Khi
tôi đang học trường mới thì Dung chuẩn bị tác phẩm tốt nghiệp.
-
Dung làm gì sau khi
ra trường?
-
Có một “ông già”
lớn hơn Dung một giáp chờ Dung về làm đám cưới.
-
Định theo chồng
bỏ cuộc chơi hả?
-
Đó mới là chơi
đích thực!
Hai đứa tôi đã có nhiều buổi tối cùng
lũ bạn bá cổ quàng vai ngồi hát đến thâu đêm bên bờ hồ Tây. Vui nhất là có một
đêm, Dung rủ tôi về phòng nàng trong ký túc xá sinh viên ngủ lại. Cô nàng biết
tôi về nhà khá xa mà ban chiều cả nhóm rủ nhau đi bộ khắp các phố. Chính tôi
cũng không có chỗ ngủ lại đêm ấy nên thấy về phòng nàng cũng không vấn đề gì.
Chỉ khi bảo vệ trường không cho tôi lên phòng Dung vì quá giờ sinh viên được
phép tiếp khách tôi mới nhập cùng mấy thằng con trai ra vỉa hè đánh tá lả đến
sáng. Nhiều năm sau tôi thầm hỏi nếu đêm ấy bảo vệ trường cho phép tôi lên
phòng Dung thì chúng tôi ngủ với nhau như thế nào. Hồi đó Dung nói với tôi là
nàng chưa bao giờ hôn một người đàn ông, Dung cũng chưa hứa hôn với cái người
chờ Dung tốt nghiệp, ra trường... nơi quê nhà.
Dung có một gương mặt già trước tuổi nhưng trong nội
tâm nàng có con người thứ hai hơi baby nên dễ khiến người khác có cảm tưởng
nàng con nít, thiếu sâu sắc, vô tâm thế nhưng chơi với nàng suốt gần ba năm tôi
vẫn không thấy tận cùng chỗ thăm thẳm nơi người con gái ấy. Tôi hoang mang rất
nhiều khi biết sau này Dung đã không kết hôn với người đàn ông mà nàng hứa hẹn,
Dung làm vợ một người nào đó mà tất cả bạn bè của tôi lẫn của nàng đều không ai
biết. Tôi đã tìm hỏi những người cùng thời quen biết cả tôi và Dung nhưng chẳng
ai biết chồng của Dung mặt mũi thế nào, vậy nhưng Dung lấy chồng là sự thật.
Tôi khóc khi tự hỏi làm sao Dung có thể trao tấm thân của mình cho một gã khốn
nạn nào đó. Nếu trong Dung có một niềm ham muốn nhục dục thì kẻ chiếm đọat Dung
ngay từ đầu là tôi.
Lần đầu nghe
tiếng Dung qua điện thọai và chạnh lòng. Trước đó chúng tôi chưa xài hàng cầm
tay này và mất liên lạc. Nàng chia tay chồng đã năm năm. Đó là khi nàng được Phương
Vân cho số di động của tôi và gọi. Dung muốn biết tôi có gia đình chưa? Sao
chúng tôi chẳng bao giờ là hai kẻ yêu nhau? Không lẽ tôi và Dung suốt đời không
tìm thấy người tình của riêng mình?
Lần thứ hai trông thấy em gái Nhật xõa tóc bên bờ biển
với đôi mắt mênh mông như hút hết linh hồn mọi tạo vật trong trời đất này cứ
khiến tôi thao thức. Tôi mơ cưới được người thiếu nữ ấy làm vợ. Dung hỏi tôi
cuối cùng có yêu được ai không? Tôi nói với Dung tôi yêu một hình ảnh tuyệt
trần như thế. Tôi lao vào học tiếng Nhật để đọc những tiểu thuyết từ bản nguyên
tác Nhật ngữ. Những tác phẩm văn học cổ điển Nhật Bản khiến tôi đau xót khi các
cô gái trẻ, đẹp và tinh tế đã không chịu đựng nỗi sự thô tục và tầm thường đã
chọn cái chết chứ không thèm tiếp tục cuộc sống nơi thế gian ô trọc. Tôi bắt
đầu ủy mị như một kẻ đa sầu và ướt át.
Ngày xưa
Dung từng làm những bài thơ haiku và viết vài truyện cực ngắn theo phong cách
văn học Nhật Bản đương đại. Dung đã thành công với vài ba truyện. Về sau nàng
bỏ hẳn lối viết này. Cô nàng đọc Kawabata, Tanizaki, Mishima, Akutagawa, Abe Kobo, Murakami Haruki,... lúc đó tôi thấy Dung có
cái gì rất khó chịu, nhiều khi nửa năm ròng tôi không đến chỗ Dung vì cảm giác
khó chịu đó. Một lần Dung bảo tôi:
- Hồi mười lăm tuổi Dung đã học ở một ông thầy dạy văn cái điều mà
những giáo sư hàng đầu ở Hà Nội không
bao giờ biết hoặc dạy cho Dung biết: thầy trò chúng ta đã mất một nền văn
chương, một nền giáo dục, một thể chế xã hội ngang tầm thế giới. Người thầy
dũng cảm đó đã bỏ dạy và phải đi làm một tên lơ xe cho cha vợ. Ngay lúc ấy Dung
đã biết cuộc sống khó nhọc, khủng kiếp, khốn khổ, cơ cực như thế nào. Dung biết
vì đã trải nghiệm suốt từ thơ ấu: bạo lực, khó nghèo, bị áp bức, bóc lột, đày
đọa, đầu độc, bỏ rơi,... ngày đi, đêm
tới đem đến cho mình bất an, lo âu, hồ nghi và mọi giá trị mà mình nhận lãnh
thật đen tối. Dung đã chết thật sự hồi mười lăm tuổi!
- Vậy thì ai đã sống, đã chơi, đã chiều theo ý muốn trái khóay
của Quyền suốt mấy năm ở Hà Nội mà Quyền nhầm lẫn là nàng Dung baby?
- Baby đấy! Dung đã già cỗi trong cõi đời này khi còn là một bé
gái.
- Thật kỳ lạ! Các cô gái trẻ Nhật Bản chọn cái chết là để hiến
sinh cho tình yêu cái đẹp. Sao Dung không chết luôn ở tuổi hoa niên.
Dung
xem chừng nghĩ ngợi và vẫn cực kỳ khó chịu khi không chịu thay đổi sao cho thật
baby:
- Anh hãy sống trong tình yêu tưởng tượng với những cô gái đẹp
tuổi hoa niên, đó là cách giúp anh thóat khỏi tháp ngà và không phải thủ dâm
hoặc chơi gái...
…
Hồi
còn đi học chúng tôi thường hay cãi nhau về phân tranh giữa hai miền Nam và bắc
Triều Tiên. Nhóm chúng tôi có Phương Vân là người gốc Thanh Hóa nhưng sinh
trưởng ở miền Tây. Có lần Dung cười cợt: “gái miền Tây da trắng mắt trơn, ăn
nói ngọt ngào chiều anh tới bến, không đẹp không ăn tiền!” Phương Vân không
có tính cách vô tư ruột để ngoài da của con gái miền Tây lại người Thanh Hóa
nên anh em Hà Nội chúng tôi trên chọc “khu bốn đuổi ra, khu ba đuổi vào!”
– chúng tôi chỉ xác định duy chỉ mình Dung là người miền Nam và sự phân định
Bắc Nam đến tận hôm nay như Triều Tiên thì Dung hiện đang sống trong một đất
nước khác. “Sự thật dù khắc khe vẫn là sự thật!” Dung không cho rằng mình mất
nước nhưng Dung dứt khoát mình đứng ngoài chế độ chính trị này.
Bọn con trai thấy Dung quá đỗi lạ lùng
nhưng vẫn cho rằng đánh gục một cô gái trẻ bằng tình yêu và hết. Tôi hiểu là
Dung sẵn sàng chơi luôn dù biết mình chơi mình dại. Thế rồi bất chợt tôi bỗng
thích thú đến bốc đồng và lôi Dung đi bơi thuyền trên Hồ Tây hoặc hứng chí là
nhờ Dung cầm lái, dông xe khắp Hà Nội giữa trưa hè nắng quái hoặc chiều đông
lạnh cắt da, cắt thịt.
Mà sao khi không cố ý phô bày tính cách baby Dung vẫn dễ chịu
nhường kia, mà Dung lại chẳng chịu như baby nên tôi mới khó thương nàng. Cánh
văn nghệ sĩ biết Dung ai cũng tỏ ra thích Dung baby. Ấy vậy mà thằng tôi trong
một lần đối diện với nàng giữa giấc mơ buồn về tình yêu với người con gái Nhật xinh
đẹp bỗng thấy Dung hiện ra với diện mạo khác. Nàng gây một ấn tượng cực kỳ đặc
biệt và mãi mãi trong tôi, từ giấc mơ duy nhất ấy tôi chợt hiểu ra rằng nàng
như một tấm ảnh xưa cổ mà ở đó, chân dung nàng được chụp theo lối viễn cận: một
cô gái trẻ có cái nhìn mỏi mệt né tránh bạn, xa hơn phía sau lưng nàng là rừng
núi mà sự thâm u lẫn hoang tịch, những bí nhiệm và cả những mật ước nếu có với
những cổ tự, đã được phong kín và thật sai lầm nếu chiêm ngưỡng, ảnh liệu hoặc
vờ ra vẻ đọc thông, thấu triệt, rốt ráo, bởi vì bức ảnh đó mãi ở trong tâm
thức, chẳng bao giờ phóng chiếu.
Tôi
ngỡ ngàng trước người phụ nữ thường về giữa đêm khuya vẫn là nguyên nhân những
cuộc náo lọan trong khu chung cư nhưng rồi cô ta xuất hiện trên ngưỡng cửa
phòng tôi. Đó là một đêm oi bức, trời có giông. Căn hộ tôi ở tràn ngập lũ kiến
cánh, mối và bọ rầy. Tôi phải xịt thuốc diệt côn trùng và mở cửa cho thóang.
Mãi đến hai giờ sáng tôi vẫn chưa ngủ được. Người phụ nữ ấy bước vào phòng tôi
sau thóang lưỡng lự:
- Tôi thấy cửa phòng anh còn mở, tôi xin
vào ngủ nhờ để khỏi gọi cửa hắn nhưng sợ phiền anh dù tôi biết nhà anh luôn còn
chỗ và khá rộng.
Tôi nắm tay người đàn bà dắt vào. Cô chưa tới ba mươi
và khuôn mặt trắng mịn không son phấn, cặp mắt đa tình, chiếc mũi dọc dừa cùng
cái nhìn thẳng thắng trông thật khả ái. Rất tự nhiên cô đi lại bồn rửa mặt, vệ
sinh rồi chải tóc, sau đó cô hỏi với ý nếu tôi ngủ trên giừờng thì cô sẽ ngủ
nơi ghế salon hoặc ngược lại được không. Tôi bảo cô cứ vào giường nằm, phần tôi
đã có một tấm nệm khác. Cô không nói gì chỉ nhẹ nhàng nằm xuống giường và ngủ
say sưa. Tôi nhìn cô ngủ chợt thấy trào dâng một niềm thương cảm như vẫn thường
có đối với những bé con. Những đêm tiếp theo tôi cố ý để cửa chờ đợi vì biết cô
vẫn làm về muộn, tôi thức đọc sách và ngầm cho cô hiểu nếu gã không mở cửa cho
cô thì cứ vào phòng tôi mà ngủ, không cần phải la lối, chửi nhau. Cô đã ngủ ở
phòng tôi được ba tháng, trong suốt ba tháng ấy, có một sợi dây oan tình cứ
đang cháy chậm trong tôi. Rồi dịp tết dương lịch, khi gã nghỉ phép về thăm quê,
cô mời tôi sang phòng chơi, đêm đó chúng tôi cùng uống rượu có thức nhắm và
nhấp nháp vài ba món do chính cô làm. Chúng tôi nói chuyện thật nhiều và cô trở
nên đáng yêu một cách kỳ lạ. Cô đã dìu tôi vào giường và thật dịu dàng, cô dạy
tôi cách ve vuốt người đàn bà để họ sung sướng. Cô có những cử chỉ khiến tôi
cực kỳ dễ chịu và tôi không thể làm gì khác hơn là ôm ấp tấm thân mềm mại làm
tình suốt đêm. Ngày tiếp theo đúng vào chủ nhật nên hai đứa được nghỉ lễ, không
bận việc gì và cứ quấn lấy nhau. Tôi không nhắc bất cứ điều gì về gã. Tôi bảo
nếu cô đồng ý, tôi sẽ đưa cô đến nơi khác sống. Cô cười khó nhọc và khuyên tôi
thôi ý nghĩ dại khờ ấy. Cô cố tình ngủ với tôi để dứt bỏ gã mà thôi. Từ bữa ấy
cô không bao giờ ngủ nhờ phòng tôi nửa. Bản thân tôi sau khi thụ hưởng và biết
được những khóai cảm xác thân, tôi bắt đầu tìm kiếm bạn tình. Vài ba cô gái đến
với tôi thật đơn giản. Họ đẹp và giàu, họ yêu tôi vì biết tôi là con của ông
chủ ngân hàng nhưng không ai trong số họ hiểu tình trạng thê thảm của bố vì cú
điện thọai nào gọi cho tôi bố cũng tuyệt vọng: “bố không biết nên trốn ra nước ngoài
không đây?”. Tôi phải nói lời chia tay từng em. Tôi cho các em biết
người phụ nữ thật sự của lòng tôi phải biết gánh vác giúp tôi tiền bạc. Em nào
nghe tôi nói thế cũng giễu cợt ông giáo
gàn và bỏ luôn.
Tôi không mơ thấy Dung lần nào nữa nhưng
rồi Dung tìm đến chỗ tôi. Cả hai cùng dạo chơi một ngày dưới những rặng thùy
dương xanh mát. Dung đã ngồi giữa bãi biển vẫn còn giữ nguyên vẻ hoang sơ và
khỏa thân để tôi chụp những bức ảnh theo ý muốn. Dung trong tư thế con người
thuở hồng hoang bỗng tóat lên một vẻ đẹp nguyên thủy khiến tôi bàng hòang. Tôi
đã chụp Dung đến cả ngàn kiểu khác nhau. Ngay cả khi Dung quay về với đứa con
nhỏ, tôi còn theo đến tận nhà ghi hình hai mẹ con. Khi nghe tôi kể mình làm
việc ở Nha Trang, giữa những người miền Nam của Dung, ai cũng ngả về phía mình.
Dung bảo thậm chí nàng có một tương lai ít u ám hơn nếu ngày trước nàng ở lại
Hà Nội của tôi.
Bán xong căn hộ ở khu chung cư cao cấp
tôi chọn thuê một căn phòng nhỏ ở ngọai ô. Tôi vẫn dạy học nhưng thời gian rảnh
tôi lên mạng rao bán những bức ảnh của mình. Vài triệu tiền lãi trong tài khoản
hàng tháng là toàn bộ số tiền tôi chu cấp cho bố.
Cô ta gặp tôi vào một chiều ngoại ô lúc tôi bị cô lập
trong nỗi đau buồn khi biết bố vỡ nợ và hầu tòa. Sau gần một năm gặp lại cô ta
trông có vẻ hiền lành hơn. Bố đã bị lừa gạt và phản bội. Mẹ cũng quay lưng lại
bố. Trước đó bố nói với tôi hãy an phận và lo chuyện vợ con là vừa. Bố luôn
nhắc tôi đừng dính vào chuyện tiền bạc. Cả đời bố quay vòng giữa tiền và tiền.
Ai cũng biết bố giỏi làm ăn. Tôi chưa bằng ngón tay út của bố. Tôi không biết
cách làm cho đồng tiền sinh lời. Ngay từ nhỏ tôi chỉ quen tiêu tiền.
Cô ta an ủi và sau này còn chia sẽ với tôi từng đồng.
Gã đàn ông cùng cô ta chung sống đã biển thủ công quỹ. Cô ta không biết những
chuyện này. Khi gã trốn được ba ngày cảnh sát mới ập đến. Tất cả những gì sắm
được bằng tiền cô ta làm ra đều bị niêm phong, thu giữ. Cô ta chẳng còn gì để
mất nhưng lại tin tôi là người độ lượng nhất trên đời và ngộ nhận tôi yêu cô
ta.
Ban đầu chúng tôi lặp lại tình trạng sống thử mà cô ta
từng trải qua. Cô ta cho tôi biết ngày trước gã đã si mê cô ta đến mức bất chấp
gia đình phản đối gã đưa cô ta về Nha Trang thuê nhà chung sống. Ban đầu hai
người rất hạnh phúc, về sau gã phát hiện ra những bức thư từ Pháp gửi về. Gã
càng ngày càng ghen điên cuồng và độc địa. Gã đổ lỗi vì cô mà gã bị gia đình
chối bỏ. Cô ta còn kể hồi chưa theo gã cô đã trải qua mối tình đầu với người
bạn trai chung lớp từ thuở nhỏ. Anh chàng đi thực tập sinh rồi không về nữa.
- Mà em cũng biết là anh ấy sa cơ, lỡ vận
sao đó. Thời buổi này khủng hỏang kinh tế tòan cầu, anh ấy gặp đủ khó khăn nơi
xứ người. Anh ấy viết thư cho em bảo đừng chờ anh ấy nữa. Ngày xưa em đính hôn
với anh ấy. Thế nhưng anh ấy cho biết hiện tại anh hết sức lao đao. Anh ấy
không muốn về và dù sống chết gì anh cũng ở lại nước bạn.
Tôi muốn nói với cả thế giới rằng chuyện em đính hôn
với người yêu đầu tiên không đáng để em phải chịu một cuộc sống địa ngục với
gã. Em từng rất đanh đá, ngoa ngoắt nhưng bấy nhiêu đó chẳng ăn nhằm gì. Tôi
không yêu Dung nhưng biết là Dung không hạnh phúc khi lấy chồng. Em là người
con gái biết đem đến cho người đàn ông như tôi niềm sung sướng tột đỉnh trong
thú vui ân ái. Rượu ngon cái cặn cũng ngon! Tôi không bao giờ nói em biết điều
ấy.
Dung thấy tôi kết hôn với em đã cười
chê tôi là anh chàng mơ mộng thiếu may mắn. Cứ theo giọng Dung thì con gái miền
Tây ở miền Trung chả ra gì. Dù vậy người đàn bà của tôi cô ta sắp sinh con và
tôi không muốn ai xúc phạm cô ấy.
LTT
LỜI CẦU AN CHO BA MẸ
“Buồn
lắm hả ta ơi!” Câu hỏi vang lên trong đầu liên miên thành một điệp ngữ vô nghĩa
suốt mấy ngày nay Chi phải nghe. “Chạy về đi! Về bên mẹ, sà vào lòng mẹ, nghe
mẹ la rầy, mắng mỏ, trách cứ hoặc than phiền điều gì đó cũng được hơn là ngồi ở
đây, trong căn phòng trọ vắng vẻ và có đôi chút u ám này”.
Chi nhìn những vần thơ mới viết trong đêm qua: Lời cầu an cho ba mẹ. Chi tin vào sức
thần của đức tin và nguyện cầu. Chi mơ ước ba mẹ sẽ sống lâu, rất lâu, ít nhất
cũng phải vài mươi năm nữa và lúc nào cũng khỏe mạnh. Chi muốn kiếm đủ tiền xây
gian nhà nhỏ làm chốn an cư cho mình. Toại nguyện Chi sẽ đón ba mẹ về chung
sống. Nếu ba mẹ thoái thác vì đã có nhà cửa rồi Chi sẽ nhõng nhẽo rằng: “Ba mẹ
về ở với con đi. Đất ruộng ba mẹ có chút ít đó để con thuê người làm mỗi khi
sang mùa vụ. Nhà con có gác cao để tránh lụt. Hiện nay con kiếm được chút ít tiền.
Con lo được cái ăn, cái ở cho cả nhà. Suốt đời con chỉ mong làm được bấy nhiêu
thôi. Mẹ xem nè! Con vừa sắm được bếp ga, nồi cơm điện, máy quạt… Cứ nhìn mẹ lọ
mọ bên bếp lửa liu hiu đầy tro than và những lúc thiếu củi đun phải đun rạ khô
tro bụi cay sè mắt mà con xót. Có tiền con sẽ hiếu thảo như ai! Mẹ ở với con sẽ
đỡ vất vả. Con chỉ mong ba mẹ đừng rên than những lúc đau ốm, con biết xoa bóp,
cạo gió, giác hơi để mẹ bớt đau! Con chỉ xin ba mẹ một điều thôi: đừng kêu khổ,
trối chết bé con nó sợ...”
Mẹ cười:
- Nó lớn rồi
còn gì?
Con giật mình:
- Nó lớn thật rồi. Vậy mà trong mắt con
bao giờ nó cũng như một đứa trẻ sơ sinh. Mỗi khi có ai đó bắt nạt nó là con
bảo: “đừng chọc em!” Nghe vậy mọi người cười.
Mẹ lắc đầu:
- Con lúc nào cũng như con nít mà nó thì
lớn như dưa!
Chi nhìn thật nhanh ba mẹ rồi nhìn
đống bát chén ngổn ngang giữa nhà. Đã nửa tháng nay mẹ đau tay nên không lau
quét nhà cửa được. Ngước mắt nhìn lên bàn thờ Chi oải cả người: lư hương, bình
bát, tượng phật… bị đập phá tan hoang, từ bàn thờ ra ngoài sân, chén bát vỡ nát,
xoang chảo bừa bộn, méo mó.
Ông Mãnh lại quậy hả mẹ!
- Ừ! giọng mẹ chẳng biểu hiện gì nhưng mặt
tối sầm lại – Hắn thấy cúng tết Đoan Ngọ, hắn đập phá, không cho cúng.
Chi chẳng biết nói gì. Ba Chi thể hiện
nỗi khổ đau qua cái thế ngồi rũ rượi khiến Chi nhìn tưởng đứt ruột. Chi biết mẹ
còn tiếc chỗ đồ ăn thức cúng vương vãi khắp nhà đã mấy ngày chẳng ai thèm dọn
dẹp. Tại sao ông Mãnh đập phá? Chẳng sao hết! Thích thì đập, đạp đổ, đốt, xé
nát mọi thứ. Đó là thói quen độc ác mà ông con trai thường lặp đi lặp lại hành
hạ ba mẹ. Chi biết nói gì đây? Chi từng theo mẹ lên chùa. Mẹ ghi danh cầu an
cho toàn gia, cầu an cho ông con trai bất hiếu. Chi dự lễ cầu an với mẹ và biết
lời nguyện cầu này cũng như ước mơ có một ngôi nhà để đón ba mẹ về chung sống
vẫn hãy còn là ước nguyện. Bao giờ Chi trúng số độc đắc thì tất có tiền làm nhà
thôi. Anh chàng rể giàu sụ của bà cô
ruột Chi hỏi:
- Có bao giờ em mua vé số để hy vọng trúng
độc đắc không?
Chi ngệch mặt và điều này tố cáo với anh
rằng Chi chẳng biết chơi vé số là gì. Anh cười chế giễu: “ngay cả mơ trúng số
cô cũng không mơ nổi đấy!” Thế là Chi quạu:
- Anh giàu như vậy nhưng chắc chắn anh
chưa từng chơi vé số bao giờ. Tui thì dù có nghèo kiết xác cũng đếch chơi!
- Thử chơi đi Chi ơi! Anh không chơi vé số
nhưng anh khuyên Chi nên chơi. Mỗi tháng một vé thôi. Trúng độc đắc một vé cũng
được khối tiền.
Mẹ vẫn ân cần mỗi lần Chi về nhà, còn ba lúc nào thấy
Chi về cũng nhắc: “cơm còn, ăn đi con!”. Chi ăn thứ gì cũng lên cân nhưng không
ăn thì sợ ba mẹ buồn, vậy là Chi nhai, Chi nuốt trộng mọi thứ để ba mẹ hài lòng
và cứ tấm tắc khen ngon.
Chi không dám nói với ba mẹ là công việc hiện nay tệ
hại hết sức. Đúng hơn là trước giờ công việc của Chi cứ tệ hại như thế. Phải
qua hàng chục chỗ làm, chưa chỗ nào trụ quá một năm. Nửa tháng qua Chi bị một
căn bệnh kì lạ. Thậm chí Chi thấy cái chết lơ lửng treo trên đầu. Chỉ khi quá
lo âu, bất an, chạy về với con gái trối chết, bé nói rằng: “con không tin má
sắp chết! Má đợi con lớn, con học nghề y, chữa bệnh cho má.”
Những buổi sáng nắng nóng như đổ lửa
khiến ba Chi tám mươi lăm tuổi gập người thở dốc, mắt tóe nắng ai thấy cũng
chạnh lòng. Ngày hè, công việc không nhiều nhưng cái nắng hè thiêu đốt này ai
không phải làm gì vẫn lo chạy nắng. Chi nhìn ba mà cháy ruột gan, từ hôm ở bệnh
viện về đến nay cô không biết phải làm gì để ba yên tâm, nhà nghèo, không tìm
được công ăn việc làm lấy gì mà sống, nhà ở quê, vô công rỗi nghề thiên hạ nhìn
vào dèm pha, Chi không còn trẻ nên việc vác hồ sơ đi gõ cửa các cơ quan trở nên
chướng nghịch, bán buôn càng không quen, lại nửa, biến chứng từ ca mổ khối u
làm cô nặng tai nghe khó, giao tiếp khó, làm ăn khó nên cái nghèo đeo bám dai
nhách.
Mấy năm nay thím Phù ít về nhà chơi,
chẳng bù với ngày chú Phù mới mất, dạo ấy thím hay qua nhà Chi than phiền đủ
thứ chuyện trên đời, chuyện từ cái chết của chú Phù mà ra, cứ như thím nói thì
chú Phù đang làm đất trồng rau ngoài vườn, chú kêu mệt rồi vào giường nằm, chú
nằm ngủ, cứ thế chú ngủ giấc ngủ ngàn năm, bỏ mẹ con thím. Buồn thì cứ tỉ tê
vậy rồi thím cũng quen dần với mất mát, ít ghé nhà Chi hơn, mà ghé sao được,
thím đã vào sống hẳn trong chùa với cậu Út xuất gia hơn chục năm nay.
Cuộc sống vẫn trôi đi bình lặng nhưng
tuổi già xồng xộc tới, nhìn thím Phù tóc bạc phơ, nhìn ba vóc hạc da mồi mà đau
xót, ngày tháng cứ tuần tự trôi đi, những ông già bà cả cứ như trái chín cây e
sợ gió lay rụng.
Thường, chẳng có điều gì để phải nhắc
đi nhắc lại nhiều lần, cũng chẳng có việc gì đến kì công trong cái gia đình và
họ hàng nhà Chi. Nhà nông cực lắm nhưng ai cũng biết cày cuốc mưu sinh. Cái vụ
cậu Út nhà thím Phù xuất gia xem như hành động khác thường nhưng có khác thường
bao nhiêu cũng không thành vấn đề khi mà cậu đã trải qua những cuộc thử lửa hồi
học nghề lái xe ô tô và vào lính, cậu hình như vay đủ gian nan nhưng không
thành anh hùng để lãnh nợ đời. Cậu đi tu thế là xong.
Chuyện cô gái trẻ yêu cậu Út bị đau đau
tim chết khi mới hai mươi thường về ám ảnh cậu Út chỉ riêng cậu biết, có lần
cậu kể trong lúc ngồi sau tay lái xe ô tô, đang bon bon cô gái ấy không biết ở
đâu xuất hiện ngã vào lòng cậu. Chuyện cậu đi tu có liên quan đến cô nàng không
chính cậu cũng ái ngại, không muốn nói khi được hỏi. Chuyện đời mà! Cậu hay mập
mờ như vậy nhưng có thế nào giờ đây cậu cũng đã thành đại đức trụ trì một ngôi
chùa to và cậu chỉ dạy người đời niệm A di đà Phật trong bất kì hoàn cảnh nào.
Thường người ta biết “tu là cội phúc”
vậy nên thím Phù vào chùa sống bên cạnh cậu Út là phúc thì việc Chi chưa có
duyên xuất gia gặp đủ mọi vận hạn xui xẻo quả là dây oan. Bao giờ cô cũng cười
khi người khác tỏ thái độ thương hại, cô hay bảo “không may thôi mà” đâu chỉ
không may, mọi thứ dây oan đến thành nỗi bất hạnh và cô sống với những bất hạnh
mà không ai ngoài cô gánh nỗi.
Hơn hai mươi
năm trước, Chi vào đại học, cô những tưởng mình sẽ có được sự nghiệp, công
danh. Oái oăm, tai họa sống chung với cô và dù có nghèo đến cỡ nào cô cũng vẫn
là một nhà thơ kì lạ.
Chi cũng ngạc nhiên không hiểu sao những người phía
nhà chồng không hề thấy Chi đang trong trạng thái nổi giận. Họ hỏi Chi những
điều Chi không thích trả lời. Xem chừng họ tin rằng Chi sẽ xấu hổ khi bị một
con điếm giành chồng.
Chi có tỏ ý cho bà chị chồng hiểu rằng: Chi rất muốn
về sống cùng chị. Chi thích phụ giúp với chị dựng thêm dãy chuồng trại nuôi gà
công nghiệp như thằng rể chị đang làm nhưng chị lại hiểu là Chi đùa giỡn. Chị
và những người ở quê chồng Chi lâu nay bảo rằng Chi ghét xứ chồng lắm, mà yêu
sao nỗi chốn khỉ ho cò gáy. Đàn bà làm ruộng và vào vào núi đốt than, đốn củi
đem bán, đàn ông cũng đi củi, bứt mây, chặt đót, lấy gỗ, ngậm ngải tìm trầm. Chi
lại đang lo lắng vì một điều chỉ riêng Chi hiểu. Chi nói với chị chồng:
- Giúp em nuôi bé Du nhé! Dù mai sau có thế
nào chị cũng dạy bé hiểu rằng: ở đời này mà không làm gì có ích thì cuộc sống
sẽ quá đỗi vô nghĩa.
Chị không biết nói gì với Chi ngoài
việc cứ hỏi những điều ngớ ngẩn lần nào cũng như lần nào! Chi tự hỏi chị có
biết ông Mãnh đã trở thành trùm khủng bố trong nhà Chi từ khi Chi hãy còn là
đứa trẻ nhỏ hơn bé Du hiện nay không? Rằng Chi sợ ông ấy bạo lực trẻ em nên
thay vì để nó sống bên nhà ngọai Chi đã gửi nó cho chị. Thế nhưng Chi thấy là
mình không muốn nói bất cứ điều gì về ông Mãnh lúc này. Chợt Chi kể với chị về tên Khương:
- Hắn tìm mọi cách bủa vây cuộc sống của
em! Lần này về thăm bé Du, hắn bảo một con điếm bám theo. Thời buổi này gái
điếm lái ô tô đến một vùng sơn cước vênh vênh váo váo. Làm như một quí bà chiếu
cố đến dân tình mà đủ nam, phụ, lão. ấu… xúm lại nhìn ả sướng mê tơi.
Mọi chuyện từ gã lưu manh tên Khương
mà ra. Nhưng lúc này đây nhắc đến hắn kể cũng vô ích vì hắn đã đứng ngoài cuộc.
Chắc chắn là Chi không sao bắn vỡ sọ hắn nổi. Hắn dùng mưu chước gì mà hại cô
đến tận mạt, huynh đệ tương tàn? Thực tế có lẽ dễ dàng đến khó ngờ nhất là
trường hợp Chi hoàn toàn không có khả năng tự vệ. Thứ nữa con người nào cũng
mang mầm ác. Gặp phải hạng ác quỷ này tưới vào lòng họ tội ác, hạt mầm ác có cơ
hội sinh trưởng, phát triển. Chi phải tự hiểu cô điên đầu từ lúc những kẻ a dua
theo tên Khương tấn công cô, hễ cô đến đâu là chúng theo đó, nhưng chỉ thế thôi
còn được, đằng này chúng xúi dục những người phụ trách nơi cô xin vào làm sa
thải cô, rồi chúng đuổi theo mãi tiếp tục trò bỉ ổi này. “Văn chương vô mệnh”
mà thằng Khương ngu dốt lại đọc những gì cô viết rồi ghen ghét, oán hờn. Vận
mệnh cô lại chẳng ra gì, có cơ chết yểu. Thói đời “trâu buộc ghét trâu ăn” hắn
sục sạo, moi móc, đòi hỏi bất cứ ai quen biết Chi phải cho hắn xem những gì Chi
viết. Hắn nuốt thơ, văn của cô như quỷ đói nuốt cơm, như đỉa phải vôi. Càng
nuốt vào hắn càng âm độc, biến dạng méo mó như quái thai.
Bây giờ bình tĩnh mà nói thì Chi có
thể vẫn làm thơ nhưng thơ cô trở nên đau xót và căm phẫn, có lẽ cô không nên
làm thơ thì hơn, nhưng viết gì đây, viết về mẹ già hay bản thân cô, con gái của
một ông lão tám lăm tuổi, cái tuổi gần đất xa trời, mỗi độ thím Phù về ghé thăm
ba là y như rằng họ nói chuyện với nhau theo cách của người thân lâu ngày gặp
gỡ, trong chuyện của họ có gió, có mưa, nhưng không bao giờ có nắng cháy mặt dù
cái nắng như đổ lửa mới là điều kinh khủng.
Chi lẽ đương nhiên là chọn một nơi mát
mẻ, ngồi viết. Cô muốn kể câu chuyện về ba và thím Phù, về khu vườn ngày càng
ngập cỏ dại và cô biết ba không còn khỏe mà cuốc dọn để trồng rau, trồng bí,
trỉa bắp, trỉa đậu như xưa, cô không thay ba thì không còn ai làm những việc
này nữa.
Ba chỉ cười một cách đờ đẫn khi suốt
đời cất đầu không nổi dưới tội ác của hai ông con trai. Cái cười của Ba chỉ tỏ
thái độ mình chưa chết trước hai thằng con độc ác, còn ai chết mặc kệ.
Bà chị chồng thấy buồn cười vụ con
điếm. Chưa bao giờ chị biết trên xứ Việt Nam hạng đàn bà này thao túng đủ giới
đàn ông. Thằng em chồng còn chạy theo ả xuống tận Đà Nẵng. Gái điếm vào núi trở
thành sự kiện vui vẻ nhất xóm núi dù là ả theo Chi để chơi trò giành chồng cướp
vợ mà bọn Khương dạy ả!
Chi ước gì ngay lúc đó bà chị chồng và những người
trong nhà chồng hiểu biết một chút mà đi tìm quý ông chồng ăn hại của Chi. Y
suốt đời lưu linh lạc địa. Cô muốn nói rằng: “Tình yêu chắc là thiêng liêng!”. Một
khi lòng người buốt lạnh thì không có chỗ cho tình yêu nhen nhóm. Hồi trước quý
ông chồng không bao giờ nghĩ rằng cô vợ trẻ, mới sinh con đầu lòng dám bỏ ông
chỉ vì những lời nói độc như lá ngón mà ông đút vào miệng vợ. Ông ta không có
tiền mà vợ đau nặng, rất cần số tiền khổng lồ chữa trị. Gánh vác trách nhiệm
không nổi thì thôi, đằng này y trở nên tàn nhẫn. Y tiếc đã không kiếm một cô vợ
giàu. Chi chua chát trong suốt mười năm qua khi hiểu ra rằng “dao chém có ngày
lành thương tích, lời nói theo nhau hận suốt đời”.
- Em đang bệnh nên ở lại ít ngày? Chị
chồng Chi nói thế khi Chi chuẩn bị quay về.
- Em về xem làm được gì thì làm chị ạ! Dù
có thế nào em cũng cố gắng làm việc bằng năng lượng của mình. Chị thấy là em
sức yếu, mệt mỏi như thế này. Chút sức lực vốn có không đủ để em làm việc nhưng
không ai cho mình sức khỏe.
Bà chị chồng nhìn Chi:
- Lúc nãy chị lên thắp hương cha. Chị đã
khấn vái cầu xin cha sống khôn thác thiêng, phù hộ cho em!
Chi thầm cám ơn chị. Cha chồng Chi mất đã lâu. Hồi mới
cưới Chi 25 tuổi, ương bướng và dại dột trong mắt những người thuộc gia đình
chồng. Ông thương Chi nhất, ông biết Chi sẽ khổ khi lấy phải thằng con trai của
ông nhưng ông không lường được Chi khổ bởi những cảnh ngộ nào. Ông mất trước
khi cô sinh bé Du, không kịp biết là vợ chồng cô bỏ nhau.
Mẹ vẫn chờ để thấy Chi làm được điều gì đó. Có lúc Chi
tự hỏi: mẹ sẽ nghĩ gì nếu Chi bỗng lấy được một người chồng lý tưởng trong mắt
mẹ: không phải cái người từng có con với Chi nhưng không muốn tiếp tục làm rể
nhà mẹ đâu mà đó là người đàn ông Chi yêu thật sự. Mẹ chưa biết Chi yêu như thế
nào nhưng Chi chưa gặp ai thương yêu Chi như ba thương yêu mẹ. Suốt đời Chi
hướng vọng một cuộc hôn nhân như cuộc hôn nhân giữa ba mẹ và cho đến giờ Chi
vẫn chưa tìm thấy, có lẽ chẳng bao giờ tìm thấy. Chi không biết cái người đàn
ông Chi từng gọi là chồng có tìm thấy cái nửa của mình như y mong muốn và tìm
kiếm sau đổ vỡ giữa Chi và y không?
Chi muốn nói với ba mẹ rằng: hạnh phúc của Chi sẽ là
lời cầu an mầu nhiệm nhất đối với ba mẹ. Trong hạnh phúc, niềm an lạc của Chi
sẽ tràn ngập đời sống nhưng cả hai đấng sinh thành nên Chi không bao giờ hiểu
được những lời lẽ ấy, đơn giản là Chi từng ngộ nhận về hạnh phúc. Mỗi ngày Chi
ước được về bên ba mẹ, mua một chút gì đó xào nấu, bưng bê đặt trên mâm. Ba mẹ
ngồi vào và cả nhà thưởng thức chỗ thức ăn đạm bạc đã là niềm vui, nhưng mấy
lần Chi làm được như thế. Chi vẫn mãi bất ổn. Mỗi thời khắc trôi đi lại đối mặt
với bao lo âu thường trực và điều Chi mong muốn nhất vẫn là làm sao để có một
lời cầu an đích thực cho ba già mẹ yếu an vui trong những năm tháng còn lại của
đời người. Chi không muốn nói về ông Mãnh – anh trai Chi – không bao giờ muốn
nói nữa. Ông ấy vẫn còn đó, ngày ba bận chờ mẹ Chi cơm nước lên mâm lên bát là
ngồi vào đánh chén cho căng bụng, cơm không lành canh không ngọt là chê bai,
đập đổ, không quên đày đọa tinh thần ba mẹ bằng những cách mà chỉ ông nghĩ ra.
Mỗi ngày sống là uống bao cay đắng vào người nhưng ba
mẹ Chi vẫn tràn trề niềm ham sống, bởi cuộc sống đâu chỉ có đắng cay mà còn
tràn đầy mật ngọt nhưng không phải ai cũng tận hưởng thứ dưỡng chất tuyệt diệu
này. Chi nhớ xưa kia ba mẹ không yêu nhau như bây giờ. Thuở ấy gia đình Chi cơ
cực, lầm than và khổ ải lắm. Ba mẹ sấp ngửa nắng mưa đồng trên ruộng dưới để
rồi mồ hôi, nước mắt và máu cả đời người thấm vào đất, làm tăng chất màu xanh
khắp đồng quê. Ấy vậy mà nhiều lúc Chi co rúm lại khi thấy mẹ và ba cãi vả nhau
vì người này không làm được những điều người kia mong muốn. Chỉ khi mẹ trải qua
những cơn đau thập tử nhất sinh. Ba bàng hòang nhận ra thiếu mẹ ba sẽ cô đơn
lắm, dù con cái còn đó ba vẫn mãi cô đơn. Ba đã chăm sóc mẹ, lo lắng cho mẹ để
rồi qua cơn bạo bệnh, tình yêu của mẹ và ba càng sâu bền. Với tình yêu ấy, Chi
tin mẹ và ba sẽ chờ đến cái ngày Chi xây được một ngôi nhà cho riêng mình làm
chốn nương thân, thôi một kiếp lang thang, nỗi nênh và ba mẹ về bên Chi sẽ tìm
thấy niềm an ổn.
LTT
HỎI THẾ GIAN TÌNH LÀ GÌ
Mai Hân còn
là một nhà văn tỉnh lẻ, ông có một số truyện ngắn in chung trong các tuyển tập
và đăng báo rải rác. Tuy nhiên, vai trò chủ doanh nghiệp của ông mới quyết định
kinh tế nuôi sống gia đình. Sau ngày ông qua đời, lục tìm trong sách vở, giấy
tờ của ông, anh trai ông đọc thấy một bức thư, cụ không rõ đây là truyện ngắn
chưa in của Mai Hân hay là di thư ông để lại. Cụ vốn tin con người có số phận,
cụ hiểu chỉ có sự tha thứ mới giải thoát con người khỏi định mệnh. Cụ phải
trình làng bức thư của Mai Hân. Cụ đã gửi nó đến Ban biên tập một phòng xuất
bản. Bức thư khiến nhiều người bối rối: sự cố chị dâu của Mai Hân chết trước
ông ít tuần là có thật. Nhưng nhà văn vẫn có thể căn cứ trên vài tình tiết để
sáng tạo nên một câu chuyện.
Ca ca!
Tôi muốn gọi anh bằng hai tiếng thân thương
ấy, đã từ lâu chính tôi đã lãng quên cách gọi đó, tôi chỉ quen nói cộc lốc: ông
– tôi. Anh đã điềm nhiên chấp nhận lối xưng hô này như một sự tất nhiên vì hoàn
cảnh xã hội, tuổi tác và quan hệ. Chúng ta không còn là những đứa trẻ nhỏ để mà
xưng hô như các nhân vật trong sách Tàu, hành xử như Lưu Bị, Quan Công, Trương
Phi mà chúng ta sung sướng khi sắm vai trong các trò chơi. Thời thơ ấu đẹp quá
phải không anh?
Ca ca ơi!
Uớc gì giờ đây chúng mình được trả về
với cái thuở tóc để chỏm. Còn nhớ thuở đó anh thích nghiệp binh đao. Anh muốn
có bạn học võ nên chọn tôi và dạy tôi tập luyện, anh chính là người thầy truyền
cho tôi đi những đường quyền đầu tiên. Anh đã sung sướng như thế nào khi phát
hiện ra thằng bé mồ côi đi ở cho nhà anh có những tố chất hơn người để rồi anh
năn nỉ cha già nhận tôi làm con nuôi và cư xử với tôi như anh em ruột. Anh còn
nhớ đêm rằm tháng bảy năm tôi lên mười không? Chúng mình đã rủ nhau đến ngôi
miễu cổ để thề nguyền lúc nào cũng sống chết có nhau, tôi được anh nhận làm em
nuôi như chàng trai nghèo nhận được kho tàng vô giá mà bà tiên nhân hậu và hào
phóng ban cho như trong một truyện cổ tích anh đọc và kể tôi nghe. Tôi bao giờ
cũng hãnh diện với bọn trẻ cùng làng vì được anh ưu ái.
Một lần vô tình anh hé lộ điều bí mật
của bản thân anh rằng ba mẹ chọn tôi làm con nuôi và anh kết nghĩa huynh đệ với
tôi bởi tôi là đứa trẻ nghèo khổ, thật thà, biết mặc cảm thân phận và hơn tất
cả, tôi không giống những đứa trẻ khác trong vùng. Bọn này lúc nào cũng gian
xảo, ưa hơn thua, bị những ông cha bà mẹ vốn ganh ghét với cảnh đầy đủ của gia
đình anh nên thường tìm cách chơi xấu. Các cụ vẫn lo anh kết bạn với chúng nó,
chỉ vì cái lợi nhỏ nhoi mà chúng tráo trở hại anh.
Tôi và anh không biết nhiều lắm về về
lời giải trong lá số tử vi mà ông bạn của ba cũng là một nhà chiêm bốc lừng danh
đã lấy cho anh. Mọi thứ trong lá số đều dự đoán anh có một tương lai vô cùng
tồi tệ. Anh sẽ bị anh em phản, vợ lừa. Ngoài ra, gia tài ba mẹ để lại cho anh
sẽ bị kẻ khác chiếm đoạt. Suốt đời anh bị lừa dối.
Tôi đã buồn nỗi buồn của anh. Tôi tự
hứa với chính mình sẽ suốt đời dõi theo những kẻ đồng hội, đồng thuyền, đồng
trang đồng lứa, ai trở mặt, xúc phạm, lường gạt anh tôi sẽ thẳng tay trừng
phạt. Tôi đã quyết khắc cốt ghi tâm rằng mai sau dù có thế nào, mình cũng đừng
vì một miếng lợi danh mà tương tàn.
Dù thành thật với chính mình đến từng
chân tơ kẽ tóc, nhưng lúc này đây, vết thương trên người đang lở loét, hoại tử,
cái chết cận kề, tôi không thể giữ im lặng và phải đành thừa nhận với anh tôi
là kẻ phản bội người anh cao quý. Tôi lừa dối anh suốt bao nhiêu năm nay. Không
ai vô tâm và tin người như anh. Chính vì điều ấy làm tôi xấu hổ, ăn năn. Trước
khi về thế giới bên kia mà không tự thú, sám hối cùng anh toàn bộ sự thật thì
lương tâm tôi chẳng thể nào thanh thản.
Với nghĩa cử đẹp đẽ để tạo những phúc
lộc cho một kiếp sống vị lai, vì dòng máu ngoại tộc mà anh đã cưu mang duy trì
trong suốt bao nhiêu năm nay, tôi cầu xin anh tha thứ. Tôi biết khi anh tha thứ
cho tôi, tâm hồn anh cao thượng hơn. .
Tôi chẳng cần gì cho riêng tôi vào giờ
phút này. Những gì tôi đã vật vã, giành giật và gìn giữ được suốt bao nhiêu năm
làm kiếp con người giờ đây tôi vui vẻ bỏ lại thế gian này. Tôi bỏ lại thế gian
này cả những việc làm đúng và sai. Khối gia tài lớn nhất đời mình tôi cũng bỏ
lại. Tôi về thế giới bên kia với đôi bàn tay trắng.
Ngày hôm qua đứa con gái đầu lòng về
thăm nhà và thắp hương mẹ. Cháu nó đến bên tôi và nắm tay tôi trào nước mắt.
Cháu than thở rằng suốt thời thơ ấu, cháu được tôi trông nom dạy bảo. Anh đi
chinh chiến quanh năm. Đã có lúc cháu nghĩ tôi là ba của cháu. Hình ảnh anh mờ
nhạt trong tâm trí con gái. Tôi biết anh từng phiền muộn bởi điều này. Nhưng
con gái anh có quyền yêu hoặc ghét ai tùy theo cảm xúc phát sinh từ lòng nó.
Chẳng bao giờ anh so bì tại sao con gái yêu quý chú hơn yêu quý chính người cha
ruột.
Anh hãy trầm tư nghe tôi thổ lộ những
bí mật tày đình. Tôi không biết nó có làm anh đau khổ không?
…
Hơn ba mươi năm trước khi tôi mới hai mươi tuổi còn anh hai mươi ba. Làm gì, ở
đâu anh em mình cũng bên nhau. Đám bạn vẫn gọi chúng ta là cặp bài trùng. Hai
anh em bao giờ cũng ý hợp tâm đầu và đã bày ra đủ trò chọc giận thiên hạ. Ba mẹ
đã hết lời rầy la mình. Cái ngày ba mẹ
tuyên bố sẽ cưới vợ cho anh khiến tôi hốt hoảng. Tôi hình dung một phụ nữ về
chung sống trong nhà, giữ rịt lấy anh. Hễ anh đi chơi hoặc nhậu nhẹt là chị ta
đá thúng đụng nia, mặt sưng mày sỉa. Tôi cần gì ở anh đến gọi là chị dâu giở
quẻ chửi chó, mắng mèo đuổi khéo để tôi cút cho nhanh... thế là tôi buồn, bỏ
ăn, bỏ chơi. Suốt mấy ngày tôi chỉ sợ mỗi một điều là cô vợ anh sắp cưới cướp
mất anh của tôi. Từ nay tình nghĩa anh em coi như kết thúc. Cũng có lúc tôi
nghĩ xa xôi đến chuyện hai anh em trong sự tích trầu cau.
Thấy tôi ngồi lặng và buồn rầu thở dài,
anh dỗ dành và hết lời ca ngợi người vợ chưa cưới. Tôi không tin vợ anh có
những phẩm chất kỳ diệu, anh rủ tôi cùng đến nhà nàng chơi để tôi biết chắc là
anh không khen quá lời.
Đó là ngày đánh dấu sự phản bội tình
huynh đệ cao cả. Ước chi tôi không biết gì về người con gái đó. Thuở ấy nàng
mới hai mươi và đẹp đến mức tôi mới nhìn thấy nàng lần đầu đã đắm say ngây
ngất.
Khi tôi hỏi anh có yêu nàng nhiều
không anh buâng khuâng. Anh cho tôi biết anh yêu nàng và dùng tất cả sức mạnh
mà anh đang có, kể cả sự khá giả của gia đình để chinh phục nàng. Anh tâm sự
rằng anh biết rõ là lúc đầu nàng không đồng ý làm vợ anh. Về sau ba mẹ nàng
thuyết phục gần như cưỡng ép, nàng đã gật đầu. Người con gái ấy hẳn sẽ có một
cuộc sống hạnh phúc với anh trọn đời nếu tôi không can thiệp quá sâu vào cuộc
đời nàng.
Như tôi đã nói với anh là tôi đắm say
nàng. Ngay giây phút đầu tiên nhìn thấy cô ta tôi đã yêu. Có gì đó gần như tiền
định kết gắn ba chúng ta lại với nhau. Hỡi ôi! Lúc mà tôi nhận ra một tình yêu
sét đánh giáng vào lòng mình cũng là lúc anh chuẩn bị xong xuôi cho một cái đám
cưới.
Giá như đó không phải là vợ của anh
tôi sẽ tìm cách ngỏ lời yêu nàng và xin gia đình nàng hủy lời hôn ước với kẻ mà
nàng không yêu. Nhưng đằng này mọi thứ đều không như ý tôi muốn, để rồi tôi đau
đớn âm thầm cho đến một ngày tôi đã phải dùng những thủ đoạn tinh vi và để lại
những hậu quả tai hại mà bây giờ điều đó trở thành một bí mật khủng khiếp.
Anh vô tư và tin tưởng lòng thành của
tôi, còn tôi, khi trong lòng nẩy sinh tình yêu với vợ chưa cưới của anh thì lòng
ích kỷ, ý thức sở hữu cũng theo đó lớn dần theo. Tôi bí mật theo dõi hai người
và biết người con gái kia cũng chẳng mặn mà với anh lắm. Nàng vô tư hoặc có thể
nàng chưa biết yêu là gì. Nàng chấp nhận sự sắp đặt của gia đình chẳng qua như
mọi thiếu nữ, nàng quan niệm: hoa đến thì
phải nở, gái đến tuổi thì đi lấy chồng.
Niềm yêu và nỗi nhớ hướng về người phụ
nữ mình si mê ngày càng lấn át lý trí. Mãi sau này khi đến tuổi xế chiều nhìn
lại tôi thấy mình thật tội lỗi nhưng tôi chẳng thể nào sửa chữa sai.
Ngay cái hôm ba mẹ chuẩn bị cho đám
cưới của anh tôi đã tới tận nhà tìm cô gái. Tôi gọi nàng ra rẫy và trong cơn
hứng tình bộc phát. Tôi đã ghì chặt lấy nàng bày tỏ tôi yêu nàng. Nàng xúc động
không nói nên lời còn tôi thì nói rõ ý định của mình là tôi sẽ bỏ đi thật xa,
tôi không thể nào sống chung dưới một mái nhà mà ở đó người mình yêu đang là vợ
anh.
Đàn bà vốn nhẹ dạ. Chỉ trong chốc lát
cô gái đã ngã lòng. Chính nàng cũng tự thú không biết tại sao nhưng nàng đã
không cưỡng được lời tỏ tình nồng nhiệt của tôi, nàng bảo rằng ngay giây phút
đó nàng nhận thấy là nàng yêu tôi và nàng chỉ muốn đi theo tôi, không cần quan
tâm đến cái đám cưới gia đình sẽ tổ chức ngay ngày mai.
Đêm ấy, ngay giữa rẫy, nàng đã trao
đời con gái cho tôi, và cả hai không một chút day dứt trước nỗi bất hạnh mà anh
phải gánh chịu suốt đời.
Tôi trở về nhà lúc nửa đêm và chẳng
quyết định được điều gì. Tôi nghĩ tới nghĩ lui nhưng vẫn không thể trốn đi. Đưa
người yêu theo thì tôi không đủ khả năng. Tôi không có tiền để lo cho cả hai.
Bỏ đi một mình thì quá sức tôi, nhất là lúc này tôi đã chiếm đoạt đời con gái
của nàng. Tôi lần lữa mãi mà ngày cưới trôi nhanh. Chẳng mấy chốc giờ rước dâu
đã tới. Tôi lấy lý do đau bụng đột ngột chẳng làm gì được bỏ lên gác nằm không
ăn, không uống. Ba mẹ cũng tưởng là tôi đau chẳng đếm xỉa gì đến tôi vì ai cũng
bận rộn và lo lắng cho anh. Tôi tủi thân vì chỉ là con nuôi, thiệt thòi. Tôi mà
là con đẻ đã đòi hỏi quyền lợi chính đáng. Không thèm xem cô dâu chú rể đã làm
những gì trong ngày cưới. Bên người đẹp anh không còn nhớ đến tôi. Anh cũng quá
tôn thờ người con gái ấy nên đêm hợp cẩn, nàng đã đánh mất cái ngàn vàng anh
cũng chẳng hề hay biết.
Mấy ngày sau tôi mới trở dậy. Ai nhìn
thấy tôi cũng cười cợt, chê trách, còn anh cứ tội nghiệp tôi chẳng ăn được miếng
ngon nào trong cái ngày trọng đại nhất đời anh.
Tôi bắt đầu suy nghĩ thấu đáo hơn và
thấy mình sai. Rõ ràng tôi chỉ yêu mà không biết rằng chị dâu dễ bị dụ dỗ đến
mức đó. Có lẽ chính sự nhẹ dạ của nàng mà sau này, khi chiếm đoạt được nàng tôi
đã không trân trọng. Chưa chính thức làm vợ nàng đã phản bội anh rồi.
Tôi thấy chung nhà với vợ chồng anh
thật bất tiện nên dự định sẽ đăng lính trong đợt tuyển quân sắp tới. Tôi lảng
tránh chị dâu xinh đẹp và nàng cũng chỉ im lặng, ít nói như mọi cô gái mới làm
dâu.
Đợt tuyển quân đó người ta điều động
anh nhưng lại từ chối đơn xin nhập ngũ của tôi. Lý do họ đưa ra rất chi là hợp
lý: tôi là một thanh niên không cha không mẹ. Tuy là con nuôi trong gia đình,
nhưng trên giấy tờ, ba mẹ không hề chính thức nhận tôi là con cái trong nhà.
Anh vào quân đội khi biết vợ mình đang
mang thai. Điều ấy khiến anh vui hơn và thương vợ nhiều hơn. Chị dâu đã khóc
trong ngày anh lên đường như mưa gió. Tôi biết chị khóc thật lòng, chính tôi
cũng khóc và nhiều người khác nữa. Thời buổi chiến tranh, người ra trận khó hẹn
ngày về. Không khóc không thương anh thì là gỗ đá chứ đâu phải người.
Anh đi chưa bao lâu thì ba ngã bệnh và
qua đời.
Trong những bức thư gửi về cho gia
đình anh vẫn khuyên tôi lo cưới vợ và chăm sóc mẹ già, giúp đỡ chị dâu, cháu
gái. Lúc này nàng đã sinh con gái đầu lòng. Tôi vẫn thường tự hỏi đứa bé này là
con tôi hay con anh.
Ngày tháng trôi nhanh, mới đó mà đã
năm năm. Anh đi biền biệt không hẹn ngày về. Người mẹ bất hạnh thương yêu tôi
như con chỉ chấp nhận tôi là người duy nhất được toàn quyền quyết định mọi việc
từ lớn đến nhỏ, từ trong nhà ra làng xã. Với mẹ thì vợ anh là chị dâu tôi và
tôi tử tế với chị là lẽ thường. Nhưng như tôi nói, tôi yêu nàng cũng như nàng
yêu tôi. Anh vắng nhà tôi và nàng đều nhớ mong, và cầu cho anh bình an vô sự.
Tôi đã cố chế ngự những xúc cảm tội lỗi nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu. Về sau,
thoát khỏi ánh mắt khắt khe của ba, chúng tôi thoải mái ăn nằm với nhau và chỉ
biết có nhau, chẳng cần biết có anh trên đời. Chúng tôi yêu nhau và sắc dục là
thứ lửa độc không dễ dập tắt. Nàng và tôi mỗi lúc gần nhau đều tràn ngập trong
niềm hoan lạc và chỉ mong sao cho anh đừng bao giờ trở về.
Cái ý nghĩ không thể nào qua mắt mẹ và
hình như mẹ biết chuyện nhưng cố tình làm ngơ để chờ ngày anh về toàn quyền
trừng trị hai kẻ xấu xa khiến tôi bàn với nàng chuẩn bị thật nhiều tiền, khi cần
cùng nhau chạy trốn.
Cái
chết của mẹ không do chúng tôi gây ra nhưng nếu không vì chuyện tình điên đảo
thì tôi đã dốc sức cứu mẹ và anh đã không sớm mất người mẹ đáng kính nhất trên
đời. Không ai nghi ngờ tôi bỏ mặc mẹ trong cơn bạo bệnh. Tôi có bào chữa hàng
vạn lần rằng mẹ đã già rồi, sinh lão bệnh tử là quy luật. Nhưng tôi cất giữ
tiền mà không dốc cạn túi thuốc thang cho mẹ. Nếu tôi tận lực mà mẹ không qua khỏi
thì lương tâm tôi đã không cắn rứt. Trước giờ chết mẹ cứ nuối, tắt thở vẫn
không sao nhắm mắt, mẹ chờ anh. Cả tôi và nàng đã vuốt mắt mẹ. Anh về phép chịu
tang mẹ hai tuần rồi trở lại đơn vị, lúc đó tôi thấy mình có được cái quyền của
một thằng chồng trong nhà. Muốn chuyện gối chăn với vợ lúc nào cũng được.
Tôi nghiễm nhiên xem mình là chồng của
vợ anh.
Còn nhớ trước lúc mất, mẹ nằm trên tay
tôi trăn trối rằng bà còn một gia tài lớn vẫn chôn dấu dưới chân giường. Sau đó
tôi đã bí mật đào lên và chiếm chỗ tài sản đó làm của riêng. Ngay cả nàng cũng
không hề hay biết. Tôi đã tận dụng số tiền mà mẹ anh để lại và đầu tư kinh
doanh. Lúc này tình hình kinh tế ở vùng quê bắt đầu chuyển biến. Tôi trở nên
giàu nhanh và chẳng bao lâu đủ tiền để mua nhà ở thành phố. Ngày anh ra quân về
với vợ con anh chẳng có gì ngoài tấm huân chương. Ngôi nhà gỗ khang trang của
ba mẹ theo tháng năm cũng hư hoại, mối mọt mục nát. Anh không một lời than thân
trách phận. Anh hiểu sự đời theo cách giản đơn của một người lính rằng anh vào
quân đội, cha già, mẹ yếu lần lượt lìa đời, vợ con neo đơn chẳng thể nào ăn nên
làm ra. Chỉ có tôi còn trai trẻ mới sung sức mà làm giàu. Anh còn biết ơn tôi luôn
chu đáo với vợ con anh, thương xót tôi vì gánh nặng trách nhiệm với gia đình mà
không chịu cưới vợ phải sống độc thân.
Tôi thấy xấu hổ nên bắt đầu tính
chuyện bù đắp mọi thua thiệt cho anh. Đầu tiên tôi xuất tiền tu sửa lại nhà.
Sau đó tôi chỉ vẽ cho anh từng đường đi nước bước trong công việc mua bán. Rõ
ràng trước kia anh giỏi giang hơn tôi về mọi phương diện nhưng giờ anh lạc hậu.
Vợ anh không chịu hiểu sự đời đã thay đổi. Nàng đeo bám tôi không chán chê, đòi
li dị anh, tôi phải thường xuyên trốn tránh nàng. Những khi bản năng đàn bà
thức dậy, nàng xông vào tôi và trong trạng thái gần như tâm thần, nàng đòi hỏi
đến mức tôi quá sợ nên quyết định lấy vợ.
Dù tôi đã có con với người vợ hiền, nàng
vẫn không buông tha tôi. Càng ngày nàng càng điên dại. Anh đã không biết điều
đó. Anh để mặc nàng đến chỗ tôi. Nàng khóc lóc, giày vò tôi. Chỉ những lúc được
tôi yêu chiều nàng mới tươi tỉnh.
Bao nhiêu năm nay chúng ta vẫn phối
hợp làm việc cùng nhau. Công việc vẫn trôi chảy, và tôi cũng như anh đều khá
giả hơn xưa. Con cái chúng ta học giỏi, chăm ngoan. Vợ tôi là một phụ nữ hiền
lành, chịu thương, chịu khó. Tôi chỉ thật sự ăn năn khi vợ anh lao vào chiếc xe
ô tô do tôi điều khiển. Nàng tự sát hay vì hờn ghen mà không kiểm soát được
hành vi của mình tôi không biết. Điều tôi biết chắc chắn là nàng đã có đủ bằng
chứng về việc tôi có nhân tình.
Vâng! Người tình của tôi rất trẻ. Từ
khi gặp vận, phát triển cơ sở lên công ty, thành chủ doanh nghiệp tôi cho phép
mình cái quyền quyến rũ các cô gái đáng tuổi con cái. Tôi chẳng thiết gì ở
người phụ nữ là vợ anh và đã có cháu ngoại. Tôi không khỏi suy luận rằng: chắc
vì vẫn còn yêu tôi và quá đau khổ mà nàng tìm đến cái chết. Ngay khi kịp nhận
ra nàng đâm đầu vào xe tôi vội hãm phanh và buông tay lái với ý muốn cứu nàng thật
nhanh và hành động nhanh hơn sự kiểm soát của ý thức đẩy tôi lao ra đỡ nàng
dậy. Anh biết đấy, chiếc xe lúc đó đang chạy với tốc độ chóng mặt. Tôi đã không
cứu được nàng mà còn gây tai nạn cho chính mình.
Tôi đã đau, đã hoảng loạn và chấn
thương nặng, mất máu, các vết thương đều nhiễm trùng. Tôi sắp chết.
Những lúc gần đây tôi hay mơ thấy vợ
anh. Nàng vẫn xinh đẹp như xưa. Lúc nào cũng bảo nàng chờ tôi.
Anh hãy quản lý toàn bộ tài sản tôi để
lại trên đời này. Anh hãy thay tôi điều khiển công ty, cưu mang vợ con tôi. Nếu
anh thấy mình không đủ khả năng điều hành công việc thì bán và chia đều tài sản
cho những người thân trong gia đình. Tôi tin anh là người độ lượng và công
bằng.
LTT
NGƯỜI VỀ THƯƠNG NHỚ AI?
Tôi nhìn con đường sục bụi dày cả phân làm đen
bầm cỏ hai bên vệ đường, cây cối và nhà cửa rồi nhìn lại y phục trên người
mình. Tôi thở dài: nếu mười năm trước mà như thế này thì chỉ có thể nói cho vui
là trông ra dáng bụi đời, còn giờ đây có ai đó bảo sao mà nhem nhuốc, nhếch nhác
thì tôi chỉ còn nước thầm cám ơn họ. Bởi
có người quen khi thấy tình cảnh của tôi
đã nói thẳng vận hạn tôi không được may
mắn và tôi cũng ý thức quá rõ tình trạng
bi thảm của mình.
Thư cho tôi chị Trầm viết: “Chị
bây giờ không xem báo chí là nghiệp nữa mà phải làm bất cứ việc gì có thể để
mưu sinh!”. Trầm là người nhân hậu và hiểu biết. Trầm lo lắng cho tôi bằng cái cách của một người chị em đồng
hội, đồng thuyền. Nhận sự giúp đỡ của Trầm trong bốn tháng thất nghiệp bỗng
dưng tôi thấy chán mình ghê gớm, tôi
chửi thề “khốn nạn thật!”. Nếu cứ thế này mãi thì thà chết quách đi còn hơn. Chị
Trầm vẫn kể với đám đông ở Hà Nội về tôi, chị không muốn tôi ra Hà Nội và cũng
không coi tôi như em ruột của chị. Hễ nói tới em ruột là chị như đụng phải ổ
kiến lửa, chị cười gằn: “con bé đó mà tao coi như em à! Em tao làm tao tởm nhất
trên đời. Không đứa nào ích kỉ và cục súc, độc ác như thằng em tao. Chết tao
cũng không thèm thêm một đứa em nào khác!”. Vậy mà chị vẫn tủi thân với tôi.
Còn bảo chị chưa đến đau khổ hoặc chết như em. Ngay như giáo sư Vĩnh cũng chỉ
than phiền: “không được sự quan tâm của xã hội thì tài năng của bạn ấy sẽ mai
một”. Người khác ở địa vị của tôi sẽ
thấy thế nào không biết, riêng tôi khi
đọc được những điều này tôi chỉ cảm tưởng mình đang uống phải chén đắng. Chỉ có
một người dự cảm một ngày nào đó mọi thứ sẽ khác đi với tôi đó là đại gia Hải. Thế nhưng tôi không dễ bị cái sự cảm thông của ông đánh
lừa. Tôi biết thừa đằng sau những lời nhận xét tốt đẹp về tôi là một sự bợm bãi của kẻ bao giờ cũng ý
thức mình cao hơn người khác một ngai bệ. Những lời ban truyền như ngầm bảo: “ta
biết thừa ngươi là kẻ thế nào, nhưng dù ngươi có là kẻ thế nào thì ngươi cũng
chẳng là gì đối với ta hết. Ta nuôi bọn ngươi trong nhà như nuôi kẻ sĩ”. Ông Hải
là chồng bà Liên, bà được tôn vinh là nghệ nhân khai sáng một làng nghề mới.
Tôi có thời gian làm việc tại nhà ông. Đó là một dinh cơ lộng lẫy, nhìn trong
tầm mắt thì nó rất giống một chiếc bánh gatô đồ sộ nằm ngạo mạn giữa chiếc đĩa
to tướng là khu đất rộng hàng hecta. Tôi chẳng nhớ gì về chuỗi thời gian gần
một năm tôi làm thuê tại nhà bà Liên ngoài những cuộc cãi vã triền miên về
chuyện tiền nong bị ăn quỵt, bị bóc lột, thậm chí còn đánh nhau, để rồi khi
thấy người ta vắt chanh lấy nước mà tưởng mình chơi đẹp thói mạnh thường
thì tôi chỉ còn nước chạy tháo thân.
Kinh nghiệm được nghề viết báo là một
nghề rất gian nan, vì chị Trầm đã bị những tổn thương về não sau nhiều năm đeo
đuổi với nghề. Bản thân tôi cũng chịu lắm
thứ hoạn nạn ngay từ khi tôi mới bắt đầu sự nghiệp báo chí. Tôi quyết định lựa
chọn cho mình một cái nghề ít bất trắc hơn và xem đó là nghề tay trái. Tôi đến với
hội họa như một thử nghiệm may rủi. Khi nhận ra khả năng mở một phòng tranh là
điều không thể thực hiện bởi bà Liên đã đăng ký bản quyền công nghệ ngành nghề
này. Trên thực tế bà chưa bao giờ là nghệ nhân khai sáng làng nghề đổ cát thành
tranh. Qua chị Trầm vốn là con nuôi của mẹ kế bà Liên, những bí mật trong nghề
được hé lộ: thì ra trong một lần tham quan du lịch tận Ai Cập, bà Liên đã xem
cách làm tranh cát dân dã, cách đổ cát vào lọ thành tranh của những nghệ nhân
dân gian xứ này. Bà mua vài lọ thủy tinh nho nhỏ chứa những bức tranh không
giống ai trên xứ sa mạc được xem như hàng lưu niệm, về Việt Nam, bà đặt làm
những ly, những lọ, những hộp thủy tinh và tiến hành công cuộc khai thác, tìm
kiếm cát màu làm tranh. Hành trình của bà Liên phải nói là phi thường, thành
quả tuyệt diệu, sản phẩm làm ra đẹp đến không tưởng, nhưng sản xuất kinh doanh
một vốn bốn thua lỗ như bà thì tôi chỉ còn nước bái bà làm thầy và vĩnh biệt.
Gần trăm màu cát tự nhiên tụ vào hộp thủy tinh thành một bức tranh mà tôi tỉ mỉ
thức suốt đêm làm và mang theo như kỉ vật trong một va chạm nhẹ đã vỡ tan tành.
Nhà tôi ngụ cư nằm cạnh con đường mới mở và
chẳng biết nó sẽ chạy về đâu. Nơi tôi thử việc là một khu đô thị mới. Phòng trọ
tôi thuê không đắt lắm và chỗ đồ đạt ít ỏi của tôi cũng tạo cho căn phòng một
sự thông thoáng dễ chịu. Tôi nhớ đến chỗ trọ dưới Sài Gòn mà tôi đặt cái tên hài
hước là xà lim bởi sự chật chội tù túng của nó. Có lần tôi bảo bà chủ quán nước
vỉa hè tôi phải về xà lim cùm chân vì nắng quá. Đó là một ngày chủ nhật tôi
không phải lang thang kiếm việc làm. Ban đầu chưa mua xe tôi phải cuốc bộ ra
bến xe buýt, sau này sắm được cái xế nổ nhưng vẫn cứ phải ngủ “xà lim”. Tôi thuê
xà lim tá túc trong thời gian gần một năm sau khi nghỉ làm tranh và tìm được
một chân biên tập ở một chuyên đề quảng cáo, rồi mất việc và trải qua những cơn
đau đầu tưởng chừng chết đi được trong âm thầm và cô độc, nên thấy sự thay đổi công
việc và nơi lưu trú này cũng không đến nỗi nào. Tôi biết mình đã làm nhiều việc
quá sức. Tôi không ăn lương của nhà nước nên không đủ bạc tiền và sức khỏe để
có những chuyến thực tế sáng tác ở những địa danh lẫy lừng như các đồng nghiệp
của mình ngày trước mà giờ đây đa số đã thành đạt. Ngược lại, tôi được an bài vào
những cảnh đời bất hạnh, ở đó tồn tại nỗi thống khổ vô biên của kiếp người hiện
hữu qua từng cảnh ngộ cụ thể: người ăn mày tật nguyền, lang thang, đói rách bị tai
nạn bất ngờ nằm chờ chết không một ai chiếu cố, những sinh linh vô năng sống
đời thực vật trong các căn nhà tồi tàn, nơi mà những bậc cha mẹ vừa tủi phận vì
nghèo, vừa hổ thẹn vì bạc phước không sinh được những đứa con bình thường đã
vứt bừa đứa con bất thành nhân sống lay lắt… người đời nhìn họ bằng ánh mắt
khinh thị hoặc vô cảm.
Tôi hiểu rõ: phải có sứ mệnh lớn lao
mới gánh vác nổi sự khổ đau của con người. Phải có một tinh thần cứu độ không
mang màu sắc huyền hoặc trừu tượng của tôn giáo và dễ dàng thâm nhập vào mọi
nỗi đời mới là cấp thiết. Báo chí chẳng bao giờ đi đến tận cùng những chiều
kích tổn thất và tai ương của kiếp người. Niềm trắc ẩn với mọi thương đau thống
khổ của một nhà báo không cứu vãn được ai. Nỗi buồn của tôi có lớn dần thành
nỗi đau đời thì mãi mãi tôi cũng chỉ là một thợ vẽ, minh họa sự đau khổ, cũng
như thể hiện ước mơ về một sự chuyển biến tốt đẹp hơn cho con người, chứ chẳng
thể nào triệt tiêu được đau khổ, biến ước mơ thành hiện thực.
Trong
mấy tuần qua có một gã đàn ông nhìn tôi lúc vui, lúc buồn. Những lúc bất chợt
bắt gặp vẻ buồn buồn của kẻ ấy tôi chợt muốn hiểu về kẻ ấy nhiều hơn. Bỗng dưng
tôi không dùng đến phép ứng xử quen thuộc của những người xa lạ với nhau mà tôi
vẫn thường dùng để che chắn mọi sơ xuất của mình: chẳng ai biết ai là ai thì
đừng nên biết gì về họ và đừng để họ biết gì về mình. Tôi chợt khao khát được
thể hiện mình trước kẻ ấy nhưng rõ ràng tôi chẳng có cơ hội. Rồi một nữ công nhân
bất ngờ bị đuổi khiến tôi thấy quyền làm
chủ của những công nhân viên sao mà tội nghiệp, tư cách họ sao mà rẻ mạt. Tôi
cũng không biết đích xác những đòi hỏi của cô bạn ấy có chính đáng hay không?
Tôi chỉ biết Nguyệt là một thợ giỏi, được chọn làm hàng mẫu ở xưởng, tâm tính
của Nguyệt thì hãy còn rất trẻ con, Nguyệt có đủ những nết dễ được yêu mến cũng
như những tật xấu dễ bị ghét của những đứa trẻ vừa thành niên. Khi bị cho thôi
việc, Nguyệt đã khóc như bị đòn oan. Cô bé chưa hiểu gì về những trớ trêu của
cuộc sống chẳng biết vì sao mình bị giáng một đòn trí mạng như vậy?
Tôi nhớ những ngày đầu mới đến làm
việc, bắt gặp thông báo tuyển dụng của công ty: ưu tiên người khuyết tật, tôi
bật cười. Ở những hội văn học, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, công ty văn hóa,….
thì chuyên môn cao, nghiệp vụ giỏi, kinh nghiệm lâu năm, cùng hàng đống bằng
cấp giấy má của tôi thậm chí là người tinh tướng vẫn bị loại trừ bởi khuyết tật
nho nhỏ mà tôi đang cố gắng khắc phục. Còn đi thử việc ở những nơi dạy nghề cho
người khuyết tật nhưng rõ ràng tôi khơng hợp với chế độ ưu tiên dành cho mình.
Nhất là mỗi khi vào một chỗ làm như vậy, tôi luôn chộp được một điều bất ngờ để
có thể viết một cái gì đó, hoàn toàn đối lập với những bài báo một chiều luôn
ca ngợi những người điều hành công việc tại đây, như thể họ là điển hình gương
sáng từ thiện, đạo đức, chí công vô tư. Đọc bài của tôi, ban biên tập của các tờ báo mà tôi cộng tác
không tin những điều tôi viết là có thật. Tôi thừa biết đám biên tập xa lông này
chẳng bao giờ đặt chân vào những nơi chốn mà tôi từng sống và là người trong
cuộc. Tôi chán nản: cứ thế này thì thiên đường chẳng mở cửa, địa ngục chẳng
dung nạp. Tôi yên trí mình sẽ không trụ lại nơi làm việc mới này quá một tháng.
Một cái gì đó thật lạ lùng, kì quái
chen vào giữa khoảng cách của tôi và kẻ
ấy. Thế nhưng kẻ ấy dường như chẳng có lý do gì để nói chuyện với tôi cũng như tôi
chẳng có vấn đề gì để hỏi anh, thành ra ai làm việc nấy và mọi thứ cứ mơ hồ như
mộng mị.
Tôi nhận ra mình phải lòng kẻ ấy vào
chính cái buổi chiều một nữ khách hàng đến xưởng. Cung cách chỉ dẫn tận tình, ân
cần của kẻ ấy dành cho khách khiến tôi sa sầm vì hờn ghen. Tôi thoáng có cảm giác
anh ta muốn nhìn sâu vào mắt tôi và khóe mắt cực kì nguy hiểm nhưng tôi lảng tránh,
lấy cớ đau đầu xin về và giận dữ với chính mình suốt cả tuần. Thì ra trưởng
phòng kinh doanh mới là người tài giỏi nhất công ty. Chỉ mình tôi không biết
điều đó. Tôi xác như ve, xơ như mướp, chờ đợi những đồng tiền bố thí như chờ
phép lạ. Phải lòng một thằng đàn ông hoặc để hắn phải lòng mình thì cứ việc làm
bia tập bắn. Tôi sẽ thành mục
tiêu của những viên đạn sát nhân. Những tình cảm thiếu nữ đang tuổi dậy
thì không thể nảy sinh dễ dãi trong lòng một phụ nữ đã thấu suốt lòng dạ người
khác như tôi. Nhiều đêm tôi ngồi tư lự bên trang bản thảo dang dở nghĩ
ngợi. Viết báo là vận dụng mọi nghệ thuật trong từng hoàn cảnh sống. Nếu người ta
đem đến cho bạn một thứ gì đó và cần thiết mà bạn nhận nó, thì bạn phải có một
tặng vật giá trị hơn trao lại họ, nếu hưởng không, bạn chỉ là phường ăn bám. Nhà
quản lý thì có đối sách, về điểm này tôi phải chào thua bởi tôi chẳng biết gì
về kẻ ấy. Tôi chỉ là một người khiếm thính đi học nghề, mà ánh mắt của kẻ ấy
lưu trong tâm khảm tôi sao mà quái ác.
Rồi một sự cố nho nhỏ xảy ra khiến tôi phiền bực và tôi bộc lộ chính mình đã làm
cho kẻ ấy có vẻ như biết về tôi hơn - “Dữ dội!” - anh ta ném vào tôi cái từ đó,
và tôi nhếp môi. Anh ta có một thái độ ưu ái gián tiếp nhưng tôi vẫn hiểu là để
thăm dò. Tôi muốn đáp lại tấm lòng ấy nhưng đành chỉ giới hạn ở ánh mắt: lúc
tìm kiếm, lúc đợi chờ, có lúc nhìn thoảng hoặc. Khi có người gán ghép tôi và
anh, tôi không khỏi vui vẻ:
- Còn cái thá gì nữa mà phải đứng xa xa để
khỏi với tới!
Có một bóng hồng chiếm lĩnh một phần
không gian hữu hạn nơi công xưởng. Lúc mới vào tôi đã va chạm với Linh. Tôi không
ưa Linh nhưng Linh là tổ trưởng, làm công việc kiểm hàng của công nhân. Tôi thì
học nghề thật khó nhọc. Sản phẩm của tôi làm ra thường không đạt yêu cầu nên
vẫn bị Linh bắt bẻ, tôi biết mình chẳng bao giờ hơn Linh trong công việc, tôi
chỉ còn cách khen ngợi chị ta vừa được đề bạt nên quá mẫn cán.
Từ khi hình ảnh kẻ ấy lặng lẽ chiếm
lĩnh, những lời châm chọc mà tôi dành
cho Linh cũng ít dần đi, nhất là khi tôi phát hiện càng ngày, Linh càng dò xét tôi
riết róng hơn, và tôi có lúc phải nhớ
lại một câu chuyện và kể với Linh rằng tôi đã từng yêu một người đàn ông, và
khi biết anh ta không yêu mình thì tôi bỏ đi, tôi chẳng sao cả. Tôi cười cợt
rằng yêu thì cứ yêu, nhưng không được yêu bị thất tình thì nên bỏ đi thật xa.
Tôi thấy Linh đeo bám kẻ ấy rất dai dẳng, nhưng Linh lại có vẻ một phụ nữ đang
có một gia đình yên ổn. Linh nói với tôi
là Linh chưa có chồng, nhưng rất thích ba cái vụ đó. Tôi có nghe kể Linh từng
lên giường với ông chủ giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị công ty. Linh
chẳng được học hành, chẳng tài cán lại vô duyên, nhưng ông chủ thích chơi chút
cho vui. Kể ra giám đốc cũng khá xuề xòa. Tôi có biết gì về kẻ ấy đâu. Có lần
sáng muộn, kẻ ấy mới chạy ô tô đến xưởng và lao hồng hộc đến chỗ Linh, đưa cho
Linh một chiếc chìa khóa. Thế nhưng nghe tôi cười cợt về một ông tôi từng gọi
là chồng, kẻ ấy không ngần ngại dắt bóng hồng quá lứa đang là kế toán, lướt
ngang tôi như vô tình.
Chị Trầm khuyên:
- Em
cố mà giữ chỗ làm.
Chồng sắp cưới của chị có một cái biệt thự, nhưng chị
từng vào đời mưu sinh bằng cái nghề đan đát hiện tại của tôi. Phiền lòng tôi
buôn chuyện với chị:
- Em
vừa đá lông nheo một ông xếp, không biết ông có cho em thôi việc khơng?
Trầm bực mình:
- Nhảy
việc, mất việc hoài như vậy còn chưa biết lo hay sao?
Không phải ngẫu nhiên mà chị gợi ý cho
tôi hiểu: kinh nghiệm về người khuyết tật cũng như những thân phận bất hạnh tôi viết cả đời cũng không hết. Từ khi căn
bệnh phát sinh thành một án lưu đày, tôi đã chôn vùi sự nghiệp của mình trong cơ
cực lầm than. Nếu không có vòng tay từ ai của vài bè bạn, tôi không biết mình đã
thế nào.
Chị Trầm có lý. Bao giờ chị cũng có
lý. Lâu lắm rồi, tôi từng cọc cạch xe đạp gõ cửa xin việc ở một xưởng giày da.
Ông chủ người Trung Quốc ngay tuần đầu tiên đã phải lòng mình. Tôi liệu không
đương đầu nổi đám đàn bà thần nanh đỏ mỏ hơn nữa ông ta cũng chưa hẳn giàu và
có gì phải sợ kia chứ! Tôi bỏ việc.
Đêm đêm tôi vẫn vào Inbox tìm kiếm
những thư điện tử của một người tình trên internet, tôi đã yêu anh ngay từ
những điện thư đầu tiên, tôi không biết gì về anh, một lần anh gợi ý gửi cho
tôi một số tấm hình nhưng tôi lờ đi. Tôi biết anh không thích tôi chuyển những
gì anh gửi tôi cho người khác đọc. Tôi dấu tình yêu trong một góc khuất, và như
một cô gái mới vừa đương độ hoa niên, tôi thầm thì say đắm “anh yêu!”. Nhưng thư cho anh tôi vẫn tỏ ra cứng cỏi, một lần tôi
bảo anh gần năm mươi rồi, nên cưới vợ, kẻo sau này anh lại chịu cảnh cha già
con cọc. Anh vẫn làm việc miệt mài bên đất Úc xa xôi. Tôi biết anh gầy, thể
tạng yếu, nhưng anh lại gánh vác công việc của một nhà khoa học, anh còn là
giáo sư, giám đốc kỹ thuật và là kĩ sư công nghệ hóa. Chúng tôi khác nhau hoàn
toàn, anh vẫn dành cho tôi sự quan tâm dù chỉ trên mạng toàn cầu, chưa bao giờ
tôi gặp anh, tôi đã thèm khát được nhìn chân dung anh nhưng giờ đây tôi không
phiền lụy nữa, tôi đau nặng, lớn tuổi,
không có tiền và không hợp với hôn nhân. Tình yêu tôi giành cho anh rồi sẽ tan
chảy.
Anh không còn viết thư thường xuyên từ
cái ngày tôi khuyên anh cưới vợ. Anh đã nói một điều hệ trọng là anh muốn cưới
một cô gái như tôi. Nhỏ hơn anh gần mười tuổi thì dù thất thập cổ lai hi tôi
vẫn trẻ hơn anh. Tôi không mong chi hơn là anh đổ tiền ra để cứu vãn tình thế
hiểm nghèo của mối tình vô phương này.
Một đêm tôi mơ thấy bóng hình người
yêu lồng lộng trên một đồi thông nơi Đà Lạt, anh đứng đó trầm mặc và vắng xa,
ánh mắt u hoài dõi tìm đâu đâu, lòng tràn ngập tin yêu và chua xót. Tôi hỏi anh
về bao giờ nhưng lời tôi không đến được chỗ anh. Có phải bây giờ trong anh đã
có một sự lựa chọn khác. Anh yêu ai mà tìm về?
Kẻ ấy có vẻ gần gũi với Linh và có lần
tôi bất giác thốt lên với Linh rằng:
- Tôi
hỏi chị có phải là xếp phu nhân không thì tụi nó trả lời là chị sếp cái mẻ kho!
Linh im lặng nhưng những ngày gần đây,
mỗi khi bắt gặp ánh mắt kẻ ấy nhìn về phía tôi đầy thân thiện, thì Linh cũng
nhìn tôi đầy oán độc. Cái ngày tôi đến
tòa soạn báo trở về chợt phát hiện có người lấy đi cuốn Trung Quán Luận của Bồ
Tát Long Thọ. Làm như không hay biết gì, tôi không hỏi han cô bạn cùng phòng,
khi cuốn sách được mang đến trả tôi cũng lờ luôn.
Một lần bị một gã trai khác hỏi chuyện
chồng con, tôi hỏi y:
-
Chồng là cái gì?
-
Chị không biết chồng là cái gì sao hôm trước chị cười giỡn với sắp nhỏ
về cái ông mà chị gọi là chồng?
-
Tôi cười hồi nào?
-
Hôm trước!
-
Tôi chả nhớ!
Biết bao ý tưởng đã chín muồi nhưng
tôi không có thời gian và tiền bạc để thực hiện. Những công việc mưu sinh với tôi
thật cực chẳng đã. Khi những cơn đau chấm dứt, tôi lao vào công việc suốt đêm
ngày, tôi viết hối hả, đọc hối hả như sợ mình sẽ chết khi chưa kịp đọc, chưa
kịp viết. Tôi chẳng còn thời gian quan tâm đến những nhu cầu tối thiểu của bản
thân.
- Giấc
mộng yêu đương đã lạc thời.
Kẻ ấy chắc sẽ để lại trong tôi một cái nhìn buồn bã,
cay cú vào những giờ phút ngắn ngủi bức khỏi công việc buổi trưa, hoặc những
lúc cần thiết phải vào nơi tôi làm. Rồi sau mỗi ngày, anh ta trở về với một
cuộc sống khác, cần thiết hơn, thân quen hơn, nơi mà từ xưa đến nay anh ta đã
yên ổn để thực hiện những mục đích của mình. Con đường từ xưởng về với mái ấm
của riêng anh chắc không xa lắm.
Tôi không muốn hỏi người khác bất cứ
điều gì về kẻ ấy. Đường anh ta, anh ta cứ đi! vô tình hoặc cố ý mà các anh ta
hất tôi ra khỏi chỗ làm này tôi sẽ ầm ĩ, dù đó chỉ là một công việc thổ tả. Anh
ta nên thận trọng trên hành trình, đó là điều tốt nhất để tự vệ và thực hiện
được mọi tham vọng. Tôi chưa đủ sức tránh những tổn thương và mọi ngộ nhận có thể
đem lại.
Những vết mổ đã lành sẹo và phai dấu
nhưng biến chứng suốt đời. Phải nhiều tiền mới chữa lành.
LTT
ĐIỀM MỘNG GIỮA RỪNG
Thứ
là phóng viên, chuyên viết bài cho một tờ báo Văn nghệ miền núi. Thứ có người
anh họ khá kỳ quặc, lần nào Thứ đến chơi nhà cũng nghe anh nhắc đến cái chết của
hai người bạn rừng. Qua trí tưởng tượng của Thứ, tình bạn của anh với hai con người
ấy nồng hậu như tình huynh đệ của các anh hùng Lương Sơn Bạc. Có lần Thứ nói
thẳng ý nghĩ đó của mình thì chị vợ anh lắc đầu, chị bảo anh bị loạn óc từ sau
cái chết của người bạn, gặp ai cũng nhắc tới bạn rừng. Cứ theo cách lập luận
của chị thì vì bạn chết, anh không còn người chí cốt chia ngọt, sẻ bùi nên đâm
ra lẩn thẩn.
Thứ thì không nghĩ vậy nhưng không
biết giữa anh và chị, ai sai, ai đúng. Đằng nào thì hình ảnh người quá cố đã
trở thành nỗi ám ảnh riêng anh. Mà con người anh sống rất có đạo lý, trọng
nghĩa tình. Mỗi khi có một người thân quen qua đời dù đang gặp trở ngại hoặc ốm
đau, bận rộn thế nào đi nữa anh cũng đến viếng thăm, tiễn biệt hoặc thắp nén
hương để sưởi ấm linh hồn người đã khuất.
Một lần đi cùng anh ra nghĩa địa thăm
viếng một người bà con. Sau khi thành kính đốt hương và đặt bó hoa lên mộ, anh
bỗng trầm tư hỏi Thứ như muốn giãi bày một điều gì:
- Em có biết vì sao vợ chồng anh phải rời
bỏ vùng miền núi Trà Mi để vào thành phố chen chúc mưu sinh không? Chắc không
bao giờ em biết được. Anh bỏ xứ đi vì bị một điềm mộng liên quan người bạn rừng
bị chết mất tang. Anh quá sợ những chuyến đi rừng từ sau cái đêm gặp lại hồn ma
của anh bạn, để rồi như em thấy đấy, từ một con thú hoang ngang dọc khắp núi
rừng, không biết sợ là gi, bây giờ anh thu lu như một sinh vật cảnh bị trói
chân, trói tay, vô phương vùng vẫy giữa đất Sài Gòn.
Rồi không cần biết Thứ có muốn nghe câu chuyện
mà vợ anh thường diễn tả một cách hài hước và bóng bẩy là “điệp khúc thác oan của ông bạn nối khố”, anh họ hối hả kể như thể
sợ không kịp kể thì ngoài anh ra không còn ai biết được những bí ẩn mà anh chôn
vùi trong lòng.
Cái thuở anh còn trồng chè, buôn quế,
tìm trầm ở Trà Mi và các huyện miền núi Quảng Nam, anh có hai người bạn rừng
thân thiết và lập thành bộ ba làm ăn chung. Các anh đã từng cắt máu ăn thề là
giàu sang cùng hưởng, khó nhọc cùng chia sẽ và sống chết có nhau. Thật sự cả ba
đã giữ lời thề từ lúc còn độc thân cho đến khi tất cả lần lượt yên bề gia thất.
Nhóm của anh ban đầu làm ăn cũng không
đến nỗi nhưng về sau cứ thất bát, một phần vì đối thủ cạnh tranh quá đông, phần
khác bọn anh chỉ quen sử dụng những phương tiện thô sơ để khai thác, trong khi
lâm tặc ngày càng hoành hành và có những phương tiện hiện đại hơn.
Một lần anh bị sốt rét nặng nên đã
không vào rừng. Một trong hai người bạn của anh đến than phiền là đang lúc khó
khăn dù chỉ hai người cũng phải đi núi. Anh thấy lo lắng nhưng cũng an ủi họ
rằng mình sẽ sớm khỏi bệnh. Mong họ chờ cho ít ngày, nhưng họ đã không chờ, và
anh nghĩ chắc cũng chẳng có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Vài ngày sau thì anh
khỏi bệnh và nằm dài trên giường chờ họ sớm về để cùng nhau thực hiện chuyến đi
khác.
Một tuần trôi qua, một trong hai người bạn trở
về và đến cơ quan xã trình báo người bạn rừng đồng hành với anh ta trong một
cuộc bơi vượt suối đã bị lũ cuốn mất tích. Hắn đã cố công tìm kiếm nhưng kết
quả thật vô vọng.
Anh họ Thứ cùng người nhà của nạn nhân
đã vào rừng tìm xác ông ta. Các anh đã sục sạo khắp các đoạn suối, thăm dò, lần
mò vào từng hốc cây, khe đá nhưng chẳng phát hiện được gì. Sau một trận lũ
rừng, mọi thứ bị mưa lũ quét sạch, không để lại một chút dấu tích, và anh,
chẳng thể làm gì khác hơn là từ đó về sau chỉ đi rừng một mình vì người bạn còn
lại đã bỏ nghề.
Anh vẫn cứ phải thui thủi vừa cực
thân, vừa đau tức. Công việc làm ăn càng ngày càng bế tắc. Thời gian sau phải
nhập bọn với cánh thanh niên trẻ. Đám này chưa ai lấy vợ, chưa bị trách nhiệm
gia đình cùng gánh nặng mưu sinh đè xuống hai vai. Họ đi rừng như để thử thách
tính mạo hiểm, còn việc làm ăn thì được chăng hay chớ. Lúc họ nhận khai thác
gỗ, lúc bốc vác, cũng có lúc tìm trầm. Chính vì coi mục đích đi rừng vừa để kiếm
tiền, vừa như những chuyến phiêu lưu, khám phá nên đám thanh niên này thường
ngủ lại qua đêm ở bất cứ nơi nào mà họ thấy tốt nhất. Đặc biệt, một ngôi miếu
hoang giữa rừng ngày trước bộ ba của anh họ mỗi lần ngang qua đó còn thấy ớn
lạnh nhưng cánh thợ rừng trẻ lại chọn làm nơi qua đêm thường xuyên.
Đêm nọ, anh họ đang ngủ ở miếu với
nhóm bạn mới bỗng nghe ai đó gọi tên mình. Ban đầu anh cứ tưởng một trong số
những người đi rừng cần điều gì đó ở mình. Anh ngồi phắt dậy la lối vì cái
người đó đang đêm cứ quấy rầy, không cho anh ngủ. La một hồi, anh nằm xuống,
lại nghe gọi tên, anh mới biết rằng không phải bạn rừng gọi. Chuyện ma mị chốn
núi rừng anh biết có thật, nhưng anh cũng tin ở tay ấn ông đạo sĩ đã cho anh lá
bùa hộ mệnh cực mạnh và tối linh. Nhưng đêm đó có một hồn ma đã nhập vào anh.
Chính xác anh gặp nó trong giấc ngủ chập chờn và sau này anh hiểu ra nó ứng
mộng chứ không phải hiện hồn về trò chuyện. Điều khiến anh kinh hoàng và bỏ
nghề khai thác rừng là hồn ma đó nhận mình là người bạn rừng của anh đã mất
tích trước kia. Ông ta chết rồi không thay đổi mấy và than khóc với anh rằng
đáng lý ra ông ta đã không chết nếu như thằng bạn khốn kiếp không nghĩ ra mưu
kế hại ông để đoạt hết chỗ kỳ nam mà cả hai đã may mắn trúng đậm trong chuyến
đi rừng vắng người anh họ của Thứ.
Thì ra chuyến đó cả hai sau khi vượt
qua những đoạn đường hiểm trở, họ đến một một rặng núi lởm chởm, khu rừng già
phía sau lưng chạy hút vào dãy Trường Sơn. Cả hai lần theo dấu chân voi và qua
tận xứ Lào. Hôm ấy là một ngày mưa to, gió lớn, những ngọn núi trở nên xám xịt,
cảnh vật như bị nhấn chìm trong thác nước từ trời đổ xuống, con suối réo sôi
sùng sục, nước ngầu bùn.
Trong tình trạng nước mưa quất vào mặt
như dao đâm, họ lần tìm một thân cổ thụ giữa rừng già trú mưa, qua đêm. Thình
lình một cây dó lâu năm hiện ra như phép lạ. Không tin vào mắt mình. Cả hai
sung sướng đến ôm nhau khóc. Thần tài đã mỉm cười, bao cơ cực đến lúc được đền
bù. Cả hai quên hết mệt nhọc.
Đêm đó hai người thức đến sáng thi
nhau đào gốc cây gỗ dó để tìm trầm. Họ dùng đèn pin chiếu sáng. Phải đến khi
cái hố to được mở rộng, bị đào sâu xuống như đáy giếng và gốc rễ cây dó phơi
bày ra dưới thanh thiên bạch nhật sau một đêm cật lực đào vét. Họ mới tìm thấy
kì nam.
Theo lời người chết thì chỗ kỳ nam họ
đào được ít nhất cũng gần 10 ký, và cái viễn cảnh từ nay sẽ giàu lên khiến cho
ông quên hết sự thận trọng. Ông không chút ngờ vực thằng bạn đang thay đổi nét
mặt trở nên lầm lì, khóe mắt tàn nhẫn, nụ cười ghê rợn. Trên đường về, ông để
thằng bạn mang giữ số kỳ nam còn mình thì mang đồ nghề.
Hắn không giết ông nhưng dẫn dụ ông
đến chỗ chết. Khi phải vượt qua con suối đang gặp lũ, nước chảy xiết, hắn xui
ông vượt suối trước. Hắn khôn khéo dỗ dành ông rằng, ông không mang hàng, búa
rìu ông đeo không giá trị, cứ vứt hết rồi thử bơi xem nước có chảy xiết không,
nếu chảy xiết quá thì quay lại, có gì nguy hiểm thì hắn sẽ bơi ra cứu, vì hắn
bơi giỏi hơn ông. Còn như an toàn thì cứ qua đến bờ bên kia ngồi đợi, hắn sẽ
bơi vượt suối sau ông, vì hắn có trách nhiệm bảo vệ chỗ kỳ nam nặng hàng chục
ký.
Thế là không chút đắn đo, hắn cứ nhằm
con suối nước tuôn đổ ầm ầm đẩy ông lao xuống. Mới vừa bơi được hai ba chục sải
tay ông đã bị nước lũ cuốn phăng phăng, ông gào lên kêu cứu nhưng kẻ kia cứ làm
ngơ. Hắn chờ cho đến khi biết chắc ông chết đuối giữa thác lũ hắn mới lặng lẽ
tìm đường khác xa hơn nhưng cũng an toàn hơn về nhà. Sau khi dặn dò vợ con
không được hé lộ mình trúng kỳ nam, hắn đến nhà người xấu số báo hung tin.
Người anh họ của Thứ hoang mang nhưng
không biết chính xác điều mình nghe thấy trong đêm mà hồn ma người quá cố ứng
mộng thuật lại là sự thật hay ảo giác. Anh kể lại hết với những người bạn rừng
trẻ cùng đi trong chuyến đó. Vài người trong bọn bảo rằng chính họ cũng một vài
lần nghe hồn ma khóc lóc, than van, nhưng họ nghĩ đó là ma rừng. Vốn biết ma
rừng linh thiêng và lợi hại, nhưng họ không làm gì xúc phạm chúng, họ tin chúng
không hại họ. Chẳng qua chúng đùa giỡn, hù dọa cho vui.
Một
thời gian sau anh họ bán nhà và đưa cả gia đình vào thành phố lập nghiệp. Không
nghề ngỗng, không vốn liếng, hết phụ hồ anh chạy xe ôm rồi đi làm bảo vệ cho
một công ty.
Mọi việc sẽ chẳng có gì đáng nói vì
tức kẻ thứ ba trong nhóm ít lâu sau chuyển toàn gia đình xuống Đà Nẵng mở cơ sở
kinh doanh các mặt hàng lâm sản. Hắn đứng ra thu mua hàng của dân khai thác
rừng tuồn về. Hắn giàu nhanh đến nỗi ai cũng bất ngờ trước tài làm ăn của hắn.
Anh họ hỏi hắn lấy đâu ra vốn để kinh doanh thì hắn trả lời có người bà con ở
Mỹ gửi tiền về giúp đỡ. Mọi người tạm tin như vậy vì đúng là hắn có người bà
con ở Mỹ thật. Thôi thì ai nhờ được kẻ giàu người đó hưởng lợi. Chẳng ai băn
khoăn nhiều về hắn nữa nhất là giờ đây hắn phất lên: giàu đổi bạn, sang đổi họ.
Vậy mà một lần lên miền núi tìm mua da thú, hắn bị trúng khí độc chết bất đắc
kỳ tử. Anh họ lần nữa khóc với Thứ: ăn
của rừng rưng rưng nước mắt!
LTT
CÓ AI BUỒN NHƯ MẸ LÚC NÀY KHÔNG?
Thành phố lên đèn.
Dòng người xe vẫn nườm nượp ngược xuôi. Chị lang thang khắp phố mà chẳng nhớ
đâu là đường về. Bóng chị gãy gập trên những bức tường loang lổ. Xa xưa lắm
thuở còn con gái. Chị vẫn thường dạo phố mỗi chiều. Còn nhớ cô gái ngây thơ là chị
hồi đó, thường bị bà ngoại con la rầy, nhắc nhở đừng ra phố lúc trời mưa.
Giờ đây chị đã bốn
mươi lăm tuổi. Chẳng còn ai chờ một người đàn bà cô độc bốn lăm tuổi trở về
nhà. Dù đang độ hồi xuân và tấm nhan sắc không dễ khuất phục thời gian khiến chị
mỗi lần nhìn vào gương vẫn tự thấy hài lòng khi biết mình trông còn thật quyến
rũ, nhưng chị biết rõ lần này chị sẽ sụp đổ, nếu như chị không chạy khỏi ngôi
nhà đầy ắp kỷ niệm về cô con gái nông nổi.
Chẳng mấy chốc mái
tóc đen, dài óng ả của chị sẽ điểm những sợi bạc, và làn da trắng mịn sẽ nhăn
nheo, khóe mắt rạn chân chim, làm môi bợt bạt và nụ cười mất dần vẻ tươi rói.
Con gái rời bỏ chị, nhẫn tâm đoạn nghĩa thâm tình ra đi khiến chị cứ chết dần,
chết mòn. Chị đang tự hỏi mình đã làm gì nên tội khiến con gái tàn tệ như thế.
Rồi chị tìm đủ lời bào chữa cho con. Bởi buộc tội con thì lòng chị đớn đau đến
bội phẩn. Chị không muốn hờn trách con gái, chỉ nỗi đau xé lòng là cụ thể bởi
từ tinh thần đến thể xác, chị tưởng như mình bị một bàn tay vô hình rứt lìa
từng phần trên cơ thể và khoét rỗng tâm hồn.
Trước kia, khi chưa
biết kẻ mà cô con gái đem lòng yêu là người như thế nào chị thường nhắc nhở con
thận trọng. Trong mắt chị nó chỉ là một đứa con nít không hơn. Giờ này chị độc
thoại với chính mình mà tưởng như đang trò chuyện với con thơ. Trái tim người
mẹ rỉ máu và nỗi tuyệt vọng về một người đàn ông đã đi qua đời chị buộc lòng
chị thầm hỏi sao ông ta không chết trước cái ngày chị thấy lại ông ta sau cả
chục năm bặt vô âm tín.
Chị thầm hỏi con
gái: “người đàn ông mà con đang yêu sẽ tử tế với con được bao lâu? Làm sao con
có thể sống nổi nếu một ngày kia hắn quay mặt tráo trở. Con đã yêu đến mất trí!”
Lạy trời hắn đừng
bỏ con gái chị lạc lối giữa bể đời còn lắm chông gai!
Con gái
yêu của mẹ!
Con sẽ đọc thư này
khi nào con trở lại nhà. Giờ đây mẹ học cách tự thương chiếc bóng của mẹ đang
xiêu loạng dưới ánh đèn đường. Vài thiếu nữ ngả vào vai bạn trai và họ đang dìu
nhau đi. Những bước chân mẹ kéo lê qua bao con đường rồi mẹ cũng không biết!
Con nên nhớ mình
trao thân gửi phận cho hạng người nào? Mẹ không muốn con dan díu với một người
không đứng đắn vì tương lai, hạnh phúc của con. Chưa bao giờ vì lòng ích kỷ mà mẹ
la mắng con, không muốn con hạnh phúc. Mà khi con bước vào đường yêu, mẹ có
biết con sánh vai với một người như thế nào đâu. Chẳng bao giờ con hiểu được
điều đó. Vì con còn thơ dại hay con đang choáng ngợp trong men tình? Con làm mẹ
đau đớn. Lúc này mẹ chỉ biết chắp tay nguyện cầu, nước mắt hòa bụi đường đặc
quánh. Mong cho kẻ ấy hiểu tình yêu của con gái mẹ dành cho hắn và biết trân
trọng những giá trị làm người để con không phải nghe những lời phỉ thui hoặc sổ
toẹt những xúc cảm thiêng liêng nhất.
*
Xưa ba và mẹ yêu
thương rồi cưới nhau. Mối tình ấy đẹp đến mức ai cũng cầu chúc ba mẹ hạnh phúc
bên nhau đến thuở đầu bạc, răng long. Tình yêu ấy đơm chồi nảy lộc trên cơ sở
tình bạn chốn học đường. Ngày ba con lên đường nhập ngũ mẹ mới mang thai con ba
tháng. Năm con lên ba thì mẹ nhận được giấy báo tử cho biết rằng người ba kính
yêu của con đã qua đời. Ngày ấy mẹ mới hai mươi lăm tuổi. Cái tuổi xuân sắc đương
độ nở bùng và con tim nhiều người mới bắt đầu rạo rực, khát khao yêu đương.
Trong số những cô
bạn gái đồng tuổi của mẹ nhiều người chưa lấy chồng. Khi mẹ ra đường ai cũng
tưởng mẹ hãy còn son rỗi. Đám đàn ông chưa vợ vẫn thích ve vãn mẹ hơn là tán
tỉnh các chị em bạn. Nhiều người thấy mẹ nháy mắt với nhau “gái một con trông
mòn con mắt”. Mẹ biết mình đẹp, và mẹ rất yêu bản thân, mẹ phải thường xuyên
tập luyên cho có một thân thể uyển chuyển, mềm mại, lại nữa, mẹ có giọng hát
hay, chơi đàn giỏi, là giáo viên của một trường sân khấu, nghệ thuật. Ở cái
trường ấy mẹ từng là hoa khôi giữa đám giáo viên nữ, nhưng tài hoa bạc mệnh. Mẹ
sớm góa chồng. Ba con mất đi là nỗi mất mát lớn lao nhất trong đời mẹ. Thời
gian dù có giúp mẹ quen dần với nỗi đau nhưng chẳng thể nào đem trả ba con lại
cho mẹ con mình. Mẹ cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện tái giá. Hơn nữa, không
yêu người ta thì đến với họ làm gì? Cặp bồ với một ai đó là chuyện không nằm
trong sự tính toán của mẹ. Dù đã có con nhưng nhiều người đàn ông vẫn quan tâm,
yêu thương và sẵn lòng cưới mẹ khiến nhiều phụ nữ ghen ghét. Mẹ thấy đau đớn.
Có nghĩa gì đâu một ham muốn nhất thời của một gã trai hướng vào đối tượng là mẹ
rồi không được đáp trả. Mẹ chỉ yêu có ba con, hình ảnh ba đã dần dần thành
tượng thánh trong đời sống của mẹ con mình. Thời buổi bao cấp trăm ngàn khó
khăn mà đồng lương giáo viên một trường sân khấu nghệ thuật lại quá bèo bọt. Mẹ
phải nhịn ăn nhịn tiêu và mở lớp dạy thêm hai mẹ con mới có đủ tiền đắp đổi lần
hồi qua ngày. Con ngoan và học giỏi, ở lớp con vẫn hãnh diện về người ba quá cố.
Con chưa ý thức nổi những thiếu thốn tình cảm của một đứa trẻ không ba. Chưa
bao giờ con biết nỗi cô đơn mà mẹ trải qua suốt thời trẻ.
Năm con lên mười
thì hắn đến. Hắn đẹp trai, tài giỏi và trẻ hơn mẹ hai tuổi. Hắn gọi mẹ bằng chị
nhưng cứ thấy mẹ là hắn nhìn với một ánh mắt mà đàn ông chứng kiến thì bực tức
còn đàn bà bắt gặp lại sôi gan. Riêng mẹ thì chỉ muốn được hắn nhìn hoài như
vậy. Hơn lúc nào hết, trong mẹ bắt đầu sống dậy những tình cảm non nớt, dại
khờ, những khát khao thầm kín, vụng về.
Mẹ đã run rẩy, mơ
tưởng về hắn. Rất nhiều đàn ông yêu mẹ nhưng chưa ai nhìn mẹ với ánh mắt đắm
say như thế, cũng chưa ai làm mẹ bấn loạn đến mê mẩn tâm thần. Mẹ không biết
mình phải làm gì, nghĩ gì nữa. Mẹ khao khát hắn và muốn trốn đi cùng hắn. Dường
như hắn cũng chỉ chờ đợi có thế thôi. Vòng hoa đức hạnh mà người đời khoác cho mẹ
có nguy cơ bị dập nát. Suýt chút nữa con bị mẹ bỏ rơi. Lúc đó mẹ chỉ muốn được
buông trôi tất cả. Đến bây giờ mẹ cũng không biết đó là mình yêu, hay bị một
sức mạnh ma quái, bí ẩn hơn cả ý chí của mẹ chi phối, chưa bao giờ mẹ kể con
nghe về những ngày tháng đó.
Mẹ như bị thiêu đốt
trong ảo vọng và đam mê.
Thế rồi mẹ dừng lại
kịp.
Nói ra thật xấu hổ
nhưng không phải vì yêu thương và nghĩ đến con, cũng không phải thủ tiết với ba
con mà mẹ không ngã vào lòng hắn. Lúc đó chỉ đơn giản hắn bỏ cuộc. Hắn biến
khỏi đời mẹ như thể đã hoàn tất một trò đùa cợt hoặc thử thách đàn bà đầy tai
quái. Một ngày kia mẹ biết tường tận cơ sự nhưng nói ra cùng con phỏng có ích
lợi gì. Chính hắn bị một người chú có thế lực và giàu sang cấm đoán chuyện kết
hôn cùng mẹ. Ông ta biết cách thao túng hắn bởi lúc nào hắn cũng cần sự hỗ trợ
của ông để tiến thân. Cũng nói thêm là ông chú kia đã từng rất ham muốn mẹ từ
hồi mẹ chưa là vợ của ba con nhưng chẳng thể nào đến gần mẹ được. Đứa con gái
nghèo và đẹp là mẹ thời đó rất đơn thuần. Thằng cháu trai của ông ta có biết
những điều tăm tối trong lòng chú ruột hắn không là vấn đề mẹ chẳng bao giờ
quan tâm. Hắn đi rồi mẹ đành chôn chặt niềm cô đơn và nỗi cay đắng rồi nghỉ
công tác và đưa con vào Sài Gòn sinh sống. Mẹ dạy nhạc cũng tạm đủ tiền nuôi
con. Học sinh rất thích các giờ giảng của mẹ. Nhiều em xin được mẹ dạy kèm để
nâng cao trình độ. Từ đó mẹ cứ duy trì một nếp sống bình thường, phải đạo tránh
các mối quan hệ thân mật không cần thiết với đàn ông và nuôi dưỡng, chăm sóc
dạy dỗ con nên người. Trong mắt thiên hạ mẹ là một người đàn bà mẫu mực, có
trách nhiệm, kỷ cương và đầy tình thương. Nào ai cần biết đến nội tâm một người
đàn bà. Nhất là một góa phụ.
Càng lớn, con gái
của mẹ càng chăm ngoan và có thiên hướng đi sâu vào lĩnh vực nghệ thuật sân
khấu nhờ sớm thừa kế ở mẹ những năng khiếu âm nhạc. Con hát hay, đàn giỏi và là
hạt nhân của các phong trào văn nghệ, ai cũng đoán con sẽ sớm trở thành một ca
sẽ trẻ. Giọng ca của con trẻ trung, khỏe khoắn tràn trề sức sống khiến báo chí
không tiếc lời ngợi ca. Rồi một ngày nọ con khoe với mẹ có một bầu show tìm gặp
con. Gã sẵn sàng ký một hợp đồng lên đến hàng trăm triệu nếu con chịu cho phép
gã tập dượt, đào luyện, ghi âm thử giọng hát trong thời gian một năm. Như gã
tán dương con có khả năng tiến xa hơn thì gã sẽ đầu tư vào con cao hơn.
Mẹ có nghe nhầm
không? Con còn trẻ, dại, tài năng chưa phát lộ. Mẹ rất hiểu con nhưng chưa thấy
con có biểu hiện gì của một ca sĩ xuất chúng. Bầu show nào dám hợp tác liều
lĩnh như vậy? Theo trí tưởng tượng của mẹ thì hắn chỉ có thể là tay hại đời con
gái nhà lành chuyên nghiệp. Một người đàn bà đã trải đời như mẹ thì hiểu con
người nhất là đàn ông lắm chứ: dù vào thời buổi nào thì giọng hát của con cũng
chỉ mới đạt tới giới hạn của các cuộc thi phong trào hoặc đoạt giải ở các cuộc
thi do các đài truyền hình tổ chức. Muốn trở thành ca sĩ lừng danh thì cần
nhiều điều kiện khác, mà quan trọng hơn tất cả là kinh nghiệm nghề nghiệp, con
lấy đâu ra những tố chất đó. Con gái mẹ đâu phải thiên tài hoặc thần đồng ca
nhạc. Cái người đàn ông đó được gì khi chọn con để đầu tư, khai thác.
Con vẫn ngoan cường
và tỏ cho mẹ biết gã bầu show đã ứng trước nửa số tiền. Gã chọn con chỉ vì con
quá giống một nữ nghệ sĩ gã từng thân thiết. Chỉ vậy thôi. Con đã dùng toàn bộ
tiền đó để giúp mẹ trả khoản nợ còn thiếu khi mua căn hộ ở khu chung cư. Mẹ
thấy tiền và lo sợ con bị dẫn dắt vào các cạm bẫy. Đằng nào con cũng chỉ là
phận nhi nữ. Con cười cợt mẹ rằng con chưa đắt giá đến mức một người đàn ông dù
giàu có và đáng tuổi ba sẵn sàng bỏ ra món tiền khổng lồ để lừa gạt và chiếm
đoạt. Mẹ thở dài: con có lý.
Con chỉ phảng phất đôi nét của khuôn mặt mẹ, và ngoài giọng
hát, năng khiếu có phần vượt trội hơn mẹ thì ngoại hình, tính cách của con lại
giống ba con, mà người ba của con ngoài trái tim đa cảm và yêu ai thì chỉ biết
duy nhất có một người lại chẳng còn gì khác nữa. Mẹ hơi yên tâm phần nào vì tin
chắc người ta cần con không phải do hiếu sắc.
Cứ sau một ngày tập
luyện về con thủ thỉ với mẹ về người đàn ông đó. Con quá yêu ông ta. Ánh mắt,
giọng nói, nụ cười của con tỏ rõ con không thể nào thiếu ông ta được. Mẹ sững
sờ không hiểu nổi sao có người đàn ông mê hoặc phụ nữ đến như thế.
Hơn hai mươi tuổi
con chưa qua mối tình đầu. Những bạn trai cùng trang lứa với con chưa ai đủ sức
khiến trái tim con rung động. Mẹ cứ nghĩ con thuộc loại kiên định, không xem
trọng chuyện yêu đương. Con thường nổi cáu trước những tin nhắn với những lời
hẹn hò mùi mẫm mà đám bạn trai thỉnh thoảng bắn đến. Con đã cười cái thói ủy
mị, cải lương và sến của họ. Vậy mà giờ đây con hoàn toàn bi lụy, đắm đuối và
có phần bạc nhược trong tình yêu. Không phải con bị quyến rũ, dụ dỗ mà chính
con phải lòng người ta trước.
Mẹ không bao giờ
ngờ được con say mê một kẻ đáng tuổi ba mình. Mẹ chưa gặp mặt nhưng như con nói
thì hơn bốn mươi tuổi nhưng trông ông ta vẫn còn rất trẻ và chưa lấy vợ, ông hy
vọng rằng mẹ sẽ đồng ý cho phép ông cưới con. Mẹ chẳng biết nói thế nào, chuyện
chênh lệch tuổi tác giữa hai người chỉ là thứ yếu. Con đang yêu say đắm mà ông
ta chịu cưới thì mẹ việc gì phải đi ngăn cản. Cứ như cái cách con khoe thì
người đó bao giờ cũng chu đáo với con, rằng ông cũng yêu con như con yêu ông,
rằng nếu mẹ không ngăn cản thì không ai có thể chia lìa con và ông được.
Một linh cảm chia
ly bóp nát trái tim mẹ. Cái nỗi sợ hãi mơ hồ cứ lơ lửng nhưng mẹ chẳng dám thể
hiện ra cho con biết. Mẹ tin rằng nếu mẹ chấp nhận con và người ấy nên duyên vợ
chồng thì cũng có nghĩa mẹ vĩnh viễn mất con. Mẹ quyết định ngăn cản con với hy
vọng là con vì kính yêu mẹ mà dừng cuộc tình lại. Con còn quá trẻ để hiểu chẳng
có gì bất diệt trên đời này. Tình yêu dù có nồng nàn, sâu nặng bao nhiêu đi nữa
thì đó cũng chỉ là những cảm xúc phù du. Người lý trí mạnh luôn biết làm chủ
cảm xúc. Càng lớn tuổi người ta càng dễ nhận ra mình thường nhầm lẫn, ngộ nhận
trong tình trường. Có người suốt đời không biết đến tình yêu họ vẫn lập gia
đình, sinh con đẻ cái, cùng nhau nuôi dạy con, lúc nào cũng sống tử tế với nhau
và chu toàn mọi trách nhiệm xã hội, duy trì một gia đình nền nếp. Đó là mẹ chưa
muốn nói tình yêu chỉ đem đến cho con người khổ đau và tuyệt vọng. Con đã buồn
rầu bảo mẹ vì sớm góa chồng nên mới có cái nhìn cực đoan về chuyện lứa đôi. Mẹ
chẳng biết nói gì thêm nhưng cứ thấy bất an và lo âu. Ngày con đưa ông ta về
nhà đúng là ngày đen tối nhất trong đời mẹ!
… Đã hơn mười năm
người ấy vẫn chẳng hề thay đổi, khuôn mặt không một dấu ấn của tuổi già. Khi
ánh mắt hắn chạm phải ánh mắt mẹ, hắn lặng trong giây lát rồi như mê dại, u sầu
đi, còn mẹ thì bình tĩnh hơn, chỉ coi hắn như một người mình quen biết trước
đây giờ tình cờ gặp lại. Trong mẹ không một chút xao động.
Mẹ già rồi!
Ngày xưa mẹ và hắn
đã là gì với nhau đâu. Hình như lúc nào hắn cũng gọi mẹ bằng chị. Bây giờ hắn
đang là người tình của đứa con gái mà mẹ thương yêu nhất trên đời. Hắn nghĩ gì mẹ
không cần biết. Đột nhiên, hắn vội vã ra về làm mẹ bối rối tự hỏi phải cư xử
thế nào đây nếu hắn trở thành con rể mẹ.
Có một điều mẹ
không nghĩ đến là hắn dứt khoát bỏ con.
Trước sự thật quá
buồn lòng, con suy sụp và gào khóc. Con không thể nào lay chuyển được hắn. Mẹ
tuyệt vọng nhìn con mòn mỏi trước những ngang trái ngoài sự tiên lường.
Cuối cùng hắn chỉ
đưa con theo khi con chấp nhận rời bỏ mẹ và cùng hắn đến một nơi khác sinh
sống. Mẹ không trách gì con. Mẹ chỉ đau đớn là sao con trốn đi quá nhanh và
không thèm một lời từ giã mẹ. Xưa nay con vẫn ngoan ngoãn và hết lòng kính yêu mẹ,
sao lần này con phũ phàng đến vậy?
Bóng đêm loang dần
phố vắng. Chị lê bước về ngôi nhà vắng. Con đường dẫn về nhà như dài vô tận bởi
nơi ấy giờ đây mất hẳn rồi đứa con thơ bé bỏng và chắc là sẽ còn chịu nhiều đau
khổ ở đời. Không con, chị đâu còn thiết tha với đô thị phù hoa này. Chị ngồi ủ
rũ tàn đêm và những ngày tiếp sau tâm trạng rã rời của chị chuyển biến thế nào chị
cũng không tự biết.
Chị gào gọi tên con
gái yêu. Phải chăng cô con gái chạy trốn cả chị khi không cưỡng nổi sức cám dỗ
ma quái mà người đàn ông đã tạo ra? Bất chợt, giữa cơn sốt mê man một tiếng nói
linh thiêng vọng lại. Đó là tiếng của người chồng mà nhiều năm rồi chị không
còn nghe thấy nữa. Ngày tháng trôi qua, chị thu dọn về quê. Chẳng còn gì ràng
buộc chị với thành phố này, dù cô con gái có đang ở đâu đó rất gần chị, hằng
ngày vẫn theo dõi từng động tĩnh của chị.
Ngôi nhà trở nên vô
chủ. Chị muốn để đấy cho vợ chồng cô con gái – chị chỉ mong hai đứa bao giờ
cũng bên nhau theo đúng nghĩa vợ chồng – dù thằng chồng có nghĩ thế nào về chị
thì chị cũng chỉ coi hắn là một đứa con rể bất hiếu. Suốt đời chị nguyện cầu
cho cô con gái hạnh phúc bên người yêu.
LTT
NỢ XƯA PHẢI TRẢ
Chưa bao
giờ gã chủ thầu Phi cảm thấy lo âu như lần này, suốt đời gã chưa bao giờ tin
vào linh cảm ấy thế mà lần này những linh cảm chết chóc cứ lởn vởn. Nửa đêm gã như
nghe một tiếng người thì thầm: “ta giết mi! ta giết mi!”. Phi không biết tiếng
nói ấy phát ra từ đâu. Phi không dám nói với bất kỳ ai về những điềm gở này.
Không sao thắng được nỗi muộn phiền dai dẳng, gã gọi
điện đến các đối tác xin hủy hợp đồng và đặt thẳng vấn đề là sẵn sàng chịu bồi
thường mọi thiệt hại. Điều gã không ngờ là đối tác lại khăng khăng không chịu
thay đổi hợp đồng. Gã chán chường: Phải chịu thua thiệt một cách vô lý như thế
mà người ta vẫn không thông cảm với gã. Đến nước này gã sẽ cho cái bọn ngu ngốc
kia thấy chúng sai lầm như thế nào: nếu tìm một nhà thầu khác, thời gian khởi
công xây dựng cây cầu có chậm lại thật nhưng họ sẽ hưởng một đống tiền bồi
thường. Nguồn lợi từ trên trời rơi xuống vậy mà chúng nó không biết ăn. Phi
chưa thấy ai dại như bọn này.
Gã bỗng tức cười. Có gì đó như khinh thường trào lên
trong gã, thế là gã quyết định xuống tận công trình theo dõi công việc. Miên, cô
trợ lý của gã cứ phàn nàn đã có người cáng đáng hết. Miên còn lâu mới hiểu gã.
Chỉ bằng cách ấy gã mới khiến đám quan chức nhà quê quen hợm hĩnh lóa mắt trước
trí lực của gã.
Xưa nay Phi được bạn bè trrong giới làm ăn cả nể vì
nổi tiếng là người to gan, dám nghĩ dám làm, sòng phẳng đến lạnh lùng. Chẳng vì
thế mà những cuộc thanh trừng đám tép riu – các chủ thầu xây dựng mới phất lên
theo cách gọi đầy miệt thị của Phi – dám ra mặt cạnh tranh, hơn thua mà không
cần biết đến hậu quả. Và kết quả bao giờ cũng thành một đề tài hay ho cho đám
đàn em của Phi phô trương thanh thế khiến nhiều đối thủ của Phi xanh mặt.
Thực ra tay chân của Phi chỉ là những kẻ cơ hội quen
thói đánh trống bỏ dùi. Phi cần họ để tạo lá chắn. Những việc Phi làm tại thành
phố trong những năm sau này chẳng là gì so với các vụ quyết chiến thuở gã còn
là một thanh niên.
Bây giờ nhớ lại
những năm tháng ấy Phi thấy hãnh diện về sự to gan. Thằng con trai gã khiến gã
ghét cay ghét đắng bởi cái bản tính nhút nhát, chẳng giống gã chút nào. Cái sự
giết người không thèm sám hối của Phi vào cái thuở gã mới hai mươi tuổi chỉ
mình gã biết là một cột mốc quan trọng đánh dấu sự liêù lĩnh của một thằng
người có máu lạnh. Gã lim dim mắt:
- Mới đó đã
trên năm mươi. Ta không tiếc nuối những năm tháng đã qua. Ta đã làm những việc
phi thường. Ta luôn hân hoan tự tưởng thưởng mình,…
Gã ngã người ra ghế và gọi cô giúp việc lên xoa bóp.
Bàn tay thành thạo và mềm mại của cô gái khiến hắn dễ chịu và cứ như thế, mặc
cho cô mơn trớn, vuốt ve hắn bắt đầu lục lọi trong ký ức khuôn mặt của người
đàn ông đầu tiên mà hắn sát hại:
“… Thằng lõi ấy
cứ tự hào là con của một địa chủ. Rõ khổ! Địa chủ là cái gì? Đáng kiếp thằng
lõi! Hắn chỉ tin có mỗi mình ta và cũng chỉ vì một lý do mà cứ nghĩ đến là ta
thấy nhục: ấy là cha mẹ ta và gia đình hắn đã kết thông gia. Hắn cứ cho rằng ta
chẳng đời nào dám phản bội hắn. Nhà hắn giàu. Em gái hắn thuộc diện sắc nước
hương trời. Đù mẹ! Cứ nhớ đến cái cảnh cha ta nhún mình trước cả nhà hắn mà ta
sôi gan. Cô em gái hắn đâu có yêu ta. Nàng yêu một thằng cha hành tung đầy bí
ẩn. Thằng đó không đáng xách dép cho ta. Trung thực nhìn nhận nếu cha mẹ ta
không chết đời ta đã khác, bàn tay không biết thế nào là vấy máu, tanh tiền.
Một lần thằng lỏi hỏi ta:
- Phi! Bây
giờ mày muốn gì nhất?
- Tao muốn
xuất dương du học! Ông già tao chỉ muốn tao về quê cưới vợ sinh con. Ông bảo
sẵn sàng cưới cho tao chục bà vợ. Hắn cười. Nhưng ông già còn lâu mới hiểu nỗi
chí hướng tao. Sợ nhất là phải vào quân dịch, cứ tưởng tượng khóac bộ rằn ri
lăn, lê, bò, tòai là tao hãi. Tao chưa bao giờ thích chuyện đánh đấm. Cái áo
thụng của mấy cha đạo nhìn còn hấp dẫn hơn bộ quân phục. Giá mà biết trăm đường không qua binh ải lúc trước
tao theo đạo và xin vào học trường dòng. Còn mày? Tư Tầm, mày mơ ước điều gì
nói tao xem?
Thằng lõi
cười khanh khách:
- Mày có
thấy tiểu thư yểu điệu thướt tha nhà ở phía bên kia đường không? Ba nàng là ông
trùm giàu vào diện nhất nhì ở quận này đấy. Tao mới thấy nàng đã mê mẩn tâm
thần, cách tán gái cổ điển nhất là tung vài bài thơ chòng ghẹo. Thế là nàng nhờ
chị sen mang thư hò hẹn đến tận nhà trao tay tao. Xúi quẩy là ông anh vợ tao
bắt gặp tao với nàng tay trong tay dạo chơi khắp chốn công viên. Ổng méc ba
tao. Ông già ngòai quê nổi trận lôi đình. Ổng ra tối hậu thư: Con không về quê
làm đám cưới gấp thì ba sẽ không bao giờ gửi tiền vào cho con nữa. Thì ra ông
già không muốn làm người bội ước: trước kia tao dại dột đồng ý khi ông già muốn
cưới cô hàng xóm cho tao.
- Con nhỏ
cũng xinh mà! Khối thằng nhà giàu, kể cả thằng ranh con ông quận trưởng muốn
xách dép cho nó còn không được. Sao mày nỡ thốt ra những lời tàn tệ thế nhỉ? Ta
cố ý đề cao vợ chưa cưới của hắn ở quê với hy vọng hắn còn tình cảm với nàng và
cũng vì khó chịu quá đi mất. Đã có lần ta nhìn thấy thiên thần con ông trùm.
Nàng sinh ra đâu phải để yêu cái ngữ tầm thường như hắn.
- Nàng sẽ
chết mất nếu tao cưới vợ. Khi người đàn bà yêu mày biết họ thế nào không? Họ
sẵn sàng nhảy vào lửa để chứng tỏ cho người khác biết tình yêu của mình. Tao
đâu có chờ một tình yêu như thế. Sét đánh ấy chứ? Ước gì ông già tao chưa bao
giờ mang trầu cau sang nhà hàng xóm. Hắn nói đầy vẻ mãn nguyện
Lúc đó ta và
hắn đang nhai bánh mì trệu trạo trên ghế đá công viên. Đã hai tuần nay ta không
còn một xu dính túi. Hắn phải bẻ đôi ổ bánh mì.
Thằng công tử hai mươi tuổi ấy là cái thá gì mà hưởng
đủ mọi ân sủng ở đời: hắn làm ta uất lên vì đố kỵ. Ta chờ đến mỏi mòn cái ngày
tên ta được khắc trên bảng vàng, thế mà hắn là kẻ cướp mất suất học bổng du học
của ta,...
Ở trường, ai cũng biết ta hơn hắn về mọi phương diện,
đặc biệt, trong học tập. Chỉ vì suy sụp sau cái chết của ba mẹ mà sức học của
ta giảm sút. Lần đầu tiên kể từ khi mới chập chững cắp sách đến trường tới thời
điểm ấy ta mới chịu cái vị thứ hạng nhì. Hắn đã vượt lên đứng đầu. Lẽ ra hắn
nên ở lại cưới tiểu thư con ông trùm và nhường ta xuất dương du học, nhưng hai
chữ “xuất ngoại” làm mờ mắt khiến hắn quên một nghĩa cử. Ta mới phải cho hắn
biết tay.
Bàn tay ta dính máu của kẻ tin yêu ta nhất. Dù rằng
cái hiện trường mà ta tạo ra thuyết phục được hầu hết mọi người tin rằng hắn bị
mấy tên cướp xóa sổ. Khó hiểu nhất là vợ chưa cưới của hắn: Cô bảo lúc nào cũng
nghe bên tai tiếng nói vô hình rằng ta
đã giết cậu ấm, rằng hãy kiên nhẫn đến thời điểm sẽ báo thù. Cô còn thề bên
quan tài ông chồng chưa cưới đã bạc tình sẽ thủ tiết trọn đời.
Ta chịu không nổi cái nhìn như có tẩm thuốc độc của vị
hôn thê. Ta đã phải từ hôn với lý do rằng bây giờ ta đến tuổi phải đi quân
dịch, mà ta thì kinh tởm cảnh máu chảy đầu rơi. Ta đã có hẳn một kế họach trốn
lính, chuyện vợ con ta không muốn vướng víu. Không ngờ nhà người ta trả lại tât
cả lễ ăn hỏi với một thái độ đầy tự trọng. Từ sau cái chết của thằng lỏi, nhà
bên ấy nhìn ta với ánh mắt tủi hờn. Mà ta đến mê mẩn tâm thần bởi đôi mắt giai
nhân.
Ông địa chủ rầu rầu:
- Cha mẹ anh
xây cả một kho tàng trong lòng đất. Tôi cũng không rõ từ nguồn nào mà ông có lắm
của nổi của chìm. Tài sản của tôi thì thấm thía vào đâu so với của cải nhà anh.
Ông chẳng dấu tôi chuyện gì. Họ không cho anh biết vì khi lấy lá số tử vi cho
anh, ông ấy nghe thầy số phán anh sau này sẽ làm nhiều điều thất đức và chỉ có
quỷ thần mới trừng phạt nổi. Ông ấy bảo: cho anh ăn học để làm người. Chốn đô
thành đầy xa hoa, cám dỗ. Vung tiền chỉ tổ làm anh hư hỏng. Chi bằng khi nào
anh yên bề gia thất, anh chí thú, cầu tiến, lúc đó giao hết gia tài cho anh
cũng không muộn. Lòng dạ con người thật khó lường, sự đời còn khó lường hơn...
Ta im lặng. Cái
thằng con hiền lành của cha mẹ ta chết cùng ông bà từ lâu rồi. Bây ta là tên
sát nhân. Giá ta có tiền và mặc sức ăn chơi. Lâu nay ta vẫn nghĩ mình con nhà
nghèo. Cha mẹ ta chẳng để lại gì cho ta. Than ôi! Toàn bộ gia sản của cha mẹ mà
ta sẽ thừa kế bị những quả bom chôn dưới các hố hầm sâu hoắm,.. mà tại sao ta
lại nhớ tất cả những chuyện ấy vào lúc này. Ta chưa từng ăn năn, kể cả cái việc
sau này ta ám toán người chồng của vị hôn thê mà ta đã từ hôn. Nàng có biết
lòng ghen tuông thiêu đốt ta, đó là chưa nói, cưới nàng, hắn nghiễm nhiên thừa
hưởng tòan bộ sản nghiệp lẽ ra thuộc về ta.
Nàng đâu biết lúc đó ta tơi tả, rách nát như xơ mướp
và chui lủi như con dế, con giun....”
Đột nhiên, hắn nhặt chiếc lọ hoa đang đặt trên bàn đập
mạnh:
- Hừm! Sao ta
trở nên hay ưu tư thế này? Nực cười. Cứ lo âu vớ vẩn thì chẳng đáng mặt là một
tay Phi khét tiếng từ giới giang hồ, nhà chức trách, dân anh chị, bọn quan chức
một phép nể nang.
Chuyện bắt đầu từ lúc tổng giám đốc phôn:
- Có một
công trình ngon lành lắm nằm tại chính quê gốc của chú, mần không? Trúng quả
đừng quên lại quả ông anh của chú nha! Nhiều thằng muốn nhảy vào nhưng anh ưu
tiên chú trước đó.
Rồi lão
cười khành khạch đầy đắc ý!
Phi phờ người nghĩ ngợi. Kinh nghiệm làm ăn cho hắn
biết càng xa đô thành càng vớ bẫm. Gã khóai nhất là trúng những con đường chốn
huyện lỵ. Tận dưới làng quê thì thanh tra nào về. Xà xẻo công trình, rút ruột
dự án đâu chỉ mình gã hưởng. Thằng nào có quyền lực kinh tế không tham nhũng. Hợp
đồng này nhà thầu cùng lúc nhận cả ba công trình: Dựng con đập ngăn mặn trên
sông, xây một cây cầu nối liền hai bờ sông và đổ bê tông con đường dài hàng
chục ki lô mét.
Toàn thân Phi chấn động. Hơn ba mươi năm rồi gã chưa
một lần trở lại quê nhà. Trong tâm thức gã, hai chữ quê hương chẳng gợi lên bất
cứ điều gì có nghĩa. Cái cuộc xô đẩy nháo nhào vào những ngày cuối tháng tư năm
1975 không ngờ đã tạo nên một vỏ bọc yên lành cho gã. Vào thời đó chuyện giết người
vì lòng ghen tuông, đố kỵ của gã ngày càng bị nhiều người nghi ngờ, nhất là
những người trong gia đình ông địa chủ. Tuy nhiên, gã không phải là kẻ yếu bóng
vía, chưa khảo đã xưng.
Ngày đó, pháp luật không vươn tay đến chỗ Phi, thân
nhân của những người bị hại không đủ từng trải, khôn ngoan và cay độc để hiểu
rằng gã là một tên sát nhân.
Giờ đây, gã đã là chủ nhân của hàng chục khu cao ốc ngay
giữa một đô thị sầm uất. Gã chỉ giao du tòan với đám trưởng giả, thượng lưu. Trong
mắt thiên hạ gã là đại gia.
Lên đến tột
đỉnh giàu sang vậy mà Phi chẳng bao giờ có được hạnh phúc làm người. Tâm hồn gã
trống vắng như thửa ruộng trơ gốc rạ. Gã muốn có được nhiều tiền là tiền chảy
vào két gã như nước. Chằng mấy ai nắm rõ gốc gác của gã để mà phanh phui cái
quá khứ xa xôi và thân phận một thằng người mất sạch mọi thứ và bị ruồng bỏ như
một con thú hoang đã có lúc lâm cảnh nghèo hèn, sống trong tội lỗi mà từ lúc
mới chập chững vào đời đã gây tội ác và chọn cách kiếm tiền thảm hại nhất: đào
mỏ.
Những cô điếm quý phái mà gã từng ve vuốt thể xác và
moi móc tiền bạc ấy bây giờ ở đâu? Đàn bà vốn nhẹ dạ và hay quên. Đâu đó trong
phần tối tăm nhất của con người gã, có một bóng đen sừng sững, lấn chiếm tòan
bộ những toan tính. Cái bóng ấy chi phối đường đi nước bước gã trong hơn mười năm.
Vào cái lúc gã muốn hòa hợp cùng nó thì nó bỗng tràn về phía khác. Những cái
chết trắng phía nó đang ngự trị cho gã biết nó sẽ bất thần quay lại phía gã bất
kỳ lúc nào.
Năm tháng trôi qua, mọi dấu vết dần bị thời gian bôi
xóa, những người từng biết gã chốn quê nhà trước đây chẳng còn ai. Hai cô gái
xinh đẹp nhưng bạc phận nghe đâu cũng đã bỏ xác trên sông. Người cùng thời với
cha mẹ gã đều về chầu tổ tiên cả.
- Ta đã có
nhiều tiền nhưng ta còn muốn nhiều nữa. Ta chưa biết thế nào là hạnh phúc chắc
hẳn vì ta chưa có được sự giàu sang như ta mong muốn. Ta vẫn còn lép vế trước
khối thằng tư bản. Có tiền mua tiên cũng
được. Ước gì ta thành người giàu nhất thế gian.
- Ha! ha!
ha!!!
Thốt nhiên, một tràng cười ghê rợn vang lên khiến hắn
bủn rủn. Hắn nhìn khắp nơi nhưng chẳng biết từ phía nào phát ra tiếng cười quái
dị đó. Hắn căng óc chờ đợi nhưng tuyệt nhiên, chung quanh hắn lặng phắc. Bất
chợt, một giọng rền rĩ, nỉ non, ai oán như từ trong đầu hắn âm vọng:
- Đến lúc
rồi Phi, hãy sám hối đi! Chỉ cần mi thật tâm sám hối, ăn năn thì tội nghiệt có
sâu dày vẫn có thể cứu chuộc.
Chịu hết
nổi hắn nhấc máy gào to trong điện thọai:
- Cô Miên
đấy hả? Sắp xếp mọi việc xong chưa mà cứ câm như hến? Tôi chờ từ sáng đến giờ
chẳng thấy động tĩnh.
Cô trợ lý
nhợt nhạt trong bộ đồng phục công sở tương đối cứng nhắc đặt cặp hồ sơ trên
bàn, báo cáo:
- Thưa sếp!
tài xế đang đợi sếp. Mọi thứ đã chuẩn bị đâu vào đấy cả rồi. Cô Na xin được
nghỉ đi chuyến này, chưa biết ý sếp thế nào? Trông cô ấy không được khỏe.
Lão nhíu mày :
- Cô Miên! Tôi
nhắc cô lần nữa: tôi không thích người khác gọi mình là sếp. Cô không gọi tôi
là ông chủ được sao? Học hành như cô mà chỉ riêng mỗi cái việc xưng hô cũng đợi
người ta bày biểu!
Miên sa
sầm nhưng không nói gì. Cô tự hiểu cái bằng thạc sĩ của cô chẳng là thứ quái gì
trong tay bọn lắm tiền, lắm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà Phi muốn tất cả
những kẻ thừa hành đều gọi mình là ông chủ. Đó là cách gã ngầm bảo: dù chúng
bay có học hàm, học vị, bằng cấp gì đi
nữa, chúng bay cũng chỉ là tôi tớ của tao (!)
Miên thóang nghĩ đến cô thư ký riêng của Phi: có lẽ
nhờ nhạy bén và sớm hiểu tâm lý của những ông chủ thuộc lọai này mà Na nhanh
chóng nhập vai của mình linh họat hơn Miên nhiều, Na cũng ít bị rầy la dù cô ta
chỉ mới vừa học xong trung cấp.
Thấy Miên mặt nặng như chì ôm cặp quay về, Na nói:
- Em thấy
chị không hợp với môi trường này chút nào. Lẽ ra chị nên chọn nghề giáo hoặc
làm một viên chức trong các cơ quan nhà nước. Chị siêng năng và có tài, lại học
cao, hiểu rộng. Chị có nhiều cơ hội chọn lựa. Rồi cô thở dài: dù sao ông chủ
cũng có vẻ quý chị nhất.
Miên nhếp mép:
- Tôi thấy
rõ là cô phục vụ ông ấy đắc lực hơn tôi nhiều. Có vẻ ông chủ cần cô hơn cần
tôi. Chẳng phải vì thế mà bất kỳ lúc nào cô muốn theo ông chủ xuống công trường
là được ông ấy đồng ý. Nhiều người hỏi tôi: Na nó làm gì dưới các công trường
hả chị Miên. Rõ ràng là cô được phó thác những công việc vô cùng quan trọng mà
chẳng ai biết!
- Em làm
những việc gì hả? Chị có muốn biết không em nói cho mà nghe: pha cà phê, châm
trà, giặt khăn, ủi quần áo, rót bia, thắt cà vạt cho ông chủ... Những việc đó em
làm cũng không đến nỗi và em không nhầm thì trước đây cứ mỗi tháng ông chủ thay
một người cho vị trí này.
Miên nhìn Na
lom lom.
- Chỉ riêng
cô là ngồi ở vị trí này lâu hơn những người khác.
- Ai mà biết chị còn tiến xa đến đâu.
Giọng Na cũng đầy mỉa mai.
Biềt rõ Na không dấu sự ghen tỵ trước trình độ chuyên
môn và vị trí hiện tại của mình. Miên lấp lửng:
- Tôi đang
làm nghiên cứu sinh, kết quả mỹ mãn sẽ xin chuyển sang một cơ quan chuyên ngành
của nhà nước. Tôi vừa đọc thấy thông tin tuyển dụng và còn đến nửa tháng mới
hết thời hạn nộp hồ sơ. Tôi thích những công việc nghiên cứu hơn. Thời gian
công tác ở đây chỉ là tập sự, học hỏi, tích lũy những kinh nghiệm thực tế, hơn
nữa, ai cũng cần có công việc để làm.
Na đổi
giọng cười vui vẻ:
- Chị Miên
ạ! em nói thật chứ lão chủ dù bề ngoài có vẻ mê em, khiến ai cũng tưởng em được
lão yêu chiều lắm, nhưng lão rắn như chì. Dù không phải thứ yếu bóng vía nhưng
không hiểu sao lão ấy cứ làm em gai gai, sờ sợ?
Miên châm chọc:
- Lúc lão ôm
cô vào lòng, bóc cô như bóc trứng, vùi dập cô trên giường, cô có sợ không?
Na hốt hoảng:
- Em nói
chắc chị không tin. Em được lão cho nhiều tiền nên em cứ giả bộ là bé yêu được
lão sủng ái. Chị thấy có kỳ quặc không? Em hay mơ thấy bị lão siết cổ. Em đã
thử gửi hồ sơ dự tuyển vài nơi nhưng đều trượt đành bám chặt cái chỗ này. Bây
giờ mà mất việc liệu em còn bám được chỗ nào khác. Khối kẻ xếp hàng chờ mình
rơi là thế chân. Em học hành được như chị chắc yên tâm hơn,...
Miên ngờ vực:
- Cô biết
chuyện gì đó về lão phải không? Rồi Miên thở dài: đừng biết gì hết thì mới dễ
sống!
Na lắc đầu:
- Em có hay
biết gì đâu. Em thấy sợ lão thôi. Không phải kiểu sợ của nai tơ trước dê xồm.
Chị cũng biết em là hoa khôi của công ty này. Đi đâu lão cũng đem em theo. Rõ
ràng các đối tác của lão đều ghen với lão. Nhưng có bao giờ lão đụng vào em.
Hiếm khi em tự ý đặt chân vào phòng riêng của lão, nơi mà lão thường cố thủ
trong đó sau những hợp đồng béo bở. Rồi cũng từ đó, lão bước ra, phun vào mọi
người những mệnh lệnh.
- Suỵt – Miên
nhắc – em liệu mà giữ mồn. Vào phòng lão em thấy gì mà cứ phải sợ như thế?
Na nhìn Miên cân nhắc có nên nói hết không:
- Lần đó
vào phòng lão em thấy trên tường có treo một tấm ảnh một phụ nữ xinh đẹp được
lồng khung. Em như bị nó hút hồn. Đang mải ngắm nhìn thì người trong ảnh như
quay đầu đi chỗ khác. Em run lên nhưng vẫn nghĩ là mình hoa mắt. Lát sau em
nhìn lại thì bức ảnh bất động, nhưng đôi mắt người phụ nữ tựa như mắt người
thật cứ nháy nháy với em,... khi em nói với lão chuyện ấy thì lão hỏi em muốn
làm hay muốn nghỉ?
Đây là lần đầu tiên Miên nhìn Na cười:
- Các cô gái
trước đây bị lão cho nghỉ việc vì cứ om sòm chuyện khung ảnh ấy. Lão bảo trong
phòng lão không treo bất cứ thứ gì hết. Em thấy có lạ không?
- Dù sao thì
chính em cũng đã tận mắt nhìn. Nhưng có lẽ không nên khăng khăng giữ ý mình thì
hơn
- Chị có
biết chuyện rằng lão ấy đã ba lần cưới vợ. Đều là phụ nữ giàu. Bà đầu tiên tiểu
thư lá ngọc cành vàng, con gái của một ông trùm tư bản nứt đố đổ vách, nghe đâu
mới chung sống với lão được hơn một năm, vì một ám ảnh hãi hùng bà chết, để lại
tòan bộ gia sản cho cha con lão. Đứa con trai của họ vì một lý do đặc biệt đã
trốn chạy cha nó và hiện đang sống cùng vợ chồng dì ruột nó tận bên Mỹ.
Na không khỏi tò mò:
- Tại sao nó
trốn chạy khỏi cha nó chắc là chị biết?
Miên như cố nhớ một điều gì đấy:
- Chuyện có
vẻ nhảm nhí, khó tin là thằng con đã tận mắt chứng kiến cảnh một mụ Tú bà đến
tận nhà sinh sự với ba nó. Mụ la lối rằng trước kia nhờ giỏi gạ gẫm và tráo
trở, lão Phi mới cuỗm sạch tiền bạc của mụ và giàu lên, thế rồi lão đi cưới con
gái ông Trùm. Lão bỏ mụ trong tình trạng rách như xơ mướp. Mụ phải vơ cào, đắp
đổi…
Na có vẻ
ngờ vực:
- Tú Bà hễ
nghe thấy hơi đồng là mê, còn lâu mụ ta mới nhả tiền cho đàn ông.
- Mụ nhầm - Miên cười - đánh đĩ mười phương nên muốn
chừa một phương lấy chồng. Mụ có nhan sắc và thủ đọan nên kiếm cũng bộn, sau
thấy anh chàng trí thức Phi thông minh, bản lĩnh, táo tợn nhưng đang hồi sa cơ
mụ tưởng đầu tư vào anh ta chắc hời. Nào ngờ bị phỗng tay trên,... tan tành
giấc mộng thành gái chính chuyên.
Cả hai cùng cười:
- Với lão ấy
thì mọi điều đều có thể!
Miên thẽ thọt:
- Lần ấy đứa
con trai khủng hoảng trước sự thật trần trụi. Nó không biết phải làm gì khi lão
sai nó giết mụ Tú Bà. Nó không ngờ ba nó là hạng người như vậy. Thằng nhỏ chỉ còn
nước cầu cứu bà dì ruột.
- Còn bà vợ thứ hai của lão? Na không
dấu nổi sự háo hức muốn biết tất cả mọi chuyện.
- Bà thứ
hai là một người mẫu xinh đẹp – Giọng Miên thong thả.
- Hi! Na
cười. Đàn bà mà vừa giàu vừa xinh thì đúng là một thứ mồi ngon để đàn ông săn
đuổi.
- Nghe đồn cô
ả trước kia là nhân tình của một chú Tàu già. Ả kiếm của chú ta và của nhiều
ông khác vô khối tiền. Cái biệt thự trên đường đi Di Linh mà lão Phi sở hữu bây
giờ là của chú Tàu tặng ả người mẫu. Chú Tàu yêu ả ghê lắm. Ả cũng đã bỏ rớt
khối thằng và chỉ cặp kè mỗi mình chú. Ngờ đâu lão Phi mới vừa buông câu là ả
đớp, cho chú Tàu ngậm sầu. Lão Phi cưới ả người mẫu thiên hạ những tưởng trai
tài gái sắc xứng đôi, ngờ đâu cuộc hôn nhân này cũng chỉ là một trong những phi
vụ để lão kiếm chác. Điều đáng nói là vào cái lúc lão Phi cùng ả đang hưởng
tuần trăng mật thì có cái gì đó hết sức rùng rợn xảy ra khiến ả phát điên…
- Không biết
có phải cô hai thấy bị lão Phi siết cổ như em từng mơ thấy không?
- Không đâu! -
Miên nhìn quanh xem thử có ai nghe thấy điều cô đang nói không, vì bỗng dưng cô
lành lạnh sống lưng như thể có bàn tay cầm tảng nước đá áp lên – Chú Tàu già kể
lại rằng vào những lúc tỉnh trí, ả người mẫu sợ hãi kể rằng, một đêm nọ, trong
lúc đang hưởng tuần trăng mật trên du thuyền thì cô ấy bị ma ám.
- Ôi! Khiếp
quá - Na ôm chặt lấy Miên – Nếu chị là tình địch của em, chắc chắn em sẽ cho
rằng chị bịa ra những chuyện này để em lo sợ mà bỏ đi nơi khác làm và chị tranh
thủ tình cảm của lão Phi, may mà chị em chúng ta có cùng một ấn tượng về con
người ấy.
- Chưa hết
đâu! Cô người mẫu kể nhưng rất ít người tin rằng: Vào cái ngày hợp hôn, ả gặp
một điều kinh dị: lúc ấy đã khuya, trên chiếc du thuyền chỉ có hai vợ chồng,
bỗng ả trông thấy có một con đò nhỏ cứ như bềnh bồng trong sương. Ban đầu ả
không để ý nhưng về sau nó cứ như xuất hiện để riêng mình ả nhìn nên ả bước lại
phía cửa chú mục vào nó. Trong tích tắc, con đò cập sát chiếc du thuyền của đôi
uyên ương. Lão Phi đang ngồi trên sập. Trước đó lão uống rượu còn nàng gảy đàn.
Thình lình hai cô gái từ trên đò di chuyển lên thuyền (phải gọi là di chuyển vì
phần phía dưới cơ thể họ trong suốt, như là họ không có chân). Họ chào ả người
mẫu và bảo rằng ả liệu mà tìm cách thóat khỏi kẻ giết người không ghê tay ấy…
Ả người mẫu hoảng lọan vì biết họ là ma. Lạ một điều
lão Phi không trông thấy họ. Lão rời chiếu rượu và đi thật khẽ đến phía sau
lưng cô vợ. Đó cũng là lúc lão Phi có hành động gì đó như là muốn xô cô vợ mới
cưới xuống sông, thế nhưng, hai ma nữ đã phun một thứ lửa ma trơi vào người lão
khiến lão bất tỉnh và họ biến mất. Chắc vì quá sợ mà càng lúc ả người mẫu càng
gào thét điên dại hơn. Gần sáng tuần tra biển nghe tiếng kêu mới đến cứu. Hôm sau
lão Phi tỉnh dậy bảo chỉ uống rượu rồi ngủ. Còn ả người mẫu thì hóa điên, ăn
nói lung tung, đúng kẻ loạn trí.
- Cô hai
điên vì trông thấy ma hay là do sợ lão Phi?
- Không
biết. Có điều, những lúc tỉnh táo, ả không chịu quay về với lão Phi mà muốn
được chú Tàu già bảo trợ. Tôi nghiệp ông già. Bị ả nhân tình phụ bạc, chỉ đến
nước này ả mới cần đến ông và ông mới giữ được ả cho riêng mình.
- Còn lão Phi?
Miên gằn giọng:
- Lão đòi
chú Tàu già trả vợ cho lão, còn phát đơn kiện ra ra tòa. Gia đình ả người mẫu
cũng tham gia vụ kiện. Họ chỉ muốn ả về với lão Phi, chuyện con đò ma và hai ma
nữ trở thành trò cười với mọi người. Đa số bảo chuyện nhảm nhí. Chú Tàu già
thất thế vì không ai nghe lời biện hộ của chú, chú bị cười vào mũi nhưng chú ta
yêu ả người mẫu thật lòng. Chú bảo, chú sợ ả chết. Bằng trực giác của một người
biết ít nhiều về thuật số, ma thuật chú tin những gì người phụ nữ mà chú yêu
nói lại. Chú muốn bảo vệ ả. Cuối cùng, họ đi đến thỏa thuận: Chiều theo ý người
điên. Nạn nhân chỉ muốn về sống bên người tình cũ. Nàng để lại cho lão Phi tất
cả những gì mà một người chồng có quyền sở hữu từ vợ. Đến lúc này lão Phi mới
thôi, không kiện cáo ầm ĩ. Tóm lại là mặt mo thắng thế.
- Ngu quá!
Mất đứt cái biệt thự cho một thằng lưu manh.
- Chú Tàu
già cũng khá giả nên không lấy thế làm điều. Hoặc cũng có thể họ chấp nhận chịu
thiệt một chút để được yên ổn. Xưa kia vụ này om sòm lắm, mấy tờ báo lá cải
giật tít rất giật gân, đi đâu cũng nghe nói đến người đẹp gặp ma mất biệt thự.
Thế rồi dần dần thiên hạ cũng quên. Mà không quên cũng làm gì được lão. Các bà
cứ lao vào lão như điên, nhất là sau đó vài năm, lão cưới bà vợ thứ ba,.. bà
này lớn tuổi hơn lão lại là Giám đốc một công ty xuất nhập khẩu, Chủ tịch ngân
hàng thương mại tư nhân do một nhóm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thành
lập. Đây đích thực là một thứ đàn bà thép. Các ông vẫn kháo nhau: không biết
thằng máu lạnh ngủ với con đầm thép thì thế nào.
Na xì một hơi thật dài:
- Em là chỗ
bà con với bà ấy nhưng em không bằng con ở nhà bà. Chỉ khi về làm ở đây mấy
tháng em mới biết bà là vợ lão Phi. Có người bảo em may mắn vì bà không biết
ghen. Lạy trời! Em chỉ mong được yên thân. Ba mẹ em đều là nhà giáo về hưu, gia
cảnh em khá buồn. Em phải có một công việc ăn lương. Các cụ rất hãnh diện về
chỗ làm này của em, bỏ đây đi bán cà phê chắc các cụ sẽ cho rằng em bôi tro
trát trấu vào mặt các cụ. Nhưng bằng cấp như chị có lúc tìm việc còn lao đao.
Em chỉ trông vào ngọai hình chứ cái chứng chỉ trung cấp như giấy vụn.
- Khi mới
vào đây làm, chị nghe ối chuyện về lão Phi. Chị chột dạ, muốn thôi việc gấp.
Bạn trai chị bảo: đi đâu cũng vậy thôi. Những lúc chị muốn nhảy chỗ này, chỗ
khác thường bị anh ấy gạt phắt, cứ theo cách lập luận của anh thì trong thế
giới này có cạnh tranh mới sinh tồn, mà đã cạnh tranh thì tránh sao được cái
cảnh cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, ăn không được thì đạp đổ. Còn
nguyên tắc nữa là cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng, trung thành với cấp trên.
Chuyện ma quỷ thì anh ấy không tin.
Na thừ người:
- Vẫn biết
nó vô lý thật chị ạ! Nhưng có cái gì đó xung quanh con người lão Phi cứ khiến
em liên tưởng đến những thế lực ở cõi âm: hắc ám, ma quái, quỷ mị. Dù rằng có
thể phía người chết cũng đối kháng với lão ấy. Chẳng lẽ đến ma quỷ cũng sợ lão
nên chỉ phải nhắc nhở người sống chúng ta đề phòng lão. Cái ấn tượng dễ sợ nhất
mà lão để lại trong em là: con người này đã từng giết người.
- Chị cũng
có ấn tượng như em và một vài người khác cũng vậy. Nghe kể rằng trước 30/04/1975,
lão từng là sinh viên giỏi nhất ở một trường Đại học. Rồi một anh bạn nối khố
trọ cùng nhà với lão bị đâm chết, có một cảnh sát đưa ra nghi vấn lão giết bạn.
Hiện trường án mạng lại cho thấy đó là một vụ giết người của một băng cướp.
- Thôi chị Miên
– Na ngáp – Chuyện lão Phi phức tạp quá! Càng nghe em càng thấy mình như dòm
vào một mớ bòng bong. Em chỉ muốn sống nổi với chính đồng tiền do mình kiếm
được một cách chân chính. Lẽ nào cái công ty xây dựng AD này mà lão trong cương
vị Chủ tịch hội đồng quản trị cũng là công ty ma. Chúng ta ăn lương của lão và
làm việc trong khả năng của mình. Vậy thì chẳng nên nói gì sau lưng ông chủ.
Đúng không chị?
- Chị không
nghĩ như em! Giọng Miên thân mật – lão
ấy hơn người ở nhiều phương diện nên qua mặt người đời và ngồi xổm trên đầu
thiên hạ. Cái công ty này chỉ là phần nổi của tảng băng trôi.
.
Hơn ba mươi năm mới trở lại quê nhà. Mọi vật đều đổi
thay như thể đây là một xứ sở khác không phải nơi chôn nhau cắt rốn của Phi. Gã
nhìn làng quê với ánh mắt dửng dưng. Thật ra, Phi chưa bao giờ có tâm trạng của
một thằng người thiếu quê hương. Thỉnh thỏang, có đối tác vui miệng kể chuyện
về quê xây nhà thờ tộc, xây mộ, đóng góp xây đình, chùa,... gã thấy thật tội
nghiệp, họ chẳng khác những đứa trẻ con sung sướng làm việc tốt.
Khi Phi giới thiệu với mọi người xứ này là quê cha đất
tổ của gã, rằng gã có mối tình đầu đầy thơ mộng với một thôn nữ dễ thương, ai
nghe cũng ồ lên kinh ngạc, đã có kẻ nịnh với gã rằng, cứ tưởng gã chịu đầu tư
vào cái cầu ở chốn nước mặn, đồng chua là vì không ai kham nổi. Phi cười trừ.
Đằng nào gã cũng quá quen thói xu phụ.
Cuối cùng rồi Phi cũng phát hiện đằng sau bộ mặt của
khu trung tâm xã được xây dựng khang khang, các con đường bê tông hóa thì ngược
lại, về phía làng xóm, thôn sâu, cảnh vật điêu tàn hơn xưa.
Gã bắt đầu nghe bồn chồn trong dạ vì chính những vườn
hoang, những gò đống, những cồn mả được di dời vội vã cứ lở toang hoác ra kia
có gì như hù dọa, ám ảnh gã và đâu chỉ có thế: trên những tòa tháp lẻ loi cô
độc, gã có cảm tưởng như những bóng người lượn qua lượn lại và trong một khoảnh
khắc, dưới ráng chiều bỗng đỏ lên nhức nhối, gã thấy có gì tựa như một con đò
cứ trôi vô định nhưng không phải trên dòng sông mà chính trên một dải mây bay
thật thấp. Con đò gã đã nhiều lần nghe nhắc đến và không ít lời đồn đại nó đối
kháng với gã.
Gã muốn tìm một thứ gì đó nhưng không tài nào xác định
được mình tìm gì. Cái kho báu của gia đình bị chôn trong lòng đất mãi mãi là
một mất mát mà dù gã có thu về gấp hàng trăm lần chỗ tài sản ấy thì gã vẫn thấy
như chưa bù lại được những thứ đã mất.
Cuối cùng, gã quay lại khu vườn ngày cũ, gã nhớ như in
những hố bom nối tiếp nhau trải dài thành dãy ao nước sâu hoắm, hài cốt cha mẹ
gã vùi đâu đó dưới một trong những đáy ao. Chưa một lần gã hương khói cha mẹ.
Bây giờ, nơi mà trước kia là vườn nhà gã đã bị san phẳng. Một cái chợ sầm uất
người mua kẻ bán tấp nập mọc lên. Chẳng còn dấu vết nào của ngôi làng xưa, kể
cả ngôi nhà của ông địa chủ với những rẫy vườn rộng mênh mông, những láng giềng
tốt bụng và đa nghi, những cô thôn nữ trẻ đẹp.
Gã đi ra bến sông, chỉ có dòng nước trên sông là không
bị thời gian làm cho biến đổi. Bất ngờ với gã là quang cảnh khu nghĩa địa còn hoang
tàn hơn ngày gã còn nhỏ. Gã nhìn những bình vôi, ông táo, những mẻ sành vứt bừa
bãi trên các nấm mộ. Đột nhiên gã hỏi: người dưới mộ sống vào thời nào? Lẽ nào
rồi ta cũng yên nghỉ dưới một mô đất lẻ loi như thế? Chợt gã cười gằn: không
thể thế được! Ta còn cả quãng đời phía trước. Gã dần trấn tĩnh vì cái viễn cảnh
hưởng thụ giàu sang làm gã tự hài lòng.
Ánh nắng tắt dần trên sông: lúc này trời cũng đã chạng
vạng. Những bãi cồn lau lách trải dài dưới bóng tối nhá nhem trông càng ảm đạm
thê lương. Có một động lực vô hình cứ đẫy gã về phía trước. Gã thấy chống
chếnh. Gã cứ đi một thôi và sực tỉnh. Nhanh chóng, gã xác định được chỗ ngày
xưa là rặng dừa nước nơi gã giết tình địch và dấu xác,... nhưng rồi nhanh chóng
người trong làng đã tìm thấy anh ta.
Có quạ tru một hồi dài. Điềm gở: quạ kêu ma giấu, cú kêu ma ăn. Thuở còn sống, mẹ gã thường rụng rời
chân tay mỗi lần nghe tiếng quạ kêu. Mà điều ấy không phải vô duyên cớ. Người
trong họ mạc cứ chết lần hồi sau điềm quạ báo. Trong đời gã nghe đủ mọi âm
thanh: tiếng đại bác, tiếng bom rơi, tiếng mìn nổ long trời lở đất, nhưng duy
nhất tiếng quạ lúc này tựa như tiếng còi báo tử cho riêng gã.
Có gì đó trong không gian vọng lại như làn hơi thoát
ra từ lồng ngực một người. Chẳng lẽ có hồn ma quanh đây thở dài. Bất chợt gã
thấy ớn lạnh. Gã rất không muốn tin oan hồn kẻ xấu số bị gã gia hại tìm về báo
óan,...
- Ông chủ ở
đây mà em đi tìm mãi. Điện thọai không người bắt máy em lại càng lo lắng hơn.
Kiến trúc sư muốn gặp ông!
Gã nhìn cô thư ký xinh đẹp và ngầm so sánh cô với
người vợ đầu tiên bị gã từ hôn. Cô gái ấy còn dễ thương hơn Na nhiều. Cô ta
cũng đã thành người thiên cổ. Gã cười khẩy: người đàn bà nào dấn sâu vào đời gã
cũng chịu một số phận bi đát trừ mụ đầm thép hiện tại.
Chẳng rõ vì cơn cớ gì mà gã thấy Na rúm
ró lại:
- Kiến trúc sư là cái thá gì! Sao cô không
cho hắn biết bây giờ không phải là lúc ông chủ làm việc với cấp dưới. Gã tức
giận.
Na thảng thốt:
- Dạ! Anh
ấy muốn thay đổi vị trí xây cầu nên cần trao đổi với ông chủ gấp. Như anh ấy
nói thì qua khảo sát lòng sông, anh ấy thấy vị trí cũ tuy hai bờ có hẹp thật
nhưng đáy sông ở đó khá sâu. Đó cũng là chỗ thường có nước xoáy và rất nhiều
người bị chết đuối đoạn đó. Đặc biệt có hai cô lái đò,... dân quanh vùng kể rất
nhiều chuyện hiển linh của họ. Cánh công nhân muốn bỏ về vì quá sợ xui xẻo, ở
đây lắm chuyện ma nước hại người. Ông chủ người đất này chắc biết chuyện thật
có hay không? Có một ngôi miễu thờ hai cô lái đò phía bên kia xóm, người làng
muốn giữ nguyên sự u tịch cho xóm miếu. Cầu bắt qua chỗ đó thì thế nào cũng phá
vỡ sự trang nghiêm ngôi miếu linh.
- Tôi biết
xóay nước đó và còn biết khối ghe thuyền bị lật. Xưa kia chúng tôi thường bảo
chỗ đó có noi. Đã lật ghe ở đó có đường chết. Cô biết vì sao làng chỉ xây miếu
thờ mỗi hai người đàn bà không?
- Theo họ kể
thì hai cô lái đò làm việc nghĩa chết được phong thần!
- Làm việc
nghĩa là làm gì? Gã hỏi đầy xách mé.
- Dạ, nghe
đâu hai cô đã ra sức chèo đò, cứu người trong cơn lũ lụt. Họ cứu hơn trăm người
nhưng chính họ bị nước lũ cuốn đi.
Phi giễu
cợt cô thư ký:
- Hồi nhỏ tôi
còn nghe kể thế này: Có một tốp thanh niên phía thôn làng bên kia sông đêm đêm
vẫn chèo ghe sang tán tỉnh các cô gái bên này sông. Họ thường hẹn nhau cùng về
đúng giờ giấc vì cả hội chỉ có một chiếc ghe. Đêm nọ có một chàng say men tình
nên cứ nấn ná mãi với người yêu, chàng không hề thấy thời gian trôi. Báo hại,
đồng hồ chàng trai lại chạy sai nên đã một giờ đêm mà cậu ta tưởng chưa đến 23
giờ. Khi bị người yêu giục ra về cu cậu mới dằn dỗi bước thấp bước cao ra sông.
Cu cậu đảo mắt tìm vẫn không thấy bạn bè đâu, hú gọi
mãi cũng không thấy ai nhưng hình như có một con đò bồng bềnh sát bờ. Cu cậu nhảy
vào lòng đò. Lúc này cu cậu mới hốt hoảng vì phía đầu mũi ghe không hiểu từ bao
giờ có một phụ nữ mặc bộ đồ trắng toát tóc xõa kín mui đang khua chèo nhè nhẹ. Quay
lại đằng lái thì có thêm một cô gái khác, tóc cô ta không dài như cô kia nhưng
người cứ lơ lửng,..
- Ôi! Khiếp
quá.
- Giả sử bây
giờ cô bị giết ở đây. Tôi cứ bảo rằng cô bị ma hớp hồn, liệu người ta có tin
tôi không?
Mặt Na xanh lét không còn hột máu:
- Lạy ông
chủ! Đừng đùa ác thế!
Đây không phải lần đầu kéo dài đến hàng tuấn lễ Phi ở
lại nơi nhà khách ủy ban xã sở tại, nơi công ty của gã đang tiến hành thi công
xây dựng các công trình giao thông. Các nhân vật có máu mặt trong xã tỏ vẻ nể
nang, kính trọng y ra mặt. Mà không kính trọng sao được, cũng là người xứ này
mà gã thành đạt đến thế. Gã cao hứng:
- Ba mẹ tôi
mất, đau khổ quá tôi đi biệt xứ luôn. Cưới vợ quê người, con đầu lòng hiện đang
du học bên Mỹ. Nhanh thật, mới đó mà đã hơn ba mươi năm. Người thân kẻ thích
đều ra ma cả.
- Anh đã hơn
năm mươi mà trông anh phong độ hơn trai làng đương độ ba mươi – Một thanh niên
khác tâng bốc – Phi biết họ nói vậy vì bữa nhậu này họ chẳng mất đồng nào.
Phi hào
phóng gọi rượi và thức nhắm tùm lum. Một ông sồn sồn không rõ giữ chức vụ gì ở
xã lèm bèm:
- Cô thư ký
riêng của anh Phi sao mà đẹp quá vậy. Tìm khắp cả nước Việt Nam chắc không được
người thứ hai.
Phi chưng
hửng. Gã không say mê Na, nhất là gần đây, vẻ sợ sệt của Na khiến gã tính
chuyện sa thải cô và tuyển một phụ nữ khác gan góc hơn. Mẫu phụ nữ mạnh bạo mới
hợp với gã.
Phi như thấy văng văng đâu đây tiếng kêu cứu thất
thanh của Na nơi căn phòng nhỏ:
- Cứu! cứu tôi
với.
Bất chấp
tiếng đập cửa, thậm chí cả tiếng búa phá cửa, Na vẫn ú ớ kêu cứu. Phải mất mười
phút sau, cửa sổ bị phá hỏng, gã và ba thanh niên khác vào được trong phòng mới
thấy Na thoi thóp. Điều khiến gã khó chịu nhất là các nhân viên dưới quyền cứ
nhìn gã với ánh mắt vô cùng bí hiểm. Theo cách hiểu của gã thì họ ngầm chê
trách hơn là nghi ngờ. Lẽ ra Na phải ngủ ở phòng gã, tại sao gã để cô ngủ riêng.
Chẳng mấy chốc cái tin cô thư ký riêng của ông Chủ
tịch hội đồng quản trị công ty xây dựng AD bị ma ám kêu la ầm ĩ trong đêm lan
khắp làng xã, thế là đi đâu cũng nghe người ta kể chuyện ma.
Na xin nghỉ phép một tuần nhưng lão xé đơn. Cứ mỗi lần
chợt mắt, cô như thấy đâu đó hai bàn tay đen đũi, xấu xí, nhọn hoắt của một bà
già đòi xiết cổ cô. Quái lạ là bà ta xưng là mẹ của Phi. Rồi thì những hình ảnh
khác trông như cú mèo chao lượn, nanh vuốt, cắn xé chí chóe. Chúng nghịch ngợm
và trong lúc cô ngủ, chúng cứ nâng cái giường cô đang nằm lên cao, cao mãi,...
Nhiều đêm Na phải uống cà phê và ngồi đọc báo đến sáng trắng.
Tiếng lão Phi vẫn lạnh băng đâu đó:
- Đàn bà các
cô là chúa dị đoan, thần hồn át thần tính. Ai chỉ cho tôi một con ma, tôi tặng
người đó toàn bộ cơ nghiệp.
Công việc vận hành khá trơn tru, cái chuyện làng này
có ma dần biến thành chuyện khôi hài và Phi không cấm cấp dưới đem ma quỷ ra
tếu táo đùa vui.
Thật ra, bề ngòai Phi tỏ vẻ cứng cỏi thế thôi chứ bên
trong gã như một mớ bùng nhùng. Từ lúc về quê không đêm nào gã ngủ yên giấc. Gã
thường mơ thấy những điều kỳ quặc, cứ chợt mắt là có kẻ đến lôi gã đi. Thường
sau những đêm như thế, Phi phải uống thuốc an thần và gã chỉ muốn bỏ quách cái
công trình này mặc mọi sự ra sao thì ra.
Lão tức giận với Na:
- Tôi biết
rõ là cô cũng chẳng có việc gì để phải ở lại nơi đây. Sáng mai tôi lệnh tài xế
đưa cô về. Tôi thấy cô không được khỏe.
Rồi Phi
bỗng than thở, đó là một điều chưa bao giờ Na ngờ tới:
- Tôi sa lầy
nơi công trình này. Cánh công nhân người Bắc làm việc tốt. Họ bảo vì cô còn ở
đây nên họ mới chịu khó nổ lực làm việc. Cô mà bỏ về thì bọn họ sẽ đào nhiệm.
Cô không biết là mình được mọi người yêu mến à!
Na lắc đầu:
- Ông chủ ạ! Khắp
các lán trại lan truyền nhiều chuyện ghê rợn. Một thợ cả kể: mấy đêm nay anh em
họ không đêm nào là không thấy ma. Cả tổ anh Long ai cũng hoảng lọan. Anh ấy
bảo: chúng tôi sẵn sàng chịu bị phạt trừ mười phần trăm tiền lương và xin ông
chủ rộng lòng giải quyết.
Phi chau mặt:
- Tôi thật
không hiểu nổi, họ bị ma dọa kiểu gì?
Dường như
chứng minh cho Phi thấy những gì gã nói ra thật là cuồng ngạo. Ngay lập tức,
điện đột ngột bị cúp. Trong lúc Na loay hoay soi căn phòng bằng đèn pin từ
chiếc điện thọai di động của mình, Phi thì hét gọi một nhân viên khác tìm mua
vài chục cây nến thì bất thình lình, một cái gì như một luồng gió lạnh buốt
thổi tạt vào phòng, kèm theo một điệu hát não nùng, thê thảm và rùng rợn khiến
Phi sởn tóc gáy:
- Ai?
Gã hy vọng đó là một trong những trò đùa quái gở mà
đám công nhân nghĩ ra để hù dọa mình.
- Tư Tầm
đây! Tư Tầm từng bị mi sát hại hơn ba mươi năm trước đây. Tao phải chờ hơn ba
mươi năm năm mới bắt mi trả nợ. Mi chỉ còn đêm nay nữa thôi.
- Cô Na đâu
rồi? Cô còn đấy không? Cô bảo anh em trong đơn vị đừng đùa giỡn quái đản thế.
Một đóm lửa bùng lên, lập lòe, kỳ dị lượn tới, lượn
lui rồi bay thẳng vào Phi như muốn đốt gã ra tro. Phi rú lên một tiếng. Thình
lình, đèn bật sáng, Na hốt hỏang chạy đến đỡ Phi:
- Ông chủ,
ông sao thế!
Phi nhớn nhác:
- Hắn đâu rồi.
- Ông hỏi ai?
- Tư Tầm.
Cái thằng ngày xưa,...
Gã bỗng im bặt.
Na nhìn Phi với ánh mắt kỳ dị:
- Phải chăng
ông chủ cũng thấy ma! Mấy đêm trước anh em trong đơn vị đang ngủ say thì có ai
đó xưng là Tư Tầm vào tận chỗ từng người hỏi xin nước. Giọng đó lạnh lẽo thê
lương. Anh em tìm hỏi khắp đơn vị và nhà dân quanh đây nhưng không có ai tên là
Tư Tầm. Phi đã tỏ ra bình tĩnh:
- Tôi có anh
bạn tên là Tư Tầm. Anh ta chết đã hơn 30 năm. Tôi còn biết rõ người giết anh
ra.
Na không
nói gì. Rõ ràng cô thấy cái gì đó lơ lửng phía đằng sau lưng Phi. Lúc đầu cô
nghĩ đó là một cái bóng của ai đó bị ánh đèn chiếu hắt vào phòng rồi in lên
tường, nhưng chỉ vài giây sau thì cô nhận ra đó là một khuôn mặt đàn ông. Cô
chạy nhanh ra khỏi phòng nhưng vẫn kịp biết ở đó không chỉ một mà có đến hai
khuôn mặt xuất hiện. Họ có một cái nhìn đầy sầu muộn và câm lặng:
Phi nghe một giọng nói lạnh lẽo truyền sâu vào tai:
- Hai Hội
đây. Chắc là mi chưa quên Hai Hội này. Âm dương cách trở nghìn trùng nhưng nợ
có vay, có trả.
Phi quay
phắt về phía giọng nói nhưng chẳng thấy gì. Đó cũng là lúc hai khuôn mặt đàn bà
từ một nơi nào đó trong bóng tối nhô ra.
Có gì như
tiếng nước chảy róc rách. Phi có cảm tưởng như nước cứ chảy tràn ra, dậng cao
mãi, cao mãi thành một biển nước mênh mông, ngập người, rồi từ đâu không rõ,
một đôi trai gái đứng chắn phía cánh cửa nhìn Phi đăm đăm nhưng không nói năng
gì.
Mặt mày phi lúc
này trắng bệch tựa xác ma. Phi đông cứng người lại trong một nỗi khiếp sợ hãi
hùng. Dường như có một cái lồng kính khổng lồ chụp xuống, nhốt kín Phi.
Khi mọi người phát hiện ra Phi cứng lạnh trên một
chiếc ghe neo bên bờ sông họ không khỏi hoảng loạn. Nhiều người khăng khăng
trước đó họ đã sục sạo khắp mọi xó xỉnh, ngóc ngách trong thôn làng. Có người
còn bảo đã dùng chiếc ghe ấy bơi dọc bờ sông để tìm Phi. Việc Phi đột ngột bị
mất tích trong ba ngày để rồi sau đó, xác Phi nằm trên chiếc ghe cũ dạt vào bờ
là hiện tượng chưa từng thấy.
Na nhớ rằng đêm ấy khỏang mười một giờ khuya, cô từ
phòng Phi chuẩn bị về phòng riêng ngủ, nhưng chưa kịp về cô đã thấy ma và chạy
tháo thân. Thường thì vào giờ đó ở thành phố, Na và đám bạn vẫn còn thức đánh
bài, xem truyền hình, dạo phố ăn khuya chuyện ngẫu. Sống giữa thành phố thì
chẳng đời nào người ta tin ma quỷ trà trộn được vào cuộc sống của mình.
Cùng lúc ấy bà vợ của Phi đã linh cảm được cái chết
của chống trước bất kỳ ai. Bà không dấu diếm với mọi người rằng đêm trước tại
Sài Gòn, bà vì công việc quá nhiều đã phải thức đến khuya giải quyết. Sau đó
mệt quá bà gục xuống bàn và thiếp đi lúc nào không hay.
Bà không biết mình ngủ như thế trong bao lâu thì thình
lình, từ phía cửa sổ, một cái gì tựa như con đò trôi lơ lửng vào phòng làm việc
của bà. Một trong hai cô gái ngồi trên đò báo cho bà biết rằng chồng bà đã
chết. Sau đó con đò từ từ tan biến như thể nó chưa từng hiện ra trước mắt bà.
Hôm sau bà thức dậy trong trạng thái rã rời và đầu óc nhức
như búa bổ. Nhớ lại những gì nghe thấy đêm qua, bà gọi vào di động chồng nhưng không
có tín hiệu trả lời. Bà vội vã gọi đến nhiều người thuộc ban lãnh đạo công ty. Bà
nhận được câu trả lời của phó giám đốc cho biết chồng bà đi đâu không một ai hay
biết.
Lo sợ, bà vội lên xe xuống thẳng công trình.
Lần đó cái tin ông chủ Phi mất tích loan nhanh khắp
làng xã. Ban chỉ huy công trình và chính quyền địa phương kịp thời triển khai
kế họach tìm kiếm Phi khắp nơi. Đích thân bà vợ của Phi thuê người và thợ lặn
tìm kiếm chồng.
Rồi thình lình xác Phi dưới sông nổi lên và dạt vào
bờ. Vợ gã vội vã đưa thi hài gã về Sài Gòn hỏa táng. LTT
CHUYỆN ÔNG DÀI, ÔNG CỤT
Đó là những ngày
tháng mười vần vũ, suốt dải đất liền từ Bắc chí Nam trời mưa như trút nước
xuống khắp làng mạc, phố phường. Hoàng có cảm tưởng sắp xảy ra đại hồng thủy.
Thằng bạn người Hà Nội thấy Hoàng thu xếp về quê giữa lúc mưa to gió lớn bèn
mắng anh xối xả:
- Có họa điên
khùng hoặc muốn tự sát nên mới tính chuyện nhảy tàu chợ về quê trong mưa bão
thế này. Sống cạnh nhau bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn không quen được cái tính
gàn bướng ở ông.
Hoàng không muốn
cãi lại hắn vì điều hắn nói quá đúng. Anh chỉ nhìn xuống đất thở dài. Biết khó
lay chuyển Hoàng, hắn miệt thị:
- Mày có phải là
thằng người có trách nhiệm đâu sao lần này mày bỗng yêu vợ đột xuất thế.
Không mợ chợ cũng đông. Chẳng ai cần đến mày đâu. Lúc này mày có mặt tại
nhà cũng chưa chắc giúp được gì cho nàng. Chưa nói, mày mà về rủi ro bề nào
nàng còn phải hệ luy, thương đau. Đường trường hiểm trở, phương tiện giao thông
lạc hậu, hôm qua có một đòan tàu bị trật bánh trên đường ray, cũng may đó chỉ
là tàu chở hàng. Tàu khách chắc có nhiều người chết. Đường quốc lộ thì nước
chảy xói lở nham nhở. Ô tô bị ngập lũ rất dễ kẹt cùng lúc cả đòan, thậm chí bị
lật,...đừng về là hơn.
Hoàng hiểu
thằng bạn vì sự an ổn của anh mà tìm đủ lý do cản trở anh về nhà lúc này, tuy
nhiên, từ đêm qua đến giờ, người Hoàng cứ nóng bừng bừng như thể có một ngọn
lửa vô hình thiêu đốt anh. Hễ nghĩ đến cảnh cô vợ yếu ớt phải đơn độc vượt cạn
là anh lại lo âu. Đợt về thăm nhà gần đây nhất, vì xích mích với mẹ mà Hoàng
phải thuê một phòng riêng cho vợ ở. Bây giờ nàng sinh nở, một thân một mình
biết phải làm sao.
Chưa bao giờ Hoàng
thấm thía cái nghèo của một gã nhà văn như lúc này. Anh vẫn làm việc không
lương lộc và chẳng biết bao giờ mới kiếm đủ tiền đưa vợ ra Hà Nội sống chung
với mình.
Mẹ anh có lần chì
chiết:
- Tao mà ở địa vị con
vợ mày thì tao bỏ quách mày từ lâu. Trong tộc họ này không ai theo nghề văn
chương, nhờ đó mà cũng chưa có ai nghèo ho ra máu, chỉ có mày.
Hoàng thở dài. Anh
biết mẹ đã tuyệt vọng về anh. Giá mà có tiền anh đã thuê người chăm sóc vợ từ
trước. Mẹ anh thì vẫn giữ thái độ sống chết mặc bay. Bà không ghét gì
con dâu nhưng bà hết chịu nổi đứa con trai: cao ngạo, ngông cuồng, bất cần. Bà
không hiểu tại sao con dâu bà mê nó đến mức ấy? Trong mắt bà nàng rõ là đứa con
gái trời đày: Cung cách ấy, nhan sắc ấy nếu mà được làm vợ người khác thì
hẳn sung sướng và êm ấm. Đáng lẽ theo cha xuất cảnh thì nàng cứ khăng khăng
một mực đòi ở lại chỉ vì muốn kết tóc se duyên với một văn sĩ quèn.
Mẹ Hoàng tự biết
mình đâu phải là lọai bà già chỉ biết lo chuyện cơm áo gạo tiền. Cả đàn con gần
chục đứa một tay bà buôn bán nuôi nấng. Cũng may chúng nó tuy không hơn đời hơn
người nhưng cũng biết cách bươn chãi mưu sinh. Chỉ riêng có Hoàng là đứa thông
minh xuất chúng nhất, nhưng cuối cùng anh lại phơi bày tình trạng thê thảm
nhất.
Hoàng ngồi bó gối
trong góc phòng điện thọai cho mẹ. Anh muốn xin lỗi bà và nhờ bà chăm sóc vợ
anh. Thế nhưng nghe tiếng anh trong máy bà chỉ im lặng. Sốt ruột Hoàng tắt điện
thọai và xách túi nhảy đại lên tàu. Thằng bạn đồng nghiệp chỉ kịp thảng thốt:
- Cầu trời cho
mày bình yên vô sự. Cứ nghĩ đến cái cảnh con E1 đứt làm đôi và lật ngửa, đòan
người cứ thế tan tác từng mảnh, vỡ vụn ra, đầu tàu vẫn cứ lao về phía trước.
Tao hãi hùng.
Suốt đêm Hoàng mất
ngủ vì phải nghe đủ mọi âm thanh: tiếng bánh tàu ken két nghiến vào đường ray,
tiếng còi hụ, tiếng rền rĩ của những đợt cuồng phong, tiếng loa phóng thanh
oang oang mỗi khi tàu vào một sân ga nào đó. Tàu cứ xình xịch chốc lát rồi đỗ
lại từng ga lẻ nên Hoàng có cảm tưởng mình ngồi trên một con ốc sên khổng lồ và
nó đang chạy thi với thỏ. Anh vừa sốt ruột, vừa ân hận vừa thấy tòan bộ kiếp
sống của mình là một sự phi lý đến lố bịch. Phải một ngày sau anh mới thấy
thằng bạn có lý: lẽ ra anh không nên về. Khi tàu đỗ ở ga xép huyện nhà và anh
rời tàu thì trời đã nhá nhem.
Trong đêm mịt mùng
chỉ có mỗi mình Hoàng trên sân ga dưới mưa trời tầm tã. Vài ba ngôi nhà nhỏ rải
rác trong xóm vắng đã hoàn toàn chìm khuất giữa màu mưa. Cái lạnh thấu xương
không đáng sợ bằng vẻ u ám của xóm núi trong bão đêm. Phóng tầm mắt nhìn bao
quát cảnh vật, Hoàng chỉ thấy le lói vài ngọn đèn bão trong màn mưa dày đặc
trông chẳng khác gì ma trơi.
Hoàng rủa thầm.
Điện đón tắt ngấm, đêm núi rừng nhuốm sắc hoang liêu. Anh đóan có lẽ bão lớn
quá nên đường dây điện bị đứt. Dãy nhà ga mất điện cửa đóng im lìm như nhà vô
chủ. Hoàng thử gõ cửa vài phòng nhưng chẳng phòng nào có động tĩnh bên trong.
Mãi khi ánh chớp nháy lên anh mới thấy những cái ổ khóa to sụ siết chặt các
khoen cửa.
Hoàng gọi di động
cho người nhà không thấy ai bắt máy. Chẳng lẽ lội bộ hơn hai chục ki lô mét
trong cái cảnh nước ngập quá bụng. Dù sao thì trước sự thể đã rồi: thằng đàn ông
hơn 30 tuổi, vào cái thuở điện thọai di động thịnh hành, trong cảnh nguy nan
vẫn không thể gọi ai đến cứu giúp được.
Lúc này Hoàng mới
tủi thân: thì ra không phải vì trách nhiệm với cô vợ trẻ mà Hoàng rơi vào cảnh
ngộ này. Anh nghiệm thấy bao nhiêu năm trong đời làm kiếp con người, từng đường
đi nước bước của anh cứ như bị ma đưa lối quỷ dẫn đường. Lần này cũng thế, một
sức mạnh mù quáng và bí ẩn đã lôi anh từ Hà Nội về đây. Chẳng mấy khi anh làm
gì mà có được một kết quả tốt đẹp. Bây giờ anh hòan tòan bất lực và khó mà cứu
vãn được mình. Vợ anh ra sao thì cũng đành mặc kệ nàng.
Hà Nội giờ này cũng
ngập trong mưa. Trước đó Hoàng nhận được thư thọai của cô em gái thông báo rằng
vợ anh đang chuyển dạ. Miệng lưỡi cô em cứ líu lo làm anh cũng rối trí. Đây là
đứa con đầu lòng của Hoàng. Anh chỉ còn biết chạy tới, chạy lui vay được vài
triệu.
Không ai hiểu nổi
sự liều lĩnh của Hoàng, bảo Hoàng nóng lòng nhìn mặt đứa con so càng không
đúng. Anh ta có vẻ không ưa trẻ con, lại có xu hướng chạy trốn cuộc sống gia
đình. Đám bạn thân ai còn lạ con người Hoàng: anh cũng nhiễm cái thói thường
văn mình, vợ người của bọn văn nghệ sĩ nói chung. Xưa nay, chỉ cô vợ trẻ đẹp là vẫn quan tâm, chăm chút từng ly
từng tý Hoàng. Nàng đích thực là vật hy sinh cho thứ tình yêu mà chính nàng tự
tưởng, vẽ vời huyễn hoặc mình. Còn anh, một nhà văn, nhà thơ nửa mùa. Anh sáng
tác cũng không ít. Đọc sách anh thấy cũng không đến nỗi nào. Riêng lối sống quá
chướng của anh thì ai cũng phải ngán ngẩm. Anh cứ khiến mọi người phải ngạc nhiên
vì cuối cùng rồi anh cũng lấy vợ.
Nhưng thôi, tạm
dừng cái chuyện vợ con của Hoàng lại, mặc dù cái việc anh lặn lội về với vợ đã
thể hiện hành động tốt đẹp duy nhất của anh, nhưng anh có làm được gì cho vợ
con không thì đó là những chuyện của những ngày sau. Còn đêm nay là đêm kinh
Hoàng nhất trong đời Hoàng.
Nơi hoang vu này
xưa kia là một khu rừng âm u, vắng bóng con người. Hẻm núi xó rừng là chỗ của
ma rừng quỷ núi. Tương truyền rằng chỉ khỏang chục năm trở lại đây, cứ vừa chập
tối là ma đốt đuốc nhảy múa. Giữa ban ngày ban mặt mà ma rừng còn xuống tận xóm
bắt trẻ con về dấu trong hốc đá. Từ ngày ga xép được xây dựng, cảnh vật có bớt
quạnh hiu hơn. Nhưng đó là vào những ngày thường. Đêm nay, cả một miền đất bao
la như đang lọt vào trung tâm cơn thịnh nộ của đất trời.
Không còn chọn lựa
nào khác Hoàng cứ xông bừa vào mưa mà đi. Di chuyển giữa bốn bề mưa, gió, nước
ngập lênh láng được chừng vài ki lô mét, Hoàng mới nhận ra mình đang xuôi về
phía sườn đồi bao bọc thung lũng mé tây. Bức tường nham nhở, lở lói của tòa
thành cổ dưới ánh chớp liên tục trông như một hình thù ma quái dị dạng. Trong
màn đêm thăm thẳm, thoảng hoặc, có tiếng gì như tiếng người gọi nhau, nhưng dù
có căng cả người ra Hoàng cũng chẳng làm sao xác định được vị trí của con đường
dẫn ra huyện lỵ.
Bỗng nhiên Hoàng
nhớ một dã thọai mà thuở còn bé anh nghe người lớn kể lại và thời sinh viên anh
ghi chép rồi đưa vào bộ sưu tầm văn học dân gian địa phương:
Chuyện rằng:
..... Ngay tại vùng bán sơn địa này vào thuở xa xưa có một đôi vợ
chồng tiều phu chung sống với nhau đã nhiều năm nhưng không có con, mơ ước có
một đứa con để vui cảnh già thiêu đốt tâm can họ. Họ thường hay cầu khẩn thần
linh phù hộ độ trì để sớm có một mụn con.
Ngày nọ, bà vợ đi
hái nấm và lạc vào rừng, trong rừng có một ngôi miếu hoang đổ nát, tượng thờ vị
thần bị vỡ nát nên không thể nhận dạng. Gặp lúc trời mưa bà vào miếu trú thân.
Nhân tiện, bà chắp tay khẩn cầu thần miếu trợ duyên để bà có một đứa con. Bà
đinh ninh đây là miếu thờ thần núi. Thật ra miếu thờ thần núi cách chỗ ấy khá
xa, chân mềm sức yếu bà khó mà leo lên tới.
Bà vợ không hề
hay biết ngôi miếu bà gặp là của một tộc người tin thờ thần rắn ngày xưa sống
ở vùng này, vào thời của bà họ đã di cư đến vùng đất khác. Đã hàng mấy ngàn năm
trôi qua thần rắn trấn ngự sông suối xứ sở này. Dù không tin thờ thần rắn, lời
cầu nguyện của bà cũng động lòng thần, để rồi, đêm ấy về ngủ bà nằm mơ thấy
thần rắn báo mộng. Thần cho bà biết là bà sắp làm mẹ, nhưng vì quyền năng thần
có hạn, nên lẽ ra, những đứa con bà sinh là người thì chúng lại
mang kiếp rắn. Thần còn bảo, nếu bà không muốn, thì thần sẽ thôi, không giúp bà
thụ thai.
Sáng hôm sau bà vợ
kể lại giấc mơ cho chồng nghe. Ông chồng cũng khao khát một mụn con như vợ nên
nhủ với vợ rằng dù phải sinh ra một con rắn thì đó cũng là máu mủ của mình thì
mình nên hết lòng thương yêu và lấy đó làm niềm vui và diễm phúc.
Họ mang lễ vật vào
miếu tạ ơn thần rắn.
Đúng như thần rắn
phán, thời gian sau bà vợ có thai và đến ngày sinh nở bà đẻ được một cặp trứng.
Không bao lâu vỏ trứng nứt vỡ có hai chú
rắn nhỏ chào đời.
Ông bà già thở dài
nhưng vẫn nhẫn nại nuôi dưỡng và hết mực thương yêu, săn sóc những đứa con kiếp
rắn của mình.
Đôi rắn nhỏ quần
quýt bên cha mẹ không rời nửa bước. Cuối cùng thì hai ông bà cũng lấy thế làm
vui. Họ đi đâu đôi rắn cũng bò theo, người cha thương con vẫn thường đem điều
hiếu nghĩa dạy cho rắn nghe. Chúng tỏ ý hiểu ông bà và vào những lúc mưa gió
thấy cha mẹ đi tìm thức ăn hết sức vất vả. Anh em rắn nhân lúc cha mẹ ngủ,
thường lẻn bò vào rừng, săn gà, bắt thỏ, nhặt nấm, hái quả... đem về cho cha
mẹ. Có một trở ngại với hai vợ chồng già là cặp rắn giống nhau như đúc nên họ
chẳng thể nào đặt tên và không cách gì phân biệt được đâu là rắn anh, đâu là
rắn em. Cũng hay là đôi rắn chưa bộc lộ những điểm khác biệt của mỗi con nên
ông bà xem chúng tuy hai nhưng là một.
Trong túp lều lẻ
loi góc rừng, gia đình họ chung sống vui vầy bên nhau như thế cho đến khi người
chồng tuổi già, sức yếu ốm nặng rồi qua đời. Không thể nào diễn tả được nỗi
buồn của đôi rắn trước cảnh phụ tử sinh ly. Ngày ngày chúng lên mộ cha cuộn
mình phủ phục, cho đến khi ngôi mộ xanh cỏ chúng mới thôi. Bà mẹ bây giờ tuổi
cao sức yếu. Ngày kia, bà ra vườn cuốc đất, trồng rau. Mắt bà bây giờ đã
mờ lòa vì tuổi tác, đôi rắn vì thương mẹ nên cũng bò theo ra vườn, lượn lui,
lượn tới bên chân bà.
Mải cuốc xới, vô
tình người mẹ cuốc phải vào ngang thân của một trong hai con rắn, một phần thân
dưới và đuôi con rắn bị đứt lìa khỏi cơ thể. Rắn bị đứt cụt mất đuôi rít lên
đau đớn. Bà mẹ hốt hỏang tìm lá thuốc băng bó vết thương cho nó và quay vào
nhà, bỏ dở công việc. Không bao lâu vết thương trên mình rắn lành trở lại,
nhưng phần thân thể bị đứt chẳng thể nào tái sinh, từ đó nó trở thành một con
rắn cụt đuôi. Cũng nhờ đó mà bà mẹ có thể phân biệt được đứa này với kia.
Đôi rắn bắt đấu có tên gọi từ đấy: rắn dài, rắn cụt.
Lúc này tính cách
của từng con rắn bắt đầu bộc lộ: rắn dài thì hiền lành và sống tử tế với tất cả
muôn loài còn rắn cụt tuy không phải là hung ác nhưng cứ thấy những điều trái ý
như cảnh lớn hiếp bé, đồng lọai tàn sát nhau của các lòai động vật và cả lòai
người là nó bức xúc và sẵn sàng trườn đến mổ vào kẻ mà nó ghét mới thôi. Rắn
dài không đồng ý với bản tính của em nhưng bà mẹ thì khác, bà bảo: có lẽ nó
biết đau đớn khi phải chịu thương tích nên nó đứng ra bênh vực kẻ bị hại và
lọai trừ những kẻ ác hại.
Anh em rắn
rắn sống bên mẹ cho đến ngày bà được thần rắn đón về chầu trời. Khi những
người xứ khác đến lập nghiệp nơi vùng này, họ không biết đôi rắn và muốn đập chết chúng. Anh em rắn lúc này sợ bị
giết hại mới bỏ khu vườn cũ vào sống trong một tòa thành cổ giữa vùng rừng núi.
Cứ đến tuổi già đôi rắn lại lột xác, thân thể trẻ lại nên hàng trăm năm trôi
qua chúng vẫn sống bình thường. Người già trong vùng bảo chúng là rắn
thần, chúng rất khôn ngoan, hàng trăm lòai rắn nơi núi rừng đều thần phục
chúng.
Có rất nhiều huyền
thọai kể về quyền phép của rắn: rằng hồn mẹ rắn đã được hóa thần. Bà trấn giữ
xóm núi này và vào những kỳ lễ lạt, có nhiều người trông thấy bà ban phép xuống
các rẫy vườn,...Nào là sống đủ trăm năm anh em rắn có thể hóa hiện thành người.
Đôi vợ chồng kia đã không thượng thọ cho đến ngày con cái mình đủ phép thuật
rời bỏ lốt rắn. Rằng nhờ hồn người, xác rắn mà chúng tu luyện thành tiên, có đủ
thần thông nên biến hình thành bất cứ thứ gì mà nó muốn. Thường chúng biến
thành các chàng trai cứu độ những anh hùng sa cơ lỡ bước ẩn thân nơi rừng núi
hay thình lình gặp họan nạn giữa đường. Nào là có một nhà sư ẩn tu trên
núi cao. Khi ông hạ sơn, thuyết pháp, đôi rắn bò vào nghe. Chờ đến khi mọi
người về hết, anh em rắn hiện thân người đến đảnh lễ sư và xin ông thu nhận
chúng làm học trò,... Những truyền tụng về đôi rắn quá nhiều đã khiến cho con
người cũng sinh tâm ghen ghét chúng và không ít âm mưu, cạm bẫy được giăng ra
nhằm dẫn dụ đôi rắn vào tròng nhưng cuối cùng chẳng ai hại được chúng.
Hằng năm, vào
ngày giỗ cha hai anh em rắn rủ nhau bay về khu vườn cũ làm giỗ. Cứ mỗi
lần chúng đi trong vùng thường có xảy ra hiện tượng mưa gió sấm chớp rền trời.
Dân gian truyền tụng là Ông Dài, Ông Cụt về cúng cha. Sau này có nhiều kẻ biết chuyện,
chợt nẩy sinh gian kế mới, chúng bèn tụ tập lại và đốt nhang trầm nghi
ngút. Rắn sợ hít phải mùi nhang trầm mê man, mất phép nên bay đi biền biệt từ
đấy.
...........
Thuở nhỏ nghe
chuyện Ông Dài, Ông Cụt Hoàng tin hai ông có thật. Trong trí óc trẻ
thơ, Hoàng tưởng tượng mình gặp rắn thần, được truyền phép nên có được thần
thông và đem ra giúp đời. Lớn lên dù viết lại thành truyện anh vẫn thấy nó thật
buồn cười.
Không hiểu sao hình
ảnh hai ông rắn thần lúc này cứ lởn vởn trong đầu Hoàng. Có những mối giao cảm
huyền bí và sâu xa giữa anh với các thế lực siêu nhiên nhưng cái tính ưa phỉ
thui cứ buộc anh tìm cách trục xuất những điều mầu nhiệm ra khỏi ý thức.
Lúc này cũng thế,
Hoàng nghĩ có lẽ tiếng gió rít, tiếng nước chảy trên sườn đồi, tiếng thân cây
bị gió bẻ gãy dễ gây cho con người cảm giác nhỏ nhoi, cô độc trong đêm vắng và
gợi liên tưởng đến những sức mạnh ma quái như tiếng hú gọi của lòai quỷ núi,
tiếng rít ghê rợn của lòai mãng xà như cảnh tượng trong các bộ phim dã sử Hoàng
vẫn thường xem.
Đêm đó, Hoàng lội
bộ một quãng đường khá dài để đến một địa điểm trên đường làng thường ngày các
bác xe ôm vẫn chờ đón khách đưa ra huyện lỵ. Khổ nổi, hơn chín giờ đêm ngâm
mình trong biển nước mênh mông để chờ xe giữa ngã ba đường Hoàng vẫn không thấy
bác xe ôm nào. Không một bóng người qua lại khu vực ấy. Mà làm gì có một ông xe
ôm dại dột đi đón khách trong cảnh mưa tối trời tối đất này lũ mỗi lúc một dâng
cao.
“Mình đầu hàng số
phận thôi”! Mọi hy vọng trong Hoàng tắt ngấm. Anh ước được thấy con người xuất
hiện. Cái đám đông huyên náo của Hà Nội nhiều khi khiến Hoàng buồn nôn sao lúc
này nghĩ đến nó Hoàng bỗng muốn hòa mình vào. Hoàng không muốn chết. Chỉ những
lúc cận kề cái chết anh mới thấy niềm ham sống mãnh liệt.
Thế là hết! Nước đã
bắt đầu tràn đến mép tai. Phải chăng anh thật sự hóa điên nên mới không thấy
hiểm nguy vẫn rình rập sau mỗi bước đi của mình, và chỉ những người tỉnh táo
nhìn vào anh là biết. Hoàng chợt thương thằng bạn cực tốt. Anh đã quay lưng lại
với sự quan tâm lo lắng đầy tình người của nó. Anh khẽ bảo thầm: “Bây giờ tao
chết chìm đây, thương trách đi, khóc đi! Tao xin lỗi mày! Ngàn lần xin lỗi!”.
Chợt có cái gì đó
như là một hình người mờ nhòe dưới trận mưa tầm tã di chuyển đến chỗ Hoàng
đứng, nó khẽ ra hiệu cho Hoàng, ý chừng bảo anh chịu khó dấn bước một quãng nửa
thì sẽ gặp may.
Trống ngực Hoàng
đập thình thịch, Hoàng cố một chút và thấy nước phủ qua đầu. Anh uống vài ngụm nghe
mùi bùn tanh tưởi xộc thẳng dạ dày. Đó cũng là lúc Hoàng chạm vào một vật thể
cưng cứng. Rồi hình như có một sợi dây cuộn lấy người anh.
Hoàng buồn ngủ rũ
người và anh không thể hiểu nổi lúc đó anh tự đi theo hình hài kia hay là anh
bị một sức mạnh bí ẩn khác dẫn dắt. Anh thấy quá rõ ràng là anh đang bị gió bão
quật lên, quật xuống tơi tả cho đến lúc tòan thân như kiệt quệ tưởng chừng sẽ
chết rã.
Kỳ diệu làm sao
ngay lúc đó một cỗ xe khá lạ lùng từ trong mưa mù lù lù hiện ra đỗ ngay cạnh
Hoàng. Rà soát khắp mọi ngóc ngách của trí nhớ Hoàng vẫn không tài nào biết
được tên gọi của lọai xe này. Kiểu dáng chiếc xe hơi giống một đòan tàu tí hon,
thế nhưng nó không có bánh cũng chẳng có đầu máy. Phần đuôi xe thì nhỏ và nhọn
dần. Mãi sau Hoàng mới biết chính cái đuôi xe ấy đã cuộn lấy anh, nhấc anh lên
khỏi mặt nước.
Hoàng nằm trong xe
mà không ý thức nổi bất cứ điều gì vì lúc này cũng đã gần nửa đêm. Anh nhớ rõ
là dù đi theo bất cứ ngả nào, thậm chí đi lạc, thì mọi con đường xe chạy đều bị
ngập sâu trong nước và chuyến xe đang chở anh rất dễ bị lật nhào xuống vực sâu.
Thế nhưng, con đường mà xe anh chạy lúc này lại rất khô ráo tuy có ẩm lạnh.
Thêm một điều kỳ lạ nữa là Hoàng có cảm tưởng người và xe như đang luồn trong
một hang đá khổng lồ. Chiếc hang cũng chẳng giống mấy với những đường hầm tàu
hỏa mà anh thuộc làu.
Hoàng gõ vào thân
xe, anh chỉ nghe những âm thanh bùm bụp phát ra như đang gõ vào mặt trống bằng
da. Lớp da bọc trên sàn xe lúc này đã hiện rõ hình thù của một lớp da rắn.
Hoàng lại như trôi không trọng lượng, anh đã ngủ mê man...
Đêm ấy chuyến xe
đưa Hoàng đến một nơi mà Hoàng ngỡ như là hang động của con người thời tiền sử.
Tuy vậy, mỗi phòng riêng lại được sữa chữa, bài trí giống như phòng ở của các
gia đình vùng sơn cước thời xưa. Anh cố bật dậy nhưng không hiểu sao đầu óc cứ
nặng như đeo chì, mấy lần anh tưởng đã nhấc mình đứng lên ấy thế mà anh vẫn
đang còn nằm tê liệt. Cái chỗ Hoàng đang nằm là một sàng đá có trải rơm. Xung
quanh bốc lên một mùi ẩm mốc, rữa mục. Hoàng chống tay vào vách đá, cố căng mắt
nhìn về phía cuối phòng, nơi có thứ ánh sáng xanh lét phát ra từ một vật hình
thù kỳ dị, tựa như một chiếc nấm khổng lồ. Ở đó có những bóng người đang đi
lại. Một bếp lửa với những đốm than hồng đang tàn nhanh.
Hoàng nghe bên tai
có những âm thanh rin rít. Ban đầu Hoàng không nghĩ đó là tiếng nói của con
người, lại đang nói với anh. Chỉ đến khi anh nhận ra một bóng ngừời đang đứng
cạnh và nhìn đăm đăm vào mặt anh thì Hoàng mới cất lời chào. Người ấy cũng chào
đáp lễ và hỏi Hoàng đã khỏe chưa, có thấy đói bụng không? Hoàng nhớ là đã gần
một ngày mình chưa ăn uống gì nhưng anh sợ đêm hôm tỏ ý muốn ăn sẽ làm phiền
phức vị ân nhân của mình. Lại nữa, chẳng hiểu sao Hoàng không thấy đói. Anh bày
tỏ niềm biết ơn với người đó và nói rằng anh thấy cần một lọ dầu, một điếu
thuốc hoặc ly trà, ly rượu gì đó cho ấm bụng chứ thực tình anh không thấy thèm
cơm.
Cụ bà – lúc này
Hoàng mới nhìn tường tận – nheo mắt nhìn anh trong chốc lát và bật cười.
- Thịt gà giúp ông lại
sức nhanh hơn những thứ ông đòi hỏi nhiều. Ông không từ chối chén một con gà
chứ?
Nói rồi cụ quay đi,
lát sau cụ quay lại, hai tay tay bê một chiếc đĩa lớn trên có một con gà nướng
to tướng bốc mùi thơm phức và đặt ngay ngắn trên chiếc bàn đá ngay trước mặt
Hoàng:
- Mời ông! Con
trai của già thấy đón khách vào nhà mà chẳng có gì thết đãi nên mới vội vã vào
rừng săn được con gà và cứ hối thúc già nướng thật nhanh vì sợ khách thức dậy
đói bụng. Nó thấy ông xuống sân ga từ lúc sẩm tối và cứ đâm đầu xuống đường
ngập lụt lại thêm cái nạn ngâm mình trong mưa kiệt sức và đói lả,...
Hoàng sửng sốt:
- Cụ bảo sao? Vào
rừng săn gà giữa đêm hôm mưa bão thế này à! Con trai cụ mình đồng, da sắt hay
sao mà có thể làm được một việc phi thường.
Cụ bà có vẻ thiện
cảm với Hoàng hơn:
- Nó cũng mắt
thịt, hình hài cha sinh mẹ đẻ như ông thôi, nhưng nó cũng có nhiều điểm khác
thường. Mà thôi, ông đừng bận tâm đến điều đó. Ông cứ ăn uống ngủ nghỉ cho thật
đẫy giấc sáng mai khỏe rồi về. Các con trai của già sẵn sàng cứu giúp người
đang lâm nguy, nhưng chúng nó không ưa người lạ đâu. Chúng nó bảo con người là
một con thú thủ đọan và nham hiểm nhất.
Hoàng cau mày:
- Các anh ấy sống
nơi rừng núi, xa chốn phồn hoa, chỉ chuyên săn bắt có bao giờ va chạm với người
đời mà đưa ra nhận xét về con người chính xác thế. Con nói cụ đừng khinh, cái
thằng nhà văn là con đây, chỉ vì cố suy tư, giữ mình, không dám thi triển những
âm mưu, thủ đọan vốn là bản chất của con người mà bao phen lâm vào cảnh khốn
cùng.
- Ông nói chí
phải. Mẹ con già mấy chục năm nay có cưu mang một người lính bị thương trong
chiến tranh, người lính này bị một đồng hương sát hại. Những lúc phẫn uất, anh
lính chửi thằng người đồng hương kia nham hiểm, thủ đọan, lươn lẹo như rắn. Các
con của già nghe bất mãn lắm, chúng biết rõ rắn không độc địa đến thế.
Hoàng thấy bà già
có lý bèn phụ họa:
- Rắn mà độc địa
thì chẳng đời nào chúng chịu để cho con người tàn sát đến nhiều loài phải tuyệt
chủng.
Càng lúc Hoàng càng
nhận thấy cuộc trò chuyện của mình với cụ bà thêm phần li kỳ. Anh lờ mờ nhận ra
mình đang ở một nơi rất không bình thường và bà già đang trò chuyện cùng anh
cũng li kỳ không kém. Chỉ riêng cái việc pha trà mời anh uống sau khi anh chén
no nê con gà nướng bà đủ làm anh đặt nhiều nghi vấn nhưng vì bà là ân nhân nên
anh không tiện tò mò gặng hỏi.
Cụ bà như không để
ý đến cái nhìn dò xét của Hoàng.
- Ông buồn ngủ
thì vào giường nằm nhé. Bèn không thì có thể ngồi nhâm nhi từng chén trà.
Hoàng tỏ ý biết ơn
và bưng chén trà nhấp một ngụm và khà lên một tiếng:
- Trà ngon quá.
Trong trà có ướp thứ lá gì mà mùi vị đặc biệt vậy. Lại còn thêm hơi lạnh. Dù
bốc hơi nghi ngút nước trà vẫn lạnh băng và không giống mấy thứ trà đá thông
thường. Cháu không biết tên của lọai trà này là gì.
Cụ bà cười buồn:
- Ông ngâm mình
trong nước nhiễm lạnh đến tím tái, lại uống cả bụng nước lụt, sặc cả bùn ra mồm
thì có hơ lửa, mặc ấm, xoa dầu nóng, uống rượu mạnh cũng chẳng làm sao chữa trị.
Chỉ duy có lọai trà này mới cứu được ông, và giúp ông hồi phục nhanh chóng. Hơi
lạnh ấy có sức phục sinh. Nó tống hết hàn khí trong người ông. Tuy vậy, có một
trở ngại mong ông lưu ý. Để cân bằng âm dương cho cơ thể, sau này ông nên dùng
nhiều những thức bổ dương.
- Chịu chết thôi
cụ ạ! Những thức bổ dương thì chỉ đám trưởng giả, quan quyền hưởng nhiều tài
lộc mới có tiền chơi nó chứ văn sĩ nghèo như cháu thì đừng có mà tơ mơ.
- Ông là văn sĩ
sao ngu thế! Chắc ông từng đọc sách Đạo. Ông thấy người xưa có đề cập đến
nguyên lý âm dương. Tôi muốn ông tìm thức bổ dương cho mình là có ý khuyên ông
nên bồi bổ dương khí.
Hoàng thấy mình gặp
may và tin tưởng bà lão hơn, anh đánh bạo hỏi bà sao cái nhà này trông giống
một cái hang động. Mà anh thì đã ngao du khắp núi rừng, thắng cảnh, các hang
động trong vùng anh đều tường tận cả. Tại sao cái động đá này anh chưa bao giờ
nghe nói đến. Phải chăng đây là một động rắn hoặc động tiên và các dã thọai ít
nhiều đều thật có.
Cụ bà gạt phắt:
- Chúng tôi có
tồn tại trong trời đất này cũng đâu phải để thỏa mãn thói tò mò, hiếu kỳ, thậm
chí là để làm nạn nhân loài người. Già và các con trai của già là rắn hay người
thì việc gì đến ông.
Hoàng chưng hửng.
Anh nghĩ ngợi lan man: đúng là họ có là yêu, ma, quỷ, mị, chằn, tinh, thần,
tiên,... gì đi nữa thì cũng chẳng mắc mứu gì đến anh nhưng rõ ràng đó chưa phải
là vấn đề để cụ bà nổi nóng. Có một mối đe dọa nào đó đối với những người như
bà. Bởi vì thật nhanh, bà già nhìn anh âu yếm, và giọng bà trở nên dịu dàng:
- Già cư trú ở
đây vì đất này là hiểm địa: rừng thiêng, nước độc, thế núi hiểm trở, mưa lũ
thất thường tai họa liên miên. Ai gặp họan nạn thì già cứu, đó cũng là cách vun
bồi âm đức cho con cháu. Lòai người vẫn thường truyền tụng nhiều chuyện hay về
rắn như: rắn trả ơn, báo óan. Chắc ông có đọc truyện Công Dã Tràng. Có những
con rắn sẵn sàng nhả ngọc tặng người làm việc nghĩa cứu mình. Ông phải biết:
chỉ những con rắn tu luyện công phu mới có ngọc. Mất ngọc, nó chẳng bao giờ
thành tiên mà mãi mãi phải chịu kiếp rắn.
Rồi bà cười:
- Vừa rồi ông
uống trà ngọc rắn đấy!
Trong ngôi nhà này
Hoàng không phải là người duy nhất chịu ơn cụ bà và các con trai của cụ. Theo
như cụ kể thì rất nhiều người uống phải nước độc hoặc phát bệnh giữa rừng đã
được họ cứu. Trước lúc đi ngủ lại, cụ bà đưa Hoàng đến một căn phòng nhỏ, tận
sâu bên trong, nơi đó có một thanh niên mặt mũi khôi ngô, rắn rỏi nhưng tòan thân
bị thương cháy bỏng phải quấn băng trắng tóat. Anh ta cũng nằm trên một chiếc
giường đá nhẵn, mịn, cặp mắt u buồn của anh ta chợt sáng lên khi trông thấy
Hoàng.
- Cậu đây từng là
sĩ quan quân đội, cậu ấy bị kẻ thù ám hại thân tàn ma dại đến không dám về quê
vì sợ người yêu trông thấy kinh sợ.
Cụ bà nhìn chàng
thương cảm:
- Ông đây bị mắc
lụt suýt chết đuối mẹ con già phát hiện kịp và đón vào nhà. Vừa rồi già cho ông
ấy uống trà ngọc rắn. Cháu ở đây thiếu vắng con người đã lâu, thường ngày cháu
vẫn năn nỉ già cho cháu gặp ai đó để trò chuyện giải khuây. Già mời ông lại
chơi với cháu chốc lát. Cháu đừng dại mồn nói những điều không nên nói, hoặc
giả tự nhiên nổi sân si làm chuyện tệ hại khiến ông ấy phải sợ nhé. Lần trước
cháu khiến hai người thợ rừng sợ đến chết không kịp trối. Con trai già trách
già thương cháu không đúng phép. Già hứa sẽ không đưa ai đến chơi với cháu nữa,
nhưng rồi nhìn cháu cô độc già không dấu được nỗi đau xót. Hơn nữa, già tin ông
đây bản lĩnh cao cường, chắc sẽ không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra.
Người thanh niên
bảo Hoàng:
- Anh ngồi chơi
với tôi nhé. Tôi thèm khát tiếng nói, hơi thở, cử chỉ, hành động của con người.
Mẹ già đưa được anh vào đây là đã có ý muốn tôi có người bầu bạn, trò chuyện
trong một đêm.
Hoàng nhìn sững chàng
trai:
- Anh tên gì?
- Anh cứ gọi tôi
là Tú.
Hoàng đoán Tú mới
ngòai hai mươi tuổi. Làm sao anh có thể nằm lại trong ngôi nhà này dưỡng thương
mấy chục năm nay. Lẽ nào anh ta vào lính khi mới lọt lòng và bị thương ngay lúc
đó.
Hoàng phì cười. Chắc
là chàng trai nói lộn, đáng lẽ phải nói là “tôi nằm lại đây đã mấy năm,...”.
Chợt Hoàng thấy gai gai vì như thế cũng đâu có ổn: mới mấy năm thì nơi đây làm
gì có xảy ra chiến tranh, khu vực này đâu có lực lượng của quân đội đồn trú.
Hơn nữa, chiến tranh kết thúc đã hơn ba mươi năm, những người lính tham gia
chiến trận đều được giải ngũ về với gia đình, con cái của họ cũng đã bằng tuổi
Hoàng. Ngay các binh sĩ bị thương nặng cũng có trại thương binh do nhà nước xây
dựng để họ ở.
Giọng Tú xa vắng:
- Anh đang
công tác ở Hà Nội à! Anh có bao giờ xuống Thái Bình không? Từ Hà Nội đi Thái
Bình không xa bao lăm? Sao lúc này em bỗng nhớ làng quê Thái Bình ghê gớm.
- Vâng! Tôi ở Hà
Nội và cũng thường rong ruổi khắp các tỉnh phía Bắc. Hoàng đáp – Cậu quê ở Thái
Bình à! Từ cơ quan tôi, đi xe máy về Thái Bình chỉ mất vài tiếng đồng hồ.
- Xe máy là thứ
gì vậy? Ngày xưa hiếm hoi lắm em mới kiếm đủ tiền lên chơi Hà Nội. Thường bọn
em hay đi xe lôi, xe ngựa.
Hoàng không
tin nổi lời lẽ của chàng thanh niên này. Ở Hà Nội hơn mười năm Hoàng chưa một
lần thấy con ngựa chạy trên đường phố. Chẳng lẽ anh ta chỉ biết đi xe lôi, xe
ngựa và thật sự không biết thứ phương tiện giao thông phổ biến nhất như xe máy.
Giọng Tú thủ thỉ:
- Có dịp về Thái Bình
anh chịu khó ghé qua Chợ Gốc, Kiến Xương, vào ủy ban xã hỏi thăm nhà của bố mẹ
anh Trần Bình Tú. Các cụ còn thì nhờ anh liệu giùm lựa lời trò chuyện, kể về
tình cảnh của tôi và nhớ khẳng định là đã gặp tôi. Mẹ tôi dễ xúc động lắm, chỉ
cần nghe nhắc đến tôi là cụ khóc ngất đi. Người yêu tôi ngày trước có viết thư
báo tin nàng đã có thai. Anh biết đấy, tuy chưa cưới nhưng trước ngày lên đường
tôi và nàng đã làm chuyện đó. Nghĩ nàng cũng liều thật. Sống nơi làng quê rồi
lại phải chịu đựng miệng tiếng thị phi. Nhưng lúc yêu và gần gũi nhau thì chẳng
làm sao kiềm chế được mình. Không biết con của chúng tôi ra sao. Từ đó đến nay
đã mấy chục năm ròng tôi chẳng còn nhận được dòng chữ nào của nàng, đồng đội
cũng chẳng ai còn nhớ đến tôi.
Hoàng không biết
nói gì, anh cũng không dám hứa với Tú là mình sẽ tìm đến tận nhà cha mẹ anh ta.
Hoàng có cảm giác mọi thứ cực kỳ hư ảo và kỳ lạ, tuy nhiên con người Tú thật
khó mà biết được thuộc thời nào? Bởi những người lính bao giờ cũng nói năng rặt
một chất giọng kiểu: túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ
nhân hồi. Với họ đã là lính thì muôn đời vẫn thế, chỉ biết trận mạc và
người đi chinh chiến không hẹn ngày về. Trong khi đó anh thường viết báo, cập
nhập thời sự liên tục. Chỉ vì bận viết một cuốn sách theo đặt hàng mà anh gò
mình bên máy vi tính suốt một năm, sau đó mở cửa bước ra đường thì cái làng quê
đã được đô thị hóa. Cũng vì lẽ ấy mà mấy tay nhà báo cứ chê anh lạc hậu.
Tú cứ bộc tuệch
chẳng chú ý mấy đến nét đăm chiêu của anh:
- Hồi nãy mẹ già có
nói với anh là tôi bị kẻ thù ám hại. Nhưng còn một sự thật mà tôi chưa bao giờ
kể cho mẹ nghe đó là tôi là một người lính chiến, kẻ thù của tôi cũng là lính,
thế nhưng hắn không phải là kẻ địch, ở bên kia trận tuyến mà với tôi hắn cùng
một chiến hào. Chuyện của tôi thê thảm lắm, nếu anh không thấy bị làm phiền,
xin anh vui lòng nghe tôi kể ngọn ngành:
“…Đúng vậy, hắn là đồng ngũ của tôi. Vâng! hắn là một kẻ
đồng ngũ nhưng không đồng tâm, lại nữa, chúng tôi cùng sinh trưởng tại một thôn
làng, thuở nhở chưa bao giờ chúng tôi ưa nhau, nhưng cái sự tình tôi yêu một
người con gái và cùng nàng thề non hẹn biển để rồi hắn cậy gia đình giàu có hơn
nài ép bố hắn sang đánh tiếng với bố mẹ nàng xin hỏi cưới nàng làm vợ mới là
điều khiến tôi khinh hắn. Ngay từ hồi ở quê hắn đã ghen ghét với tôi vì lẽ tôi
hay khôi hài, đem chuyện phấn đấu, hăng hái một cách quá lố của hắn ra làm trò
cười. Đúng là tôi rất khinh hắn và tư cách hắn bị tôi cho điểm zêrô. Đấy là
cách tôi trả đũa hắn thích đáng nhất.
Hắn thường khoe với
mọi người rằng gia đình hắn đã dạm hỏi cho hắn một cô nàng xinh đẹp ở quê, đó
chính là người yêu của tôi, và hắn cố tình nhấn mạnh rằng chính tôi cũng muốn
cưới nàng nhưng vì nghèo rớt mồng tơi nên chẳng bậc cha mẹ nào muốn nhận trầu
cau của gia đình tôi. Không bỏ lỡ cơ hội chơi hắn một vố tôi bèn đem bức thư
người yêu báo tin mình đã có thai cho anh em trong khắp đơn vị cùng đọc. Tôi
huỵch tọet rằng đúng là hắn đã dạm hỏi nàng thật, nhưng nàng yêu tôi, cha
mẹ nàng nhận lễ của nhà hắn chứ đâu phải nàng. Trong tim nàng chỉ riêng tôi là
chồng thôi. Trước ngày tôi lên đường, nàng đã tặng tôi kho báu của nàng, và
chúng tôi đã có con với nhau. Vậy thì kẻ mà nàng chờ trở về là tôi chứ không
phải hắn,...
Trời ơi! Anh biết
không? Tôi đã sai lầm đánh thức con ác quỷ trong lòng hắn, rồi anh em trong đơn
vị đem hắn làm trò cười càng khơi dậy nơi hắn mối hận thù độc địa nhất. Để rồi,
trong một chiến dịch, tôi bị bỏng bởi lửa bom napan, hắn đã không cứu thì thôi,
còn hất tôi vào một đám cháy lớn hơn để rồi tòan thân tôi biến thành ngọn đuốc.
Bây giờ thân thể tôi như anh thấy đấy, bao nhiêu năm qua thương tích nơi thể
xác và tinh thần mãi không chịu lành. Tôi chẳng dám đi đâu khi tòan thân bỏng
lở, tanh tưởi, hôi hám phải quấn băng như thế này,... Tôi phải nhốt mình trong
nhà và đời đời kiếp kiếp tôi còn phải mang hình hài này.
Khi Hoàng hỏi về kẻ
thù của Tú thì anh ta chua chát rằng kẻ ấy chắc cũng sẽ chịu một số phần không
ra gì. Có thể hắn đang quằn quại đâu đấy trong một địa ngục do hắn tạo ra.
Nghe chuyện Tú xong
Hoàng thấy trí năng rã rời, anh muốn dứt khỏi anh ta để ngả lưng vì anh kiệt
sức lắm rồi. Thâm tâm, anh dự định sáng mai về và có dịp anh sẽ quay lại đây,
thăm thú, hỏi han Tú cặn kẽ hơn bởi hôm nay, sau ngần ấy trận xô lắc, anh quá
mệt.
Khi Hoàng giã từ Tú
ra phòng ngoài thì cũng là lúc anh trông thấy hai gã trung niên ngồi bên bàn
ăn, mỗi người chén một con chồn sống. Phần thân dưới của họ đích thị là cơ thể
của hai lão rắn dài, rắn cụt. Anh kêu lên đầy kinh ngạc. Hình như họ cũng vừa
nghe thấy tiếng Hoàng, rắn Dài quay lại:
- Anh không để chúng
tôi kịp thay hình đổi dạng. Nhìn trộm chúng tôi như thế mà không sợ nhà anh
thuộc lọai to gan đấy. Chẳng biết thân thể chúng tôi thế này có điều gì bất
tiện không.
Đã quen với những
điều kỳ dị từ tối đến giờ nên lúc này Hoàng nhìn hai ông rắn như nhìn những con
người bình thường.
- Các ông không
làm gì xâm hại đến tính mệnh tôi đấy chứ? Tôi vẫn nghe dân gian truyền đồn là
các ông chỉ hành thiện không thôi. Như vậy gặp các ông đúng là phúc lành.
Rắn Cụt cười:
- Cái đó cũng tùy.
Anh em chúng tôi còn thừa hành công việc của các Thiện thần và Ác thần, mỗi
người một việc. Cũng có kẻ gặp chúng tôi là gặp điềm xấu.
Ác
thần mãi là nỗi kinh sợ của con người. Hoàng có vẻ tư lự bởi anh không chút
nghi ngờ vị ác thần ở đây có thể hại mình.
- Nếu ông không
làm gì ác hại, xấu xa, tội lỗi thì ác thần chẳng bao giờ động chạm vào ông. Tuy
làm việc ác nhưng Ác thần chỉ thi hành công lý. Hiếm khi người vô tội bị các
chư thần gia hại. Thần linh có thể thiếu sót nhưng không nhầm lẫn hoặc giết oan
các sinh linh.
Một ý nghĩ bỗng
chạy vụt qua óc Hoàng:
- Tôi đang rất
muốn được xem các thần linh thi hành công lý nhưng chưa có dịp.
Ông Dài xoa tay:
- Những dịp mưa
to gió lớn thế này chúng tôi không phải làm việc nhiều.
Thấy Hoàng có
vẻ sẵn sàng hai ông rắn đứng dậy rùng mình một cái. Lúc này trên mình mỗi ông
có thêm một đôi cánh.
Hoàng nhìn họ và
nghĩ thầm: “ta chỉ nghe nói loài mãng xà biết bay, nhưng chưa bao giờ ta tưởng
tượng được là chúng có cánh!”.
Ngồi trên đôi cánh
của ông Dài, Hoàng cùng cặp rắn bay về phía cánh rừng già. Nơi đó cách đây chưa
lâu xảy ra nạn cháy rừng. Nhìn những cụm rừng cháy nham nhở Hoàng không khỏi
xót xa. Cũng may là giữa lúc bà hỏa đang hứng chí bốc cao ngùn ngụt trời bỗng
đổ mưa, không thì cả một dãy núi rừng, làng bản chìm trong biển lửa.
Đôi rắn lựơn vài
vòng rồi hạ xuống giữa một ngọn núi trọc vách đá trơ trọi, đen cháy không một
thân cây sống sót. Một nửa ngọn núi sụt lở, con suối ngầu lên sôi réo sùng sục
dưới chân, sườn núi vỡ ra, toang hóac.
Rất nhiều tội phạm
bị bắt trói giải đến đây: kẻ thì bị trói gô, kẻ bị đánh què chân, kẻ bị chặt
tay. Một số khác đã chết, số còn lại bị cột thành chùm, gông vào thân cổ thụ bị
đã bị lửa đốt cháy thành than.
Thì ra chốn này là một trong những pháp đình
của người chết. Ông Dài quay sang phía Hoàng giải thích:
- Bọn này đều là
ma rừng quỷ núi cả đấy. Anh đừng thương xót chúng làm gì. Chúng chẳng đời nào
biết ăn năn hối hận đâu. Tội của bọn chúng chất cao như núi.
Có mấy đội quân
giống như lính tráng cứ nhằm từng tên tội phạm mà lôi ra, đợi lúc sườn núi rung
động, vách đất nứt ra, một khối đá đổ ầm xuống lòng suối và nước réo sùng sục
là họ vứt từng tên xuống. Ông Cụt rít lên bên tai Hoàng:
- Bọn ma rừng,
quỷ núi này được các ông gọi là lâm tặc đấy. Chúng phá rừng không thèm biết đến
hậu quả. Anh cứ nhìn cái hội phía kia kìa. Lúc còn sống chúng không chỉ tinh
ranh mà còn biết mua chuộc dụ dỗ cả thánh thần. Nhưng như các ông thường
nói: gieo nhân nào gặt quả nấy. Chúng đốt cháy phá trụi hơn nửa khu rừng này.
Thậm chí chúng còn mang cả mìn vào phá núi, mở đường tắt cho xe chạy. Lợi dụng
mùa mưa thiếu sự kiểm sóat chúng còn kéo cả xe cẩu, máy cưa vào tận nơi cưa xẻ
khai thác tùy thích. Và rồi không còn rừng cây ngăn chặn dòng nước lũ, cho nên
lũ cứ tha hồ càn quét. Chúng ỷ núi lớn vững vàng, đóng trại trên ấy thì
an tòan. Nào ngờ rừng trọc, núi lở hết nên mới xảy ra nạn lũ núi. Anh
nhìn kia! Cả một nữa ngọn núi khổng lồ bị mìn giật đổ và rồi thác lũ phá sập.
Chúng nó đóng trại trên sườn núi cũng không thóat được. Tất cả đều bị hất nhào
và lũ rừng chôn vùi chúng dưới vực sâu. Thần núi truy bắt chúng về trị tội.
Cung điện, lăng miếu của các thần linh cũng bị rúng động vì bom mìn. Những cây
cổ thụ là nơi ẩn trú của các tiểu thần cũng bị phá hết. Nhiều chư thần không
còn cả chốn nương thân,...
Đang lúc nghe
đôi rắn thuật chuyện thì bỗng đâu mây đen kéo về cuồn cuộn, ánh chớp nhoáng nhoàng.
Mặt đất như lắc lư, chao đảo, thân cây, vách đá sườn núi dường như rên lên, uốn
mình răng rắc.
- Chúng ta về
nhanh thôi. Lại một đòn sấm sét nữa rồi.
Đôi rắn thần vội vã
đưa Hoàng ra khỏi khu vực pháp trường và anh cũng không còn muốn nhìn cảnh
tượng khủng khiếp đó nữa.
Trên đường về, ông
Dài bay trước một đọan khá xa. Ông Cụt vừa đỡ Hoàng lên lưng vỗ cánh chập
chọang thì một tiếng nổ long trời lở đất, rồi một chuỗi dài những tiếng động ầm
ầm mỗi lúc một vang xa chấn động cả trời đất. Ông Cụt bay trong bao lâu Hoàng
không biết. Anh thấy mình được ông Cụt thả xuống hay là anh té xuống hay bị hất
nhào và trời đất tối sầm.
Khi tỉnh dậy Hoàng
thấy mình đang nằm trên một bệ đá giữa thềm tòa thành cổ đổ nát. Phóng tầm mắt
chung quanh, anh chỉ thâý bốn bề đồi trọc, gò đống, núi đá trơ trọi. Cây cối
xác xơ sau bão, phong cảnh tiêu điều. Mặt trời lúc này đã lên cao, Hoàng nhìn
đồng hồ thấy kim giờ chỉ đúng số mười. Vậy là anh đã ngủ mê man thêm cả một
buổi sáng.
Đêm qua khi trời
tạnh mưa, gió ngưng nước thoát đi rất nhanh, mọi con đường, bờ đất bây giờ đều
hiện ra dưới ánh mặt trời. Có tiếng còi tàu vọng đâu đó phía sân ga.
LTT
TRANG
TRẠI ĐỒI TRANH
Từ ngày Tư
Thắng việt kiều Úc về mua cả vùng đồi Tranh để mở trang trại và giao cho cô em gái trông coi khiến người dân
quanh vùng ai cũng bàn tán. Đã có xỏ xiên rằng Tư Thắng phất lên muốn làm
chủ cả lãnh địa của người chết. Ngày xưa Tư Thắng nghèo rớt mồng tơi như mọi
thằng dân quê, sau xuất ngọai trở nên giàu sang tột đỉnh thì từ lâu người ta đã
nói chán. Riêng việc ông dám liều lĩnh dốc túi mở Khu du lịch trang trại đồi
Tranh thì không ít người nhìn cung cách làm việc của ông phải lè lưỡi, bảo ông
ngông cuồng. Ngọn đồi Tranh xưa nay khét tiếng là nơi lắm ma, nhiều quỷ. Những
chuyện kinh dị xảy ra nơi mỗi góc đồi, mỗi hẻm đá luôn khiến người đời có lắm
chuyện ma để kể cho nhau nghe. Vùng này chuyện về các ma H’roi(*)
cụt đầu thường sờ sọang dắt díu nhau than khóc làm người nghe phải đứng tim, vỡ
mật.
Có một ước lệ
ngầm mà mọi cư dân quanh đồi Tranh tuân thủ là dù có đói nghèo phải phải bỏ xứ
mưu sinh nhưng tuyệt nhiên không ai được phép xâm nhập vùng đồi Tranh. Nơi ấy
là nghĩa địa muôn thuở của người H’roi. Tập quán của họ lại khác với người
Kinh, khi chết đi họ được coi như đã sang thế giới khác sống. Của cải chia phần
cho người chết thường đem ra đặt ngoài mồ. Người ta bảo ma H’roi dù chết rồi
vẫn sinh họat, làm lụng, múa hát. Đồi Tranh là thế giới huyền bí của họ, dân
quanh vùng bất khả xâm phạm.
Hồi mới đầu nghe Tư Thắng trình bày ý tưởng mở Khu du
lịch tại vùng đồi Tranh Út Kiều
vội bàn ra:
- Anh điên!
Giàu như anh mua một biệt thự giữa Sài Gòn không tốt hơn sao!
Tư Thắng
cau mày:
- Đến em còn
nói với anh cái giọng đó! Đừng tưởng ở Úc về là lắm tiền nhiều của. Ở đâu cũng
phải có làm mới có ăn. Ra nước ngòai anh cũng phải đi làm thuê ăn lương cho
người ta, dành dụm mãi mới còn được đồng tiền. Về đây thấy bà con mình nghèo
quá anh động lòng thương nhưng giúp người này mà không giúp người kia thì là
thiên vị. Gặp lúc nhà nước mở con đường liên tỉnh chạy qua vùng này. Lại nữa,
ngành du lịch đang trên đà phát triển mà vị trí này thì thật lý tưởng để xây
dựng một trang trại anh mới chọn. Cũng là dịp tuyển dụng người lao động trong
vùng về làm việc với mình.
Út Kiều cười nhạo:
- Anh tưởng
bà con cần tiền của anh đến mức dám liều lĩnh dấn thân lên khai phá đồi Tranh
à! Mồ mả của người H’roi đều được yểm bùa, trấn ngải, động đến là điên hoặc
chết như chơi. Thuở trước có một thanh niên trong làng tự dưng mất tích, cả
vùng náo lọan, sau nhờ cảnh sát tìm. Họ sục lên đồi Tranh chỉ bắt gặp bộ xương
anh ta đã bị róc hết thịt. Chỉ có yêu tinh, ma cà rồng mới ăn thịt người kiểu
đó.
- Anh không
biết! Tư Thắng thấy khó mà thuyết phục được cô em gái. Anh cho rằng thú dữ đói
quá ăn thịt người chết thôi!
Út Kiều tỏ
vẻ không hài lòng:
- Đã bao giờ
anh nghe bà con kháo chuyện về anh chưa?
- Chuyện thị
phi đừng bận tâm em à! Mình chân thành người ta sẽ hiểu và quý trọng. Ma quỷ có
thật thì cũng nhân nhượng mình.
- Em thấy rõ
là đi Úc về anh thay đổi quá. Những điều mọi người tin sợ thì anh lại chẳng sợ.
Đã thế anh cứ đi mà xây dựng đồi Tranh
- Không nơi
nào hợp ý anh hơn vùng đất này: Phía sau đồi Tranh là hồ Mai thơ mộng, những
con suối dẫn nước về hồ Mai còn nguyên vẻ đẹp hoang sơ. Thung lũng Mơ thì hết
chỗ chê. Nơi đó anh có thể mở hẳn một trại hoa và xây khu chuồng thú.
- Anh không
biết lũng Mơ cũng là thung lũng chết chóc à! Như người ta kể lại thì thời chiến
tranh rất nhiều người bị thủ tiêu ở đó, mà hồ Mai là nơi bọn giết người đem ném
xác phi tang. Hồn ma chết oan đêm đêm hiện về than khóc rền đất,...
Tư Thắng sừng sộ với cô em:
- Ở đâu mà
không có ma. Anh biết ở Úc có người thường gặp một ông bạn hàng xóm chết từ
ngày người đó còn ở Việt Nam. Tại sao hồn ma của ông hàng xóm cứ đi theo người
đó thì anh không biết, nhưng anh biết là có nợ nần nhân quả với nhau thì người
chết mới theo đòi.
Út Kiều không đồng ý với anh nhưng vì đuối lý cô đành
chấp nhận giúp đỡ anh trai trong hầu hết các công việc. Trang trại đồi Tranh
dần được hoàn tất và từng hạng mục công trình nhanh chóng đi vào họat động phục
vụ du khách.
Vạn sự khởi
đầu nan!
Sau mấy năm khởi nghiệp đầy gian nan thử thách Khu du
lịch trang trại đồi Tranh giờ đây đang trở thành điểm đến của du khách toàn
quốc. Ông chủ Tư Thắng đã tạo được ấn tượng đẹp trong lòng người. Tuy nhiên một
sự cố đáng tiếc xảy ra vào một buổi chiều khiến Tư Thắng nhức đầu.
Lúc ấy vừa sẩm tối, Tư Thắng đang ăn với bà chủ một
trung tâm vui chơi giải trí trẻ đẹp mà anh mới quen thì Út Kiều gọi vào di động
của anh giọng gắt gỏng:
- Về gấp!
Một Việt Kiều khù khờ như anh đứng ra xin lỗi thì may ra mới khiến người ta
thông cảm chứ cả công ty không ai có thể xoa dịu đám người này được.
- Có chuyện
gì mà náo lọan trong máy mà anh không hiểu gì hết!
- Chuyện to
lắm. Anh về nhanh đền bù thiệt hại cho họ đi, không là họ yểm bùa làm công ty
mình phá sản bây giờ.
Tư Thắng
nhìn cô bạn gái. Đóan biết có chuyện căng thẳng ở Khu du lịch đồi Tranh, cô
đứng dậy, chia tay.
Tư Thắng
lái xe về công ty mà cứ thấy lóang thóang một phụ nữ xinh đẹp đưa tay vẫy xe
xin quá giang. Anh không thể dừng lại cho cô đi nhờ vì sợ Út Kiều sốt ruột. Cô
gái vẫn không rời khỏi anh. Bằng chứng là có đến ba lần cũng cô gái ấy hiện ra
bên đường vẫy xe anh.
Tư Thắng
lắc đầu. Có cái gì là lạ mà anh không nhận ra sớm. Cô gái này làm sao có thể
đón đường vẫy xe anh đến ba lần. Con đường quốc lộ chỉ hai dòng xe thuận và
ngược chiều. Tư Thắng đang lái xe với tốc độ tối đa. Anh đã bỏ hết những chiếc
xe chạy cùng chiều. Vậy mà cô ta vẫn cứ luôn đón đầu anh.
- Chắc là
mình hoa mắt thôi. Họa chăng là ma hiện hình đùa giỡn.
Xe vào
cổng công ty. Không cần hỏi ai Tư Thắng cũng kịp trông thấy có chuyện trầm
trọng đang xảy ra. Anh chàng quản lý tên Hoành và Út Kiều đang xuống nước năn
nỉ mấy gã thanh niên người H’roi gương mặt đằng đằng sát khí. Cùng nhóm với họ
có một ông già xem chừng là người có vai vế, nhưng Tư Thắng thực sự không biết
chức danh, tên gọi của ông ta. Có thể đó là một thầy Chang.
Thấy Tư
Thắng bước vào, mọi người đổ xô lại vây lấy anh.
Út Kiều
trút được gánh nặng lên vai ông anh nên đổi giọng liếng thóắng với nhóm người H’roi:
- Ông chủ về
rồi đó. Có chuyện gì cứ đòi ông ấy bồi thường thiệt hại. Chúng tôi chỉ là cấp
dưới làm theo lệnh ông ấy thôi.
Ông già có
vẻ được kính trọng nhất trong số người H’roi nói chuyện với Tư Thắng bằng giọng
gay gắt:
- Thưa ông!
Bây giờ thì tôi biết ông là chủ ở đây. Vì ông là chủ nên ông phải chịu trách
nhiệm vụ này: có một cô gái trong cộng đồng chúng tôi vì lụy tình mà chết.
Chúng tôi đã mai táng cô ấy trên sườn núi. Những người của công ty ông đã lên
tận nơi quật mồ cô ấy. Đêm qua hồn ma cô ấy về gào khóc rầm trời, phá vỡ sự
bình yên của thôn xóm, cô ấy yêu cầu chúng tôi trừng phạt các ông. Bây giờ ông
liệu tính sao đó tính!
- Xin lỗi
các vị! Đúng là tôi có kế họach dựng một lầu vọng nguyệt trên sườn núi ấy vì
cảnh quan chỗ đó tuyệt đẹp và vắng vẻ, hoang sơ. Nhưng mà tôi chưa hề đến tận
nơi khảo sát, chỉ có anh tổng công trình sư nhận thiết kế và thi công. Tôi đã
bàn giao cho anh ta. Tôi không hề biết có ngôi mộ nằm khu vực đó. Cũng không
hiểu những vấn đề của người H’roi sau khi chết.
- Xạo hòai!
Mấy người ở đây, kể cả bà giám đốc và ông quản lý đều biết rõ tập quán của
chúng tôi. Khi nãy tôi đòi trấn bùa mặt mày bà ấy tái mét chứng tỏ bà ấy hiểu
và sợ. Vậy mà ông không sợ. Ông đã xúc phạm đến nhà cửa người quá cố.
- Tôi xin
lỗi lần nữa. Không phải tôi không sợ mà tôi không biết những vấn đề dị thường
này. Tôi sống ở nước ngòai lâu nên không
biết người H’roi chết rồi hóa linh thiêng. Các ông vui lòng nhận giúp tôi món
tiền nhỏ này, và nhờ người có quyền năng trong cộng đồng đứng ra sửa sang, cúng
kiến, tạ lỗi người quá cố. May chăng người đã khuất đẹp lòng mà không làm điều
gì xáo trộn sự yên ổn của chúng ta.
Lão già
nhìn Tư Thắng thân thiện hơn:
- Chúng tôi
không cần tiền của ông. Chúng tôi thông cảm với một người ở nước ngoài về. Mong
ông từ nay trở đi có làm gì cũng cẩn trọng, cung kính dùm. Chúng tôi không có
tiền để mua lại khu nghĩa địa của tổ tiên. Nhưng chúng tôi biết cách phải làm
gì nếu tộc người khác coi thường chúng tôi mà xúc phạm đến vong linh đã khuất.
Tư Thắng
năn nỉ ông già mãi ông mới chịu cầm tiền để sửa chữa mồ ma những người H’roi.
Khi những
vị khách bất đắc dĩ ra về hết Tư Thắng bèn triệu tập cả công ty lại họp. Mọi
người nghe Tư Thắng nhắc nhở cần tôn trọng và bảo tồn những mộ địa của người H’roi.
Anh cũng tuyên bố thôi, không dựng lầu vọng nguyệt trên sườn đồi.
Đó là một
ngày rất đáng nhớ đối với Tư Thắng. Đến quá mười hai giờ đêm anh vẫn không sao
chợt mắt được. Anh vớ chai rượu uống cạn. Ngấm ma men, anh thầm mơ ước có một
phụ nữ bên mình lúc này để giải khuây. Dường như cầu được ước thấy, một giọng
du dương rót vào tim Tư Thắng:
- Anh ơi!
bây giờ đã một giờ sáng rồi mà sao anh chưa ngủ! làm việc nhiều như thế anh có
mệt mỏi lắm không?
Tư Thắng ngước lên. Một cô gái chừng hai mươi đẹp một
cách ma quái đang ngồi đối diện với anh. Ánh mắt cô gái có một ma lực đầy huyền
bí mà nhìn vào Tư Thắng không rời khỏi được. Cô ta vào phòng bằng cách nào
chính anh cũng không biết. Anh chỉ đoán cô là một trong những nhân viên phục vụ
quầy bar.
- Em vào đây
bằng cách nào?
Giọng cô
gái sao mà êm dịu:
- Bằng cách
của riêng em. Anh không muốn em ở lại đây với anh đêm nay sao?
Tư Thắng
nhìn mãi vào mắt cô gái và nghe lòng trào dâng một niềm yêu mến khó hiểu. Anh
đã quá hư đốn trong chuyện phòng the. Như ông vua trong truyền thuyết nghìn lẻ một đêm, mỗi buổi tối một cô
nhân viên quầy bar sau 10 giờ khuya phải lên phòng anh phục vụ. Cậu quản lý đã
thu xếp vụ này êm thấm. Các cô gái đều tự nguyện trong chuyện này. Biết sao
được khi mà Tư Thắng có một sức hấp dẫn đối với đàn bà nhường ấy, mà vợ anh lại
đang ở tận bên Úc.
Trang trại đồi Tranh ban đầu không tuyển dụng được
người lao động ở quê nên về sau tuyển đại trà nhân viên nhiều nơi khác trên
khắp mọi miền đất nước. Mở cửa chưa bao lâu công ty phải cạnh tranh với một số
đối thủ từ thành phố cũng về đây làm ăn và Tư Thắng buộc phải tuyển chọn những
thiếu nữ xinh đẹp vào làm ở nhiều vị trí khác nhau để thu hút du khách. Cũng từ
đó anh nẩy sinh nhu cầu ân ái với các mỹ nhân dưới quyền. Những cô gái này quen
chiều chuộng khách nên đối với ông chủ họ biết phải làm sao để ông hài lòng.
Như thỏa thuận, tay quản lý phải sắp xếp sao cho khéo
léo, kể cả tiền thù lao phục vụ sếp cũng sao cho công bằng để các nàng không có
sự ganh tị, ghen ăn tức ở với nhau. Mỗi đêm một cô được chọn đến phòng Tư Thắng
và cứ tuần tự hai tuần một lần như vậy. Ngày chủ nhật Tư Thắng thóat ra khỏi
công việc để tham gia các họat động thể thao, giải trí nên buổi tối anh ta lên
giường một mình.
Tư Thắng nhìn người phụ nữ xinh đẹp nhưng làn da không
hiểu sao lại tái xanh và hỏi bằng một giọng âu yếm:
- Ai bảo em
đến với anh vậy! Anh đã có thông lệ không tiếp bạn gái vào những tối chủ nhật
mà. Chẳng lẽ cậu quản lý cố ý.
Cô gái
xoay người cố tình để chiếc áo hai dây trễ xuống sâu hơn và Tư Thắng mất tự
chủ:
- Tự em tìm
vào. Anh không muốn em ở lại với anh đêm nay sao?
Tư Thắng cười giả lả:
- Ôi! Người
đâu mà đẹp đến vậy. Tôi chết mất.
Tư Thắng nói thế nhưng cũng hơi ngường ngượng vì cô
gái còn quá nhỏ. Nhưng rõ ràng là cô gái sẵn sàng với anh ta vì cái kiểu cô uốn
mình đưa đẩy làm Tư Thắng mê mẩn:
- Em yêu anh
mà!
Cô ta sà vào lòng Tư Thắng, tấm thân lạnh giá của nàng
như được ngọn lửa dục của Tư Thắng đốt cháy và anh ta chẳng biết trời trăng mây
gió gì nữa sau khi đã ôm cô gái vào giường để rồi đến lúc kiệt sức Tư Thắng ngủ
như chết. Hôm sau, hơn tám giờ sáng, cậu bảo vệ lên gọi Tư Thắng xuống chuẩn bị
cuộc họp giữa ban lãnh đạo công ty thì anh ta mới nặng nề bò ra khỏi giường,
không khỏi tiếc rẻ khi nhớ lại những gì đã xảy ra với người con trẻ, đẹp đến
mức anh ta chưa từng một lần trông thấy trong đời.
Suốt buổi sáng
Tư Thắng chẳng nhớ nỗi mình đã làm những gì? Nói gì? Tư Thắng cứ thấy người
mình bềnh bồng như con tàu trên biển. Ai đó đã báo cáo với anh ta rằng doanh
thu của Trại hoa gia tăng đáng kể và tại khu vực chuồng thú có người bị tai nạn
rồi cần phải đầu tư thêm cho quầy bar. Anh máy móc giải quyết công việc nhưng
lúc nào cũng như thấy nụ hôn ướt lạnh của thiếu nữ đêm qua chạm khắp cơ thể. Cứ
thế Tư Thắng lơ lửng để rồi cô em gái phải dội cho anh ta một ca nước lạnh:
- Cứ mua vui
với các bà cho lắm vào có ngày chết thúi! Em mà khuyên răn anh không được thì
bất chấp tình ruột rà máu mủ em tuyên bố giải thể khu du lịch này.
Tư Thắng
xấu hổ:
- Chuyện gì
anh cũng điều độ thôi mà! Đàn ông xa vợ hư chút xíu cũng om sòm.
Út Kiều
bỗng thấy trào dâng một niềm xót thương đối với người anh trai: Tư Thắng có ưu
thế về mọi phương diện nhưng hình như chẳng bao giờ kiếm được một người yêu lý
tưởng để rồi mọi người đàn bà đi qua đời anh ta như khách qua đường kể cả chị
vợ chính thức hiện nay. Lại nữa, ngày nào anh cô cũng căng người với công việc
từ mười hai đến mười lăm tiếng đồng hồ. Từ một nghĩa địa vùng sơn cước biến
thành Khu du lịch đồi Tranh anh cô đã hoàn tất một quá trình phù phép để Lọ Lem
hóa Tiên nữ.
Công việc cứ rút hết thời gian trong ngày của Tư Thắng
để rồi mãi đến nửa đêm anh ta mới kịp tắm gội ăn uống qua loa và lên giường gác
tay lên trán nghĩ ngợi mông lung. Hôm nay là tối thứ hai, theo lịch sinh họat
phòng the thì là đầu tuần, như mọi đêm Anh Nga sẽ là người đến với Tư Thắng.
Rất nhiều đàn ông theo đuổi Anh Nga. Cô chấp nhận cuộc chơi với Tư Thắng vì
không cưỡng nỗi sức cám dỗ ở người đàn ông lớn gần gấp đôi tuổi mình.
Vậy mà tối nay khi Anh Nga duyên dáng trong chiếc đầm
trắng vừa lên phòng Tư Thắng súyt đuổi cô nhân viên 28 tuổi ra chỉ vì mọi cử
chỉ của cô Tư Thắng đều thấy sao mà vụng về thụ động và phần khác anh cứ nhớ
phát điên người con gái đêm qua.
Anh Nga nói với Tư Thắng qua làn nước mắt:
- Ông chủ
không thương em cũng xin đừng chê kẻo em bị anh Hoành sa thải.
Tư Thắng
gượng cười:
- Trước giờ
em đã đến với anh mấy lần rồi nhỉ?
- Cứ hai
tuần em đến 1 lần. Em vào làm đây được gần nửa năm.
Tư Thắng
nhìn gương mặt yêu kiều của Anh Nga chợt thấy bứt rứt. Anh ta biết cái sự phiền
muộn của mình là vô lý.
Tư Thắng an ủi cô nhân viên vài câu rồi than mệt và
quay mặt vào tường ra bộ như chỉ muốn ngủ nhưng không làm sao ngủ được. Hình
ảnh cô gái trẻ đẹp cứ hiện ra chập chờn. Tấm thân lành lạnh của cô cứ như thu
hết sức nóng từ người Tư Thắng và lúc này đây nó trở thành nỗi mê hoặc khiến
anh thấy mình cứ nhớ nhung và chìm dần vào một cõi mộng mị, xa xăm khác biệt
với chiếc giường trần trụi.
Cơn mơ dần trùm lên giấc ngủ của Tư Thắng. Trong mơ
anh ta thấy mình bay theo một thiếu nữ. Nàng lượn lờ khắp đồi Tranh lộng gió và
chỉ khi Tư Thắng tóm được nàng thì cả hai mới rơi nhào xuống lũng Mơ.
- Mới một
đêm mà anh đã yêu em thật rồi sao?
Tư Thắng cười:
- Em vẫn
chưa cho anh biết em tên gì?
- Gọi em là
Mỵ Hoa. Tên đẹp đấy chứ phải không anh?
Tư Thắng buồn buồn:
- Ừ! tên đẹp
lắm nhưng sao tên em lại trùng tên một sơn nữ người H’roi chết vì tình mà
chuyện của nàng thuở mới về đây anh được nghe kể. Thiên hạ than phiền cô nàng
này gieo rắc tình ma khắp nơi.
- Em đúng là
người H’roi nhưng nhà em ở trên vùng sơn cước chốn xa xa kia. Anh muốn đến đó
với em không?
Tư Thắng chẳng thèm quan tâm đến cái xóm nhỏ nơi cuối
thôn sâu chiều chiều khói bếp vẫn tỏa lên lơ lửng cùng một nhóm người H’roi mặt
lúc nào cũng buồn buồn và tập quán thì khác xa với những thói quen của một kẻ
tây hóa như anh:
- Kể ra em
còn nhỏ như thế này mà lao vào anh thì cũng liều thật đấy. Em tự đến với anh mà
không sợ cha mẹ à!
Mỵ Hoa phụng phịu:
- Khách đa
tình muôn thuở ướp hồn trên gối mộng của giai nhân. Phụ nữ H’roi chúng em đến
tuổi trưởng thành là được quyền tự chọn bạn tình cho mình rồi cưới. Em thích
anh nhưng em không biết có giữ được anh cho riêng em không? Trong số những
người đàn bà của anh chắc có người lọai trừ em thôi.
Tư Thắng vờ làm bộ:
- Người nào
có quyền lọai em nếu anh vẫn còn yêu em tha thiết.
- Không
phải. Em chỉ được đến với anh vào mỗi tối thứ hai. Còn những tối khác thì anh
Hoành phân công những cô gái khác đến.
Tư Thắng giả lả:
- Ừ hén! Vậy
mà tối nay em đến với anh. Có sao đâu.
Mỵ Hoa quay mặt sang hướng khác dấu nụ cười:
- Tối nay là
anh theo em chứ đâu phải em đến chỗ anh. Trên giường anh đang có một người đàn
bà nằm cô đơn. quay về anh sẽ thấy cô nàng đang thút thít khóc.
Hì!hì! Tư Thắng ghìm chặt Mỵ Hoa xuống vạt cỏ. Lúc này
thì Mỵ Hoa có đòi cả Trang trại đồi Tranh chắc anh ta cũng sẵn lòng biếu không
cho cô.
Tư Thắng uể ỏai mở mắt nhìn Anh Nga đang ngồi bên cạnh
đôi mắt thâm quầng. Cô mừng như thể Tư Thắng chết đi sống lại không bằng.
- Ông chủ
khiến em lo quá. Ông ngủ mê mệt đến nỗi em có vác ông đi khỏi phòng ông cũng
không hề hay biết. Chưa bao giờ em thấy ông lạ lùng đến thế.
Tư Thắng lúc này mới hiểu đêm qua anh đã đi chơi với
Mỵ Hoa trong mơ. “Trời ơi! sao giấc mơ tuyệt diệu đến vậy!” anh nhớ Mỵ Hoa bảo
Anh Nga đang nằm ở nhà khóc thút thít và chợt cười.
Tưởng Tư Thắng cười chê mình, Anh Nga tủi thân khóc
nấc lên.
Vốn là một gã đàn ông nổi tiếng đào hoa, lại giỏi cưng
chiều phụ nữ, Tư Thắng nhanh chóng trấn an Anh Nga bằng cách vuốt ve nhẹ đôi bờ
vai thon thả của cô ta:
- Anh cũng
mệt quá nên mới để em buồn như vậy. Thôi, đừng trách anh nữa, và nhớ là đừng
nói lại mọi chuyện với ai.
Lúc này Anh
Nga có phần tươi tỉnh hơn, ả nũng nịu đặt lên má Tư Thắng một cái hôn và vội vã
đứng dậy đi nhanh ra khỏi phòng.
Còn lại một mình Tư Thắng chỉ muốn nằm ườn ra giường
mường tượng lại cảnh liêu trai đêm
trước: hóa ra những gì đã có giữa Mỵ Hoa và mình chỉ là mơ thôi! Mà sao giấc mơ
đẹp vậy nhỉ? Lẽ nào đêm trước mình cũng nằm mơ? Có một giai nhân cứ chui vào
giấc mơ của mình và cùng mình vui hưởng lạc thú ái ân là sao nhỉ? Rõ ràng mọi
thứ cứ hư hư thực thực. Mà sao mà toàn thân hâm hấp nóng thế này?
Tư Thắng nhớ rõ ràng đêm đầu tiên, lúc ấy gần một giờ
sáng, cô gái xuất hiện trong phòng anh ta thật đột ngột. Tư Thắng hơi lạ lùng
về cung cách của cô nhưng rồi vẻ đẹp huyền hoặc đã hút hồn anh ta mất. Mới hai
đêm dan díu với người phụ nữ không rõ hình tích mà sao Tư Thắng tưởng như mình
đã thuộc về nàng từ muôn kiếp. Anh ta chỉ mong đêm nhanh đến để có thể cùng
người đẹp tình tự.
Khi Tư Thắng bước vào phòng giám đốc thì cô em gái
đang chễm chệ trên chiếc ghế bành. Tư Thắng cau mày: hai chữ Giám Đốc đã khiến
Kiều hài lòng quá đỗi. Xem ra cô ả chẳng thèm làm gì, trăm công ngàn việc cứ bỏ
mặc cho ông anh năng động xoay sở.
- Bây giờ
thì em nghĩ mình đem cái sự tích đồi Tranh lắm ma nhiều quỷ ra khai thác du
lịch được rồi anh ạ! Trước kia em sợ thật sự nhưng đã một năm nay chả ai trông
thấy một mụn ma nào xuất hiện. Ước gì chỗ này có ma thật. Anh xem đây – Kiều
đẩy tờ báo lại phía anh: Lượng khách du
lịch đến ĐỒI SƠN THỦY tăng gấp chục lần trong tháng gần đây nhân vụ một nhóm du
khách nước ngòai công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng là họ đã
trông thấy ma ở đó,...
Tư Thắng lắc đầu với cô em:
- Họ gặp may
vì mấy ông Tây chụp được bức ảnh một quái vật thình lình nổi lên giữa hồ bơi
rồi mất hút. Chẳng ai biết quái vật ấy từ đâu ra. Có khi chủ nhân của nó cố
tình tạo ra một hiện tượng quái dị để câu khách.
Kiều sôi
nổi:
- Họ tạo
được ma thì mình cũng tạo được chứ anh!
Tư Thắng lắc
đầu:
- Anh còn
quá nhiều việc nên lo vụ này không xuể. Em có vẻ là người rảnh nhất ở đây đấy.
Nếu em không nghỉ ra được chuyện gì để làm thì nên dựng chuyện ma ra hù dọa mọi
người cũng được.
Tư Thắng nói vậy vì anh khó chịu về cô em hám danh lắm
rồi. Cô ta cũng thừa biết cái chức giám đốc của mình là thứ danh hão. Cô ta
mang quốc tịch Việt Nam nên dễ dàng đứng tên làm thủ tục mua đất giá rẻ, thành
lập công ty, thuê tuyển nhân sự, bố trí từng người vào từng vị trí.... nhưng Tư
Thắng mới thật sự là chủ đầu tư và kiến thiết công trình này. Anh phải huy động
mọi nguồn vốn của vợ và thậm chí còn vay thêm của bạn bè. Vậy mà gần đây cô em
cậy quyền ra mặt, lúc nào cũng hống hách, còn đòi sa thải chàng quản lý và muốn
đưa người yêu của mình vào vị trí đó nhưng Tư Thắng không chịu.
Kiều chống nạnh vênh váo:
- Anh tưởng
là em không làm được một vụ kinh thiên động địa tại đây à! Anh nghe đây: em mà làm
cho thiên hạ đổ xô đến mua vé vào trang trại này chỉ để xem ma thì anh phải
đồng ý để em đuổi cổ ngay lập tức tay ma cô chuyên dắt gái cho anh đêm đêm nhé.
Người khác ngồi vào vị trí của anh ta công việc sẽ hiệu quả hơn.
- Còn cô làm
ăn không ra gì tôi lấy lại chiếc ghế giám đốc và giao cho người khác.
Kiều cười
khanh khách:
- Chính anh
thuê chuyên viên quảng cáo viết bài lăng xê tên tuổi em anh quên rồi sao? Một
bà giám đốc trang trại xinh đẹp đã có thương hiệu như em anh khó tìm được người
thay thế. Dĩ nhiên em không bằng các cô hoa khôi, người mẫu, nhưng họ khác máu
tanh lòng, chẳng lẽ anh đuổi em đi để đặt họ vào. Chị Tư về đây thì em nhường
ghế lại cho chị ấy. Nhưng chị ấy già rồi, còn con gái anh thì chẳng thích xứ
này!
- Tôi nói cô
biết tôi mà tuyển được một trang tuyệt sắc giai nhân làm bồ nhí thì tôi đá bay
cô ra khỏi ghế giám đốc và đặt người đẹp của tôi vào đó. Rõ chưa?
- Sắc đẹp
đàn bà là đầu mối tai họa. Em dư biết anh mà thiếu bóng đàn bà là không sống
nổi. Thế nên tạm thời em đồng lõa với anh qua mặt chị Tư để anh tùy tiện chơi
trò ông vua nghìn lẻ một đêm. Các cô nàng ở đây có vẻ cũng hưởng ứng trò này
tợn.
Nghe em
gái nói Tư Thắng suýt buộc miệng nhắc cái tên Mỵ Hoa nhưng rồi anh ta kìm lại
kịp. Chỉ mới một đêm ân ái với nàng mà thóang nghĩ đến nàng thôi là tâm thần
anh ta đã bấn lọan.
Tư Thắng nhìn Kiều và hỏi cô ta định bày vẽ trò ma
quái thế nào.
Kiều đắn đo một lát rồi quyết định nói thẳng ra dự
định của mình:
- Hồi trước
em có nghe kể chuyện một thiếu nữ H’roi chết vì tình khá kỳ lạ: Như người ta
đồn thì cô nàng quá đẹp nên có đoàn làm phim mời cô ta vào vai một sơn nữ si
tình. Tên nàng là Mỵ Hoa. Theo kịch bản phim thì cô ta đóng cặp với một diễn
viên khác sắm vai một lái buôn trẻ giàu có. Sơn nữ H’roi yêu chàng lái buôn như
thế nào thì cô diễn viên không chuyên nghiệp cũng yêu anh chàng đóng cặp với
mình tương tự. Khổ nỗi ngoài đời anh này đã có vợ con nheo nhóc, tuổi cũng đã
cao còn cô nàng thì chưa đến hai mươi. Khi nàng sơn nữ Mỵ Hoa bị chàng lái buôn
bỏ rơi thì cô gái H’roi cũng bị đòn tình cho đến chết. Trước lúc chết chàng
diễn viên có đến thăm cô nhưng cô lại không nhận ra anh ta. Người cô nàng tìm
kiếm là một thương gia từ nơi khác đến. Bệnh tình của cô này khiến đòan làm
phim đau đầu nhưng cuối cùng đành bó tay. Nghe đâu sau khi chết cô nàng còn
hiện hồn về tìm kiếm chàng lái buôn khắp nơi. Đàn ông ban đầu rất sợ cô nàng
nhưng về sau yên tâm vì nàng chỉ ám cánh thương gia giàu có, mà chỉ các thương
gia từ xứ khác đến như anh chàng lái buôn trẻ trong phim. Chàng diễn viên đích
thực thì bị nàng quay lưng thật sự vì y phục đã vứt, phấn son đã lau chùi, vai
vị đã xong anh chàng chỉ còn là một nghệ sĩ nghèo trong hẻm tối.
- Chuyện em
kể nghe quái lạ đấy. Anh không tin trên đời này có lọai phụ nữ chết vì một thứ
tình ảo, tình vờ, tình kịch trường, sân khấu, điện ảnh. Nếu nói rằng có một cô
diễn viên yêu một chàng nghệ sĩ nhưng do trở lực của xã hội nàng khổ đau rồi
chết còn có lý.
Kiều tư
lự:
- Có lý hay
không lại là một chuyện, sự thật là chuyện khác. Nhà ba mẹ cô ta cũng ở trong
vùng này, họ biết chuyện cô thường hiện hồn về nhưng cố tình ém nhẹm. Thuở còn
sống cô ta đã đẹp nhưng chết rồi hiện hồn về cô càng đẹp hơn. Nghe nói ma nữ
này hút sinh khí của những gã si tình nên mới đẹp đến thế. Dĩ nhiên ai bị ả ám
và si mê ả rồi thì có mà thoát đường trời. Có vài thương nhân đi nghỉ mát vùng
này bị cô ta hiện ra và dùng nhan sắc quyến rũ mà không biết. Mấy ông nhà buôn
háu gái ân ái với ma nữ đến kiệt quệ chết đi rồi người ta mới biết sự tình. Cái
sự thể mấy ông già người H’roi hôm kia nổi giận cũng có một phần liên quan đến
cô ta đấy: biết con ma này hại đàn ông nên một vị phù thủy đã ếm bùa. Ác nỗi
mấy tay đào móng quật nát chiếc trắp chứa lá bùa linh nên mới có chuyện đáng
tiếc xảy ra.
- Hay nhỉ?
Nhưng tại sao họ đòi ếm bùa phá công ty mình?
- Vì họ sợ
cô ả tìm không ra bạn tình phát điên lên là gây rối. Nếu ả tìm được bạn tình
thì sẽ để họ yên ổn thôi.
Tư Thắng đang mải còn mơ tưởng đến tấm thân yêu kiều
của Mỵ Hoa nên chẳng để lọt tai bao nhiêu câu chuyện có vẻ hoang đường của cô em
gái.
- Nghe anh
nói đây: em làm gì với hồn ma cô gái H’roi thì làm. Phần anh đã có ý trung nhân
lý tưởng rồi. Vậy miễn cho anh dính vào vụ dựng ma câu khách nhé!
Kiều không chịu:
- Em đang
muốn dựng đứng một vụ thế này: hồn ma cô gái sắm vai sơn nữ H’roi trong khi vật
vờ theo gió tìm hình bóng chàng lái buôn thân yêu, chợt nàng trông thấy anh Tư
Thắng, vậy là từ đó nàng quẩn quanh bên anh ta. Hai người như có duyên tiền
định với nhau hay sao đó mà Tư Thắng đêm ngày mơ tưởng cô ả. Không tin, du
khách hãy đến Trang trại Đồi Tranh, xem ông chủ Việt Kiều tay trong tay với
người đẹp đến từ bên kia thế giới.
Tư Thắng cười xòa:
- Cô cứ thế
mà làm nhưng nhớ không được đem con người thật của tôi ra làm trò đấy nhé! Cô
cứ tìm một thằng trẻ trẻ nào đó và trả lương tử tế. Sau đó bảo nó xưng là Tư
Thắng, ăn mặc sao cho thật giống tôi và loan tin rằng anh ta đã ngủ với ma. Cô
hãy bảo anh ta dở sống dở chết bởi ma tình.
Những đêm tiếp theo các cô gái ở quầy bar thôi đến chỗ
Tư Thắng và Mỵ Hoa đã chiếm lĩnh hoàn toàn con tim ông chủ Trang trại đồi
Tranh. Tư Thắng vốn là tay bạc tình số một, chóng chán mau quên, được cái Tư
Thắng giỏi làm giàu và trừ thói xấu máu dê xồm ra thì anh ta sống khá rộng rãi.
Từ ngày về nước mở khu du lịch, ngày nào Tư Thắng cũng
vùi đầu vào núi công việc còn lắm sự bừa bộn. Riêng chủ nhật anh cho phép mình
nghỉ ngơi. Anh thường lái xe đến các sân vận động chơi thể thao hoặc tắm biển
và nếu thích anh nhanh chóng chọn cho mình một phụ nữ như ý. Họ đi chơi, ăn uống
và thuê nhà nghỉ. Các cô này có địa vị sáng giá hơn mấy nhân viên nữ phục vụ
quầy bar, nhưng Tư Thắng không biết nhiều về các nàng.
Hôm nay
mãi đến 9 giờ đêm Tư Thắng mới rời được một nữ giám đốc trẻ. Tư Thắng bị giữ
chặt đến nỗi phải tự hỏi chị ta say đắm mình hay say đắm cái khu du lịch của
mình. Gần 12 giờ đêm Tư Thắng mới về tới nhà. Lúc này anh ta chỉ thèm được ngủ
cho đẫy giấc.
.... Vừa ngả người xuống giường Tư Thắng bỗng giật
mình bởi một làn hương lành lạnh thoảng qua. Vài phút sau Mỵ Hoa đã khỏa thân
trong vòng tay anh ta mà không thèm biết anh ta khỏe hay mệt.
Vừa chạm vào người đẹp này là Tư Thắng như phát nổ,
anh ta nói trong hơi thở hào hển:
- Anh xin
lỗi!
Mỵ Hoa tươi cười:
- Em chờ anh
lâu quá.
Tư Thắng nguyền rủa một ngày chủ nhật chết tiệc bên ả
giám đốc lẳng lơ. Ả mà không chủ động tấn công mời mọc Tư Thắng thì đâu đến nỗi
giờ này anh ta mới được sung sướng bên Mỵ Hoa.
- Anh nói là
sẽ dẹp hết mấy phụ nữ xấu xí kia và chỉ để riêng mình em gần gũi bên anh vậy mà
anh không giữ lời hứa. Suốt ngày nay em buồn muốn chết. Em đã theo anh khắp mọi
nơi mọi chốn nhưng giữa ban ngày ban mặt chẳng thể hiện diện bên anh.
Lúc này Tư Thắng mới sửng sốt. Cái việc sắp xếp đi
chơi với bà chủ trung tâm vui chơi giải trí chỉ mình anh ta biết. Tại sao cô
nương này có vẻ nắm rõ ngọn ngành. Lại nữa, cô ta cố tình nhấn mạnh là không ra
mặt công khai. Như vậy cô ta theo anh bằng cách nào? Mà chẳng lẽ cô ta ghen đến
mức độ đó sao? Những phụ nữ dang díu với Tư Thắng chẳng đời nào dám ghen tuông,
rình mò. Họ không có cái quyền ấy.
Tư Thắng chợt cười: có gì đâu! hẳn cô nàng này cậy
nhan sắc. Chẳng biết rồi cô ta còn đòi hỏi gì hơn nữa. Những lúc như thế này
nàng có đòi mình moi tim ra dâng nàng thì mình cũng gật tất.
- Em chỉ có
thể ngủ đây với anh đến quá nửa đêm thôi. Anh hãy dặn ông Hoành tối mai đừng
sai mấy bà kia lên phòng anh nữa. Em chỉ muốn anh là của riêng em.
Tư Thắng lúc này đã vắt kiệt mình trong cuộc yêu đương
với người đẹp và chỉ có mỗi một ao ước là cùng cô nàng đến một nơi nào đó, như
thiên đường chẳng hạn.
Người đâu gặp gỡ mà chi,... anh ta lẩm bẩm. Sao có phụ
nữ đẹp đến vậy nhỉ? Được ta vò xé, yêu chiều bao nhiêu nàng càng khỏe mạnh lên
bấy nhiêu. Lúc đó nàng đủ sức thu nhận cả trăm thằng đàn ông ấy chứ. Nàng lạ
quá. Không giống mấy cô ả nhân viên cứ một chầu mây mưa là xụi lơ như chết. Ta
cần phải bồi bổ tấm thân này để níu giữ lấy nàng kẻo không nàng chán, nàng tìm
đến thằng khác.
- Em về đây!
Mỵ Hoa đặt nhẹ lên trán Tư Thắng một cái hôn giá lạnh
và nở một nụ cười đổ quán xiêu đình.
Cái tin Trang trại Đồi Tranh có ma xuất hiện cùng lúc
với việc ông chủ Tư Thắng bị ma quyến rũ. Mấy cô nhân viên xầm xì một cách đầy
sợ sệt rằng bà Kiều giám đốc kể oang oang tận mắt thấy ông chủ trang trại khóac
tay một nàng ma tuyệt sắc giữa đêm khuya dạo chơi khắp đồi Tranh.
Tay quản lý Hoành nghe chuyện cười đểu:
- Bà Kiều
sáng tác kịch bản này. Không biết làm ăn kiểu bà có được pháp luật cho phép
không? Bảo ông Thắng lệnh bà Kiều dừng vụ này nhanh kẻo tai họa xảy ra khó mà
lường. Ngay từ đầu tôi đã không ủng hộ kịch bản của bà Kiều. Đùa với ma quỷ không
xong đâu.
Kiều hốt hỏang chạy lên phòng riêng của anh trai:
- Kiểu gì
vậy anh Tư? Hôm nọ em có vài ý tưởng bày trò làm ma để hút khách, nhưng em đã
làm gì đâu. Sao bỗng dưng công ty náo lọan cả lên rồi. Hoành bảo em dàn dựng
trò này. Vậy anh đính chính với Hoành đi. Khách đến khu du lịch ngày càng đông
mà nhân viên thì càng ngày càng hoang mang lo sợ. Mới một buổi sáng mà em nhận
được hơn chục lá đơn xin nghỉ việc.
Tư Thắng
trấn tĩnh cô em gái:
- Yên tâm!
Trò này không phải của cô thì trăm phần trăm là của gã quản lý. Hắn hợp ý tôi
vì luôn đón trước những điều tôi muốn. Nhưng mà mới nghe qua đã thấy hấp dẫn
rồi đấy chứ. Cô cứ làm như tôi không biết gì để mặc Hoành đắc thắng nhé! Chúng
ta chờ thêm vài sự lạ nữa đã loan đồn cho thiên hạ hay.
Chưa yên tâm mấy trước những lời đầy vô tâm của anh
nhưng không tiện ngồi lâu với Tư Thắng. Kiều quay về phòng làm việc, khi ngang
qua chỗ Hoành cô lườm gã một cái sắc lẻm.
Hoành ngồi đọc mấy lá đơn xin nghỉ việc của gần mười
nhân viên và ghi dưới dòng chữ: không
chấp thuận. Bất chợt Hoành nhớ lại những gì mình thấy đêm hôm trước: lúc đó
chưa đến mười giờ đêm. Một vài nhân viên còn chạy lui chạy tới trong khu hành
chính. Không hiểu sao Hoành nghe trong người nóng bức không chịu nổi, gã bèn
rảo bước về phía sườn đồi nơi dẫn xuống hồ Mai lúc nào cũng toả hơi nước mát
rượi. Đi chưa được bao xa chợt một ánh chớp lóe lên. Cả một lằn sáng xanh lè
bay thẳng về phía Hoành và nhằm hướng phòng ngủ của Tư Thắng hạ xuống. Lúc này
Hoành nhận rõ hình bóng một thiếu nữ tuyệt sắc vờn bay quay lại nơi cửa sổ. Gã
chạy vội vào tìm mấy nhân viên bảo họ cùng rình chờ xem. Trong lúc cả hội đang chăm
chăm nhìn sự lạ nơi phòng ông chủ thì một cái gì không rõ xẹt phía sau lưng.
Hoành và vài người quay lại thì rõ ràng ông chủ và thiếu nữ nắm tay nhau bay
hút vào bầu trời.
Trong chốc lát câu chuyện được loan đồn với sự thêm
thắt mỗi lúc một rùng rợn. Hoành không dám hỏi Tư Thắng bất cứ điều gì liên
quan đến nàng ma. Gã cố thuyết phục mình là ông chủ tài ba có lắm trò ma thuật
nhưng dấu. Thế mà hễ nhìn thấy ông chủ là gã rờn rợn. Gã thương Tư Thắng hơn cả
anh ruột. Một niềm lo âu bóp ghẹt con tim gã khi càng ngày Tư Thắng càng bơ phờ,
râu ria lởm chởm và chỉ đòi ăn những thức ăn còn tanh sống, chẳng bù cho hồi
mới về Tư Thắng lại quen bánh mì, uống rượu mạnh và hút xì gà.
Hoành muốn nói điều gì đó với Tư Thắng nhưng nghĩ mãi
không ra. Nhìn gương mặt đờ đẫn của ông chủ gã chỉ còn biết thở dài. Tư Thắng
dường như không chút hay biết mọi người lúc nào cũng để ý và lo âu trước thần
thái của anh. Gặp Hoành Tư Thắng hỏi qua loa tình hình công việc của mấy cô nhân
viên quầy bar, Hoành nhận thấy ông chủ dường như chẳng còn nhớ nổi cô nào vào
cô nào. Tự nhiên Hoành thấy tâm trạng mình cứ u ám, não nề, gã sợ một điều gì
đó hết sức tệ hại xảy ra với Tư Thắng. Phải chi anh ta cứ tung hê, chơi đùa với
mấy cô nàng như dạo trước thì Hoành không phải lo âu đến thế này.
Đợi gã quản lý đi khuất, Tư Thắng mới đẩy chồng hồ sơ
sang một bên. Anh ta chẳng còn tâm trí mà làm việc. Đêm qua đang nằm bên Mỵ Hoa
thì Tư Thắng nhận được điện thọai của vợ. Chị vợ từ Úc gọi gấp cho Tư Thắng nói
là ba mẹ con cùng bay một chuyến về Việt Nam để dự đám cưới Út Kiều trong tháng
sau. Mỵ Hoa đang nằm bên Tư Thắng hay tin vợ anh ta sắp về thì hờn ghen ra mặt.
Cô nàng lôi anh ta vào cuộc hành lạc cho đến khi toàn thân anh ta như chỉ còn
là tấm dẻ rách bầm nát mới thôi. Trong giấc ngủ nặng nề, Tư Thắng mơ thấy mình
bị Mỵ Hoa dẫn đến một vùng tối đen như mực. Ở đó cô ả hút dần bầu máu nóng bỏng
của Tư Thắng và trong cái xác vật vờ Tư Thắng vẫn còn kịp nhận thấy người tình
của mình đẹp như chim sa cá lặn, gã ôm ghì lâý chiếc thân ma quái ấy và bất
chấp nàng là người hay ma, gã quỳ dưới chân nàng nguyện làm kẻ nô lệ của ả đời
đời.
Tối chủ nhật nào Mỵ Hoa cũng cùng Tư Thắng ngập trong
tình yêu. Bây giờ chiều theo đòi hỏi của Mỵ Hoa, Tư Thắng phải tự đến chỗ nàng.
Suốt ngày chủ nhật Tư Thắng ngủ li bì để dưỡng sức và đêm xuống, anh một mình
lái xe đến tận ngôi nhà hoang vắng ẩn khuất trên một sườn núi. Có lần Tư Thắng
hỏi nàng tại sao chỉ sống một mình ở đó, nàng ỡm ờ rằng như thế tiện cho chuyện
đôi lứa hơn.
Hôm nay cũng vậy, vừa lúc sẩm tối Tư Thắng lái xe đến
chỗ hẹn với người yêu. Hai người chơi đùa tung tẩy khắp thung lũng.
Mỵ Hoa hỏi người yêu:
- Anh có
muốn ở lại đây mãi với em không? Trang Trại của anh càng ngày càng đông vui,
họat náo. Em không có chỗ ở chốn đông người.
Tư Thắng
dỗ dành:
- Công việc
ngày càng tốt đẹp. Khách tham quan càng lúc càng đông nhờ đó thu nhập của anh
càng cao. Em không vui khi trở thành tình nhân một ông chủ giàu sụ hả?
- Em chỉ
muốn hai đứa mình chơi khắp trời đất và đêm nào cũng được anh ôm ấp.
- Khuya rồi!
Về chỗ anh nhé!
- Anh về đi!
Gần sáng rồi. Mà này, em không thích phấn son gương lược. Anh mua làm chi cả
một giỏ đồ nữ trang vậy.
Tư Thắng cố nài nỉ:
- Hàng xịn
cả đấy em yêu! Lại đây anh vẽ lông mày cho. Anh muốn thấy em đẹp hơn sau khi
trang điểm.
Vừa nói Tư Thắng vừa kéo Mỵ Hoa ngả vào lòng mình. Anh
ta nhặt một thỏi son lên tô điểm vành môi người yêu, đoạn anh ta dùng bút kẻ
lông mày vạch một đường cong đen đậm và tỏ ra thú vị với trò nịnh đầm của mình.
Mỵ Hoa hỏi anh ta có thấy nàng đẹp hơn thường ngày không, Tư Thắng nhặt chiếc
gương con trao cho Mỵ Hoa:
- Em soi
gương đi, biết!
Mỵ Hoa cầm chiếc gương lên soi nhưng rồi cô ả quẳng
thật mạnh, chiếc gương thủy tinh vỡ thành muôn mảnh. Nỗi buồn của ả như nhuộm
thấu tim mạch Tư Thắng, anh ta chẳng biết vì đâu mà cô nàng đổi thay nhanh đến
nhường ấy. Giá như lúc ấy Tư Thắng cũng nhìn vào gương như Mỵ Hoa, anh sẽ chẳng
thấy hình ảnh nào trong đó. Mỵ Hoa chỉ là một chiếc bóng mà đã là bóng thì làm
sao phản chiếu được qua gương?
Cậu bảo vệ trông thấy Tư Thắng cười cầu tài:
- Anh đi
chơi gái về à! Chủ nhật nào với anh chẳng nhất dạ đế vương phải không? Em cô
đơn hằng đêm mà chẳng ma nào tới yêu.
Tư Thắng cười:
- Coi chừng
đó. Trang trại mình có ma. Nhiều người trông thấy mấy nàng ma dắt tay nhau đi
tìm những anh chàng cô đơn để tấn công.
- Tối nay có
nàng ma nào tới anh dắt khắp đồi Tranh cho mọi người xem nhé. Anh Hoành kể có
lần thấy anh và một ma nương bay giữa những đốm lửa ma trơi xanh lè.
Tư Thắng chau mày:
- Còn lắm sự
quái gở trong khu đồi Tranh này. Ma cứ ám mình vì lý do gì mới được? Tư Thắng
thấy giọng mình bỗng trở nên gay gắt khi anh ta kịp nhận ta có ai đó chạm vào
người anh lạnh buốt.
Từ ngày biết Mỵ Hoa, chẳng lúc nào Tư Thắng ăn ngon
ngủ yên. Đêm nay cũng vậy, đồng hồ điểm bốn tiếng mà anh ta vẫn còn nhìn trừng
trừng vào một điểm xa xăm. Mãi gần sáng chập chờn bởi giấc ngủ không sâu Tư
Thắng nghe như có ai chê trách anh ngu, thường xuyên ngủ với ma, bị ma vắt kịêt
tinh lực mà chẳng biết. Anh vùng dậy nhìn khắp quanh phòng nhưng chẳng thấy ai.
Tư Thắng uể oải ngồi vào bàn mơ màng cho đến sáng bảnh.
Một con nhện to tướng sà xuống trước mặt Tư Thắng. Con
quái trùng hai mắt lồi to nhìn anh như thể ngạc nhiên sao đến lúc này anh vẫn
khỏe mạnh.
- Mày định
báo điềm gì? nhện vàng may mắn nhện trắng
tai họa. Mày lại là một con nhện xanh! - Tư Thắng hỏi con nhện mà không cần
nghe trả lời.
Con nhện nhanh chóng nương theo sợi tơ bò về phía trần
nhà chẳng thèm để ý đến ánh nhìn lạ lẫm của Tư Thắng hướng theo mình.
Chợt cái giọng bí ẩn lúc nãy hình như từ phía nhện
xanh bay đến:
- Đồ ngu! Mi
sẽ phải chết vì con ma tình. Ta đã chứng kiến không dưới mười thằng đàn ông
chết trong vòng một năm vì đắm mê ma sắc.
Một niềm hoang hoải trùm khắp căn phòng quen thuộc của
Tư Thắng. Gã nghe trong dạ bồn chồn. Phía con nhện lại phát ra cái giọng quen
thuộc:
- Mi chết
rồi thì nó đi tìm thằng khác. Đam mê sắc dục thì tất phải trả giá. Ta không ngờ
một kẻ lương thiện, tốt bụng như mi phải chờ cái chết thảm vì con ma đàn bà yếu
ớt,...
Tư Thắng dán mắt vào con nhện thì càng lúc nó càng bò
xa chỗ anh hơn. Chỉ 5 phút sau nó đã kịp nương sợi tơ bò ra khu vườn ngập sắc
lá xanh.
Tư Thắng chỉ mang máng hiểu là hình như con nhện nhắc
nhở hay khiển trách anh về chuyện sắc dục quá độ thì phải. Nhưng như thế thì vô
lý quá. Những tháng gần đây anh chỉ yêu có một mình Mỵ Hoa. Chưa bao giờ anh
quan tâm đến thân thế người đẹp này. Nhà nàng anh đã đến. Tối nào cũng chỉ mình
nàng ở đó. Anh đã từng đến những ngôi nhà của các phụ nữ độc thân. Khi anh hỏi
họ về người thân là họ gạt phắt đi, không muốn anh biết. Họ cho rằng chỉ muốn
riêng anh và họ biết nhau thôi. Từ đó trở đi anh thôi bận tâm các cô gái của
anh còn ai thân thiết trên đời.
Một ngày rời rã dài lê thê. Hoành sửng sốt trước tình
trạng sức khỏe sa sút nhanh đến trông thấy của Tư Thắng nên chỉ định Anh Nga lên
đấm lưng, xoa bóp ông chủ. Nhìn ánh mắt nồng nàn của Anh Nga Tư Thắng thương
hại cô gái quá. Gã kề miệng sát tai cô:
- Vợ con anh
sắp sang rồi! Có vợ anh ở đây em dặn các cô khác đừng hở cho chị biết anh sống
kiểu này nhé!
- Bọn em
biết thân phận mình mà ông chủ.
Mắt Tư
Thắng lim dim:
- Anh không
chê gì em nhưng anh mệt. Bữa nào đi chơi với Mỵ Hoa về là bữa đó anh như mất
hết sinh khí. Nhưng anh yêu cô ta quá. Anh
Nga dằn dỗi ngồi dậy lấy thỏi son trong bóp ra tô lại nét môi, khi cất hộp son
vào bóp và bước lại trước chiếc gương thử ngắm mình, Anh Nga ngạc nhiên thấy
một thiếu nữ tuyệt sắc đứng ngay phía chân giường. Cô nhìn về phía Tư Thắng và
nghe trong lòng dâng lên một niềm cay đắng:
- Thì ra
vậy. Bây giờ tôi hiểu tại sao ông chủ cứ lạnh lùng.
Mỵ Hoa quắc mắt nhìn Anh Nga nhưng không
nói gì!
Anh Nga chợt thấy cô gái đẹp này có cái gì đó khiến
mình cư rờn rợn. Mãi một lúc sau cô mới hiểu ra chính hơi lạnh tỏa ra từ người
ả làm cô sợ.
Anh Nga thầm hỏi: Chẳng lẽ cô nàng này là ma. Gần đây
những lời đồn đại về ma quỷ xuất hiện trong Trang Trại Đồi Tranh. Mà sao cô
nàng này đẹp đến như thế, vẻ đẹp ma quái, dụ hoặc, thằng đàn ông nào trông thấy
cô ta mà không mê mẩn tâm thần.
- Cô là ai?
- Tình địch
của chị! Thốt xong câu ấy Mỵ Hoa vươn tay ra nhấc bỗng Anh Nga như nhấc một con
thỏ và trong khỏanh khắc ả thả Anh Nga xuống ghế và biến.
Anh Nga rú
lên thất thanh.
- Cái gì
vậy? Tư Thắng ngồi bật dậy.
Mặt Anh Nga trắng nhợt không hột máu:
- Em vừa đối
mặt với một hồn ma trong phòng này.
- Chán cô
thật! Giá như tối nay không phải cô mà Mỵ Hoa đến đây thì tuyệt vời. Cô ấy
chẳng biết sợ là gì. Một mình giữa chốn hoang vu mà cô ấy vẫn hồn nhiên.
Anh Nga nhìn đôi mắt như đang lên cơn sốt của Tư Thắng
mà rùng mình. Lẽ nào công việc đã lấy đi hết sinh khí của người đàn ông tràn
trề sức lực. Lúc này mà Tư Thắng ôm lấy Anh Nga chắc nàng chết vì sợ.
Thời trai trẻ Tư Thắng là một cầu thủ bóng đá chuyên
nghiệp. Anh ta đá bóng khá hay và gặt hái được một số thành công ngọan mục.
Cuối cùng Tư Thắng được một câu lạc bộ bóng đá của người Việt ở Úc mua về. Đời
sống của một cầu thủ như anh hẳn nhiên là lắm chuyện thị phi. Anh ta chẳng làm
sao nhớ được đã có bao nhiêu bóng hồng đi qua đời mình. Sau khi giải nghệ anh
chàng bèn chuyển hướng kinh doanh làm ăn, tuy nhiên, anh không thôi ngày đêm
luyện tập để cơ bắp lúc nào cũng rắn chắc.
Nhìn Tư Thắng là thấy rõ sức sống cuồn cuộn. Năng lực
ấy tỏa vào công việc, tỏa khắp phòng the và giúp anh ta thiết lập các quan hệ.
Cái gì đã khiến ông chủ của mình tiều tụy đến như vậy?
Như mọi cô gái trong khu du lịch này, Anh Nga rất yêu ông chủ. Ở đâu lối sống
kiểu ông vua nghìn lẽ một đêm bị phê phán không biết nhưng trong trang trại thì
mọi người đều lấy thế làm vui. Cái cách lý sự của mọi người cũng hay đáo để,
rằng bà chủ đang độ hồi xuân ở ngọai quốc chắc chẳng dại mà ôm tấm thân vò võ
cô đơn đêm ngày chờ đức ông chồng, vậy nên ông ăn chả bà ăn nem.
Dù tuổi đã suýt sóat năm mươi nhưng trông Tư Thắng còn
rất trẻ. Tư Thắng cũng thuộc hạng người
tài tình một phách. Anh ta tổ chức công việc đâu ra đấy. Cả vùng đồi Tranh ngày
xưa hoang vu là vậy mà giờ đây trở nên một cảnh quan thơ mộng bậc nhất. Du
khách nước ngoài cũng tấp nập đến đồi Tranh. Đời ông chủ mỗi ngày một lên
hương, nào ngờ,...
Sức khỏe Tư Thắng sa sút thấy rõ khiến Anh Nga đêm nay
mới gặp lại anh buồn một thì những người khác phát hiện từ sớm buồn mười. Mỵ
Hoa đến với anh thường xuyên hơn. Cô ta cũng thôi đòi Tư Thắng đến ngôi nhà
vắng của mình tình tự. Nhiều đêm quá mệt nhưng Tư Thắng vẫn cố sức chiều Mỵ
Hoa, anh bỗng thấy một mối sợ hãi âm thầm trước cô nàng này nhưng muộn mất rồi,
vì cô nàng dường như hút không biết chán nguồn sinh lực của anh và nhấn anh
chìm ngập trong bể tình lầy lội.
Đám cưới của Kiều tổ chức ngay tại Trang trại đồi
Tranh đã phần nào gây xáo trộn nếp sinh họat của Tư Thắng. Vợ con anh về thật
đúng lúc. Gặp vợ Tư Thắng được tiếp sức. Mọi người thấy Tư Thắng hồng da đỏ
thịt lại rất nhanh, ai cũng vui mừng ra mặt kể cả mấy cô nàng tiếp viên, họ
biết mình không có quyền ghen với bà chủ, và vì lẽ ấy họ bỗng thấy biết ơn chị
ta nhất là giờ đây ông chủ trở nên tràn trề sức sống như chưa từng kiệt quệ
trong mấy tháng qua.
Chỉ có Tư Thắng là vẫn buồn rầu nhớ Mỵ Hoa. Cô nàng
không thấy xuất hiện vào những đêm muộn như trước kia. Lúc này Tư Thắng mới ngớ
ra là mình chưa một lần gặp Mỵ Hoa giữa ban ngày ban mặt.
Vợ Tư Thắng có rất nhiều kế họach cho những năm tiếp
theo nên nhân chuyến về quê lần này chị thăm thú khắp đó đây. Mấy mẹ con tự tay
lái xe vào những nơi đèo heo gió hút. Khu đồi Tranh rộng lớn được họ khảo sát
tường tận.
Những buổi tối dù Tư Thắng có ngủ chung với vợ hay
không Mỵ Hoa cũng không tìm đến với anh ta nữa. Có lúc anh ta nghĩ đến cô nàng
nhưng rồi hình bóng chị vợ trùm khắp. Nếu trong công việc Tư Thắng giỏi giang
bao nhiêu thì với phụ nữ anh ta lại đơn giản bấy nhiêu. Chưa bao giờ Tư Thắng
tổn thương vì bị một người đàn bà phụ bạc, vậy nên nghe những lời xầm xì đầy sợ
sệt của mọi người về một nàng ma nữ thất tình đã báo thù bằng cách tình tự với
những gã đàn ông mang bóng dáng người tình của ả anh thấy sao mà buồn cười.
- Giả tỉ có
con ma đàn bà thật đi nhưng chẳng lẽ không một ai trong số những người bị quyến
rũ phát hiện ra nó? Tư Thắng hỏi dồn.
Cậu em rể
ra điều hiểu biết giảng giải cho Tư Thắng:
- Nghe đồn
con ma này nhờ hút tinh khí, sinh thực của đàn ông mà trong đêm tối nó trở nên
đẹp đẽ lạ thường. Chính xác thì nó cũng chỉ là ma, mỗi khi nó hiện ra nếu nhìn
kỹ sẽ thấy nó không như người thường nhưng vì ma sắc mạnh quá đủ sức làm đàn
ông hồn xiêu phách lạc ngay khi trông thấy. Đã một lần sa ngã thì về sau chẳng
ai đủ tỉnh táo để mà cân nhắc ma hay người.
Thế là những
chuyện về ma quỷ lại rộ lên khắp vùng.
Tư Thắng nghe Hoành kể lại rằng đã có người nghe thấy
tiếng khóc của một hồn ma trong vài ba đêm gần đây. Mà rõ ràng là con ma ấy chỉ
gọi riêng Tư Thắng. Có một nhóm du khách trong một chiều cùng nhau chụp hình
cảnh đẹp suối Mai dưới bóng hoàng hôn đã tình cờ trông thấy một phụ nữ nét mặt
u sầu ngồi bất động bên ghềnh đá. Một trong những ông khách bước đến bên cô ả
gạ tình và vô cùng kinh ngạc khi thấy cái sự dễ tính đến mức khác lạ của cô
nàng này. Ông khách nghi ngờ cô nàng ấy làm đĩ, và ông bảo rằng ngay đêm hôm đó
cô nàng đã đến phòng ông...
Câu chuyện li kì đã được thêm dấm thêm ớt nhất là khi
ông khách tỏ vẻ quá cứng cỏi trước một người đàn bà đẹp. Mỵ Hoa không quyến rũ
được những người này bèn quay lại tìm Tư Thắng.
Một buổi trưa Tư Thắng đang ngồi nhâm nhi cà phê,
hương thơm nồng nàn tỏa khắp phòng. Bỗng anh thấy tinh thần hưng phấn, khí lực trào
dâng, anh nẩy sinh sự thèm khát tối tăm, ước ao lúc này có Mỵ Hoa để ôm vào
lòng ân ái. Rồi như thể cầu được ước thấy, một cơn lốc ào vào mang theo một mùi
vị tanh tưởi của xác chết.
Tư Thắng run
bắn cả người khi cơn gío tan đi thì cũng là lúc Mỵ Hoa chầm chậm đến ngồi cạnh.
Cô ta xuất hiện trong hình hài khủng khiếp đến không ngờ. Quá sửng sốt nên Tư
Thắng chỉ kịp thốt lên:
- Trời!
Chính là Mỵ Hoa nhưng hôm nay trông cô ta sao mà xấu
xí. Chiếc mũi cao thanh tú mọi đêm giờ đây bỗng khoằm lại, làn da trắng mịn thì
bạc thếch, meo mốc. Tư Thắng để ý những chiếc móng tay của cô nàng và không
khỏi rợn tóc gáy vì các móng đều dài và cong thành vuốt, nhọn hoắt. Đôi mắt của
Mỵ Hoa trống rỗng như hốc mắt của một chiếc đầu lâu. Mỵ Hoa nhìn Tư Thắng như
muốn tóm lấy anh ta:
- Anh quá
hạnh phúc với cô vợ ở Úc về mà không biết rằng em đang dần mòn hư hoại. Lâu nay
quá quen hơi anh nên em không cảm được xác thân người đàn ông nào khác nữa. Anh
quên em! Biết anh bạc tình đến thế hồi trước em chọn yêu người đàn ông khác.
Tư Thắng
ái ngại:
- Chẳng lẽ
vì mòn mỏi đi do nhớ thương anh mà dung nhan em tiều tụy, đổi thay đến dường
này sao?
Càng lúc Mỵ Hoa càng mờ nhạt:
- Anh muốn
hiểu thế nào cũng được nhưng chắc chắn vợ anh có đó thì em chẳng bao giờ gần
gũi với anh được nữa?
Tư Thắng không biết nói gì. Anh nhìn bộ mặt buồn thảm
của Mỵ Hoa và thấy trong lòng trào dâng một nỗi xót xa. Giữa lúc anh định tiến
lại ôm cô gái vào lòng nói vài lời an ủi thì thình lình một tia sét chớp
nhoáng, Tư Thắng choáng váng cả đầu óc. Mấy phút sau anh ta mới định thần thì
Mỵ Hoa đã biến lúc nào rồi.
Buổi tối vợ chồng Tư Thắng lên giường sớm. Sau những chuyến ngao du khắp
mọi nơi trong vùng chị ta trù tính bay về Úc thu xếp việc nhà rồi trở lại Việt
Nam. Tư Thắng vì công việc nên chẳng biết nói gì khác hơn là khuyên vợ cứ làm
những gì mà chị thấy thích hợp. Khi chị vợ nói ý định sẽ nghỉ việc ở Úc và rút
tòan bộ số tiền trong tài khoản về đầu tư xây dựng thêm một số công trình trọng
điểm tại khu du lịch đồi Tranh. Tư Thắng bỗng ngạc nhiên trước mọi trù tính táo
bạo của vợ. Theo như ý tưởng mới hình thành trong đầu thì chị vợ dự định sẽ
dựng một cụm tháp Chàm ngay tại sườn núi gần thôn ấp khuất nẻo có một cộng đồng
người H’roi cư trú.
- Anh có
thấy sườn núi ấy địa thế lý tưởng không? Ở đó chưa có cửa nhà nên mình có thể
“bành trướng lãnh thổ” lên chút ít cũng không có ai ngăn cản.
Tư Thắng lo lắng chốn đó có ngôi nhà nhỏ của Mỵ Hoa.
Dạo trước vợ anh chưa về, nhiều buổi tối chủ nhật anh đến với nàng trong cảm
giác hồi hộp nhưng không dấu được niềm ham muốn kỳ lạ,...
Bây giờ vợ anh tính chuyện chiếm lấy cả
phần đất của nàng hẳn là nàng tức giận lắm nhưng anh làm sao cản trở chị được
khi mà tiền mua cả khu đất xây trang trại này hơn một nữa là của chị.
- Việc
xây một cụm tháp Chàm mô phỏng khu thánh địa để sau. Sức khỏe anh mấy tháng gần
đây sa sút quá, mà bác sĩ thì lại không tìm thấy bệnh tình gì ở anh!
Chị
vợ nói thật:
- Hồi
mới về vừa nhìn thấy anh em chết điếng. Hễ đi ngủ là em cứ mơ thấy một con ma
nanh vuốt trắng ởn lởn vởn quanh người anh. Em phải bí mật tìm thầy nhờ trừ ma
cho anh.
Càng về khuya Tư Thắng càng nghe một nỗi
muộn phiền dâng ngập lòng mà không hiểu vì cớ gì. Công việc đang trôi chảy càng
là vấn đề để anh vui mới phải. Vậy tại sao anh lại buồn đến thế này?
Tư thắng rời giường bước đến bên cửa sổ
nhìn mông lung ra màn đêm: anh đang thương nhớ ai? Hốt nhiên một hình ảnh đập
vào mắt khiến Tư Thắng bủn rủn cả người:
… Chiếc
bóng quắt queo như cành khô rã mục lãng đãng bên mô đất cách chỗ anh khá xa
phát ra những tiếng khóc nỉ non khiến người nghe thấy lạnh xương sống. Tiếng
khóc ấy tựa như tiếng gió luồn qua khe vách dài: áo não, u uẩn, ai oán tưởng
chừng xoi thủng óc.
Lẽ nào đấy lại là tiếng khóc của Mỵ Hoa?
Tư Thắng có cảm tưởng như bị ai đó rứt bỏ trái tim ra khỏi lồng ngực. Người
ngồi khóc đó không ai khác chính là Mỵ Hoa. Anh không hiểu cơn cớ gì khiến nàng
nên nông nỗi này. Anh không khỏi thương cảm tự hỏi: nàng yêu anh đến độ mới vừa
hờ hững vài tháng mà nàng tàn tạ đến thế ru?
Tư Thắng bỗng thấy mình có lỗi với nàng.
Mấy tháng vui thú ái ân với nàng chưa tròn đầy viên mãn nhưng sức anh gần như
cạn kiệt. Không có người vợ hừng hực chắc anh đổ gục trong cuộc tình với Mỵ
Hoa. Anh chưa thấy người đàn bà nào mê hoặc kinh khủng như nàng. Thế mà bây
giờ,...
Tư Thắng trào nước mắt bỗng thèm muốn ôm
ghì lấy nàng mà chở che và chiếm đọat. Chị vợ đang nằm trên giường lúc này sao
mà đáng ghét. Tư Thắng muốn bỏ chị ta nằm đó và đi cùng Mỵ Hoa đến ngôi nhà
vắng. Không kiềm chế nỗi, anh nhào đến...
Mỵ Hoa cười khanh khách:
- Ta
tiếc cho mi đấy! Thằng bạc tình phúc phận quá sâu dày. Ta tưởng sẽ dành mi mãi
mãi cho riêng ta nhưng giờ thì hỏng cả rồi. Lần nữa ta lại bị trấn bùa. Chính
thầy cúng làng ta nhận tiền của mi và ba tháng mười ngày đã hoàn tất việc đó.
Thôi, ly biệt từ đây, đã đến lúc ta trở về với lòng đất sâu.
Tư Thắng ôm đầu rú lên:
- Mỵ
Hoa! Mỵ Hoa!...
Lúc này thì chị vợ Tư Thắng tỉnh dậy và
rất nhiều người khác kéo đến vây quanh anh ta và họ có vẻ hiểu rằng anh vừa gặp
ma.
Tư Thắng nhìn mọi người mãi mới nói được:
- Cô
bạn gái Mỵ Hoa đấy mà. Cô ấy còn trẻ nên nghĩ ra lắm trò trẻ con để quấy phá Tư
Thắng này. Thấy mọi người đến cô ta bỏ đi rồi.
Kiều nhìn Tư Thắng như không tin nổi những
lời anh nói:
- Anh
nói cái gì? Mỵ Hoa nào? Khắp trang trại đồi Tranh chẳng có cô gái nào tên là Mỵ
Hoa. Nhưng em biết có một cô tên gọi Mỵ Hoa chính là cô nàng diễn viên nghiệp
dư đóng vai sơn nữ H’roi. Cô ta chết đã lâu và thường hay hiện hồn về dụ dỗ đàn
ông vui thú ái ân.
Hôm sau Tư Thắng cùng cô em gái lên ngôi
nhà của Mỵ Hoa nằm khuất trên sườn núi. Đây là lần đầu tiên anh đến chỗ cô nàng
vào ban ngày. Dưới thanh thiên bạch nhật, cảnh vật dường như khác lạ hoàn toàn
với những gì anh vẫn thấy vào những đêm tình tự. Con đường như được thu ngắn và
một bức tường thời gian vô hình chắn giữa anh và cảnh vật nơi này. Tìm mãi anh
ta chẳng thấy nhà nàng đâu. Giữa lúc mệt mỏi tính quay về thì một ngôi mộ lớn
được xây bằng gạch Chàm nằm lẻ loi đập vào mắt khiến Tư Thắng chú ý.
Hai anh em bước lại bên mộ. Tư Thắng chẳng
thấy thứ gì quen thuộc ở đây ngòai trừ tên cô gái khắc trên bia mộ là Mỵ Hoa.
Bên cạnh vách bia đá, một giỏ đồ nữ trang vương vãi lăn lóc. Tư Thắng nhận ra
đó là quà tặng anh dành riêng cho người yêu đêm nào. Những mảnh gương vỡ phản
chiếu ánh mặt trời sáng lấp lánh khiến Tư Thắng nhớ đến chiếc gương soi mà Mỵ
Hoa đập vỡ. Anh lấy tay che mặt như thể bị chói mắt. Kiều nhìn anh bằng tất cả
nỗi thấu hiểu. Cô chỉ ước sao Tư Thắng quên chuyện tình này sớm chừng nào hay
chừng nấy.
Notes:
(*)
H’roi (người Hời), ngày nay còn gọi hoặc viết là Chăm H’roi.
LTT
Đ/C: lê thu thùy, tổ 4, thôn vân quật, xã duy thành, huyện duy xuyên tỉnh quàng nam