Lưu trữ Blog

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

TẬP TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ THU THÙY


TẬP TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC
                  TÁC GIẢ: LÊ THU THÙY
                         
1. NHỮNG DẤU CHÂN MỜ XA
                                       
Ký ức như mũi dao nhất là những khi nhìn vào tấm ảnh trên bàn thờ người chồng đầu quá cố, tôi như thấy một bàn tay vô hình rạch từng nhát giải phẫu những ung nhọt trong lòng mình. Nghĩ về người mình yêu bỗng nhiên tôi hiểu là mình đã không còn một ý niệm nào về cuộc tình với Biền khi đi qua tuổi bốn mươi. Tình yêu mà đứa con trai nhỏ mong đợi ở tôi là cái người nó gọi là cha sẽ mãi là chồng tôi, thế nhưng đó là sự đổi dạ thay lòng mà mọi ảo tưởng về đức hạnh và lòng thủy chung của bản thân và ngụy tạo đều không đủ để tôi biện hộ cho mình. Một bài thơ Biền viết cho vợ sau li hôn có câu “anh yêu em! Anh làm thơ ca ngợi sắc đẹp trời cho hơ hớ!..(*)bạn bè anh đều khen đây là câu thơ hay nhất trong nền thơ ca hậu hiện đại Việt Nam. Khen câu thơ của anh như thế khác nào chửi tôi.
Sự phản bội bắt đầu từ khi tôi thèm khát được nằm trong lòng người đàn ông không phải là Biền trong đêm chàng bị kẹt ở miền Trung vì ngoài ấy bão lớn. Chàng đã hẹn là sẽ về kịp trong ngày sinh nhật vợ. Tôi chuẩn bị cho bữa tiệc sinh nhật khá đơn sơ nhưng không thiếu rượu và hoa. Ngày hôm đó trời mưa tầm tã. Sài Gòn có giông ở vài nơi. Mười giờ đêm gió mỗi lúc một to. Bão tận miền Trung không làm mất không khí ngày sinh nhật. Khi người bạn gái thân nhất dứt khoát không cho phép Tiến đưa về anh ta sa sầm làm tôi thấy tội nghiệp. Bàn tiệc thiu dần. Tiến ở lại với tôi đêm đó. Gần mười giờ đêm Biền gọi từ Đà Nẵng vào cho biết máy bay không cất cánh nổi vì bão quá to. Đường dây điện thoại bị đứt gần một ngày mới được nối lại. Nhà của mẹ anh ở quê bị bão tố tốc mái. Đường sá cây cối đổ ngổn ngang, hàng chục vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Chàng phải ra biển quay phim vì có tàu đắm. Bạn bè ở các đài truyền hình khắp miền Trung đều lao vào công việc. Chậm nhất là 3 ngày nữa chàng sẽ về tới nhà. Chàng hết tiền phải mua vé bay giá rẻ nên về hơi muộn. Chàng mong tôi đừng lo lắng nhiều.
Tôi nghe điện thoại của Biền khi Tiến đến ngồi bên cạnh. Sấm sét rền vang bầu trời thành phố. Hơi thở đượm mùi rượu của người đàn ông không phải là chồng trong đêm mưa gió và người chồng đang kẹt trong cơn bão làm tôi quay quắt. Nhưng điều đó không đến quá nhanh. Con trai tôi đang ngủ trong phòng. Tiến kêu “buồn lắm!” và hỏi tôi muốn gì không? Tôi đang muốn xem một bộ phim sex nhưng trả lời Tiến là muốn có thật nhiều tiền. Tôi thích được cùng Biền chu du khắp Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc. Khắp Việt Nam này tỉnh thành nào cũng in dấu chân Biền. Chàng đi nhiều bao nhiêu lòng tôi càng trống trải bấy nhiêu. Lần đó, Tiến lấp vào chỗ trống trong lòng tôi giữa cơn bão ngoài quê. 
Lưỡi dao vô hình cứ khoét mãi vào hồi ức yêu đương khiến tôi day dứt. Nhiều lần gục trên ngực Tiến nhưng tôi lại như thấy Biền ôm tôi trong tay, giọng Biền nồng nàn:
-        Anh chỉ muốn em là duy nhất của anh. Mình nghèo quá! Anh hối tiếc suốt đời đã không đưa em về quê sống. Anh chỉ là một con thiêu thân giữa đất Sài Gòn này.
          Tôi nhìn làn da nâu tái của chàng. Gương mặt chàng sạm đi và ánh mắt càng trầm mặc. Lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau khi Biền đang tìm người để chọn vào một vai diễn trong bộ phim của một việt kiều đạo diễn mà Biền là trợ lý. Hôm đó tôi đến thử vai khi xem thông báo tuyển dụng. Biền nhìn tôi thật lâu. Ngay giây phút ấy tôi nghe lòng mình rung động. Biền nói rất ấn tượng về quê quán của tôi. Thì ra chúng tôi cùng quê với nhau. Tôi xa quê hồi mới lên năm, nhưng ngoài quê nhà chúng tôi gần nhau lắm. Lần đó tôi quá thất vọng vì không hợp vai diễn Biền chọn. Nhưng Biền ghi số điện thoại của tôi, hẹn sẽ gọi lại.
          Ba ngày sau tôi run lên khi nghe điện thoại của Biền từ một nơi rất xa. Hai chúng tôi hẹn đi chơi với nhau vào cuối tuần. Sau một tháng tôi yêu Biền điên cuồng. Tuần nào tôi cũng đến chỗ Biền. Hễ chàng đi công tác là tôi mong đợi, tính đếm từng ngày. Lần nào tôi cũng tiễn đưa và ra sân bay đón chàng trở về trong mối ngờ vực vì không khỏi xót xa, tủi hờn khi nghĩ rằng chàng biết tôi yêu chàng nên sẽ lợi dụng tình cảm này.
 Anh ruột tôi có lần bảo Biền nhìn vậy chứ không có tiền. Làm phim với anh chàng đạo diễn việt kiều Pháp nhưng thù lao, lương bổng chẳng bao nhiêu. Hơn nữa, bộ phim thành công hay thất bại thì anh chàng đạo diễn cũng quay lại Pháp. Sớm muộn Biền cũng bị anh ta bỏ rơi.
Tôi bỏ ngoài tai những điều ông anh ruột nói. Biền viết gì cũng hết sức sắc sảo, thâm thúy và thông minh. Những người tài như Biền ở đâu không cần. Tôi biết anh trai tôi lo lắng khi tôi yêu một người đàn ông mà sự nghiệp bấp bênh thì hôn nhân sẽ trên bờ vực thẳm. Nhưng ngay anh ruột tôi cũng chấp nhận Biền, anh còn biết rõ một người bạn giàu có của anh là Tiến cũng muốn cưới tôi. Anh còn cười với Biền rằng phụ nữ đẹp ai không yêu say đắm!

Ngày trước, tôi luôn hãnh diện Tiến yêu tôi đến mù quáng cho dù tôi đang là vợ Biền và tôi quá sức thỏa mãn bởi tình yêu của anh ta. Tôi có con với Biền anh ta cũng không một chút hờn ghen.
          Về sau Tiến lý sự tỉnh queo: “Em không yêu anh thì đã không gian díu và dám bỏ tất cả để làm vợ anh! Yêu đơn giản thôi. Em về sống với anh, vì yêu em, anh tha thứ tất cả!”
          Anh ruột tôi cười vào mũi Tiến:
-        Ông đã dẫn truyền vào lòng Trang một thứ gì năng lượng gì đó gây ra những xung năng, xung động tính dục thì phải!
          Tiến cười ha hả:
-        Tôi không có tình nhân đâu anh ạ! Vậy nên khi tôi yêu một người phụ nữ, cô ấy không còn yêu ai tất cô ấy biết rõ tôi yêu cô ấy.
          Anh ruột tôi đã không thể nào tin Tiến không có một người tình. Còn tôi chẳng bao giờ xấu hổ mình là một mụ đàn bà đa đoan, có đến mấy chồng. Tôi yêu Biền và điều đó làm tôi mơ hồ nhận ra mình dại dột hơn đứa con trai của chúng tôi. Có một thời tôi bất chấp lời ong tiếng ve. Tôi mê man trên giường tình làm người đàn bà lăng loàn mấy năm ròng và khi tỉnh cũng như mê tôi thấy hình như có một con điên cựa quậy trong lòng. Tôi không còn là chính mình, rồi ngày càng xa cách đứa con trai nhỏ, khi con trai càng lớn thì tôi càng ít quan tâm đến nó. Có lần con trai tôi bảo rằng:
-        Tại mẹ không biết mẹ hư mới nông nổi đó!
          Biền tin chắc rồi đây con trai khôn lớn, ngày kia nó có trách nhiệm phụng dưỡng cha, còn tôi thì không biết con của mình lớn lên nó sẽ nghĩ sao về cha mẹ. Rủi thay, con trai tôi mồ côi cha quá sớm.

          Kỷ niệm cuối cùng về Biền gắn với căn phòng như chiếc hộp diêm nằm khuất trong hẻm sâu, nơi Biền đã vật vã trong những cơn đau dài và nhiều tháng liền chàng ho ra máu, tôi đã trốn Tiến đến thăm chàng. Vào một ngày nắng đẹp, Biền trông có vẻ hồng hào hơn mọi ngày, chàng đang đọc một cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk, chàng nói với tôi về thi sĩ Ka, tên nhân vật chính trong tiểu thuyết TUYẾT mà chàng đang đọc: Ka yêu một phụ nữ tuyệt sắc dẫn đến cuộc mưu hại người tình cũ của ý trung nhân và ông không bao giờ được người yêu tha thứ. Nàng không thể nào tiếp tục yêu ông như ông chờ đợi, và mối tình tuyệt vọng của Ka đẹp đến choáng ngợp Biền.
          Giọng Biền âu yếm nhưng tinh ý sẽ biết chàng đểu kinh khủng:
-        Đám tang anh em phải trang điểm thật đẹp vào và xin phép chồng em cho em đưa tiễn anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Anh lúc nào cũng muốn thấy em đẹp. Nhớ là không được khóc dù là cố tình.
          Tôi đã hứa với Biền là sẽ chiều đẹp chàng. Đó là lời hứa ngu xuẩn nhất chỉ vì tôi tưởng chàng sắp khỏi bệnh. Tôi chẳng bao giờ ngờ được là chỉ hai tháng sau cái ngày nắng đẹp đó Biền giã từ cõi đời.
          Trong đám tang tôi vô cùng mỏi mệt. Mẹ Biền áo xô trắng vật vã bên quan tài con trai. Linh cữu của Biền được đưa về an táng nơi nghĩa trang quê nhà. Có đến hàng ngàn người đưa tiễn. Tôi nhận ra một người con gái trẻ tên Hòa, chơi thân với Biền như em gái thỉnh thoảng nhìn tôi lắc đầu. Tôi đã đeo mạng che mặt nhưng cô gái vẫn chăm chăm nhìn tôi. Cô nàng cũng mắc bệnh và cứ đau đau hơn mười năm. Có lần cô vào Sài Gòn chữa bệnh, cô gọi điện thoại đến Biền hỏi vay chút ít tiền. 
Hôm đó Biền và tôi đang ăn tối cùng con trai. Biền bảo tôi:
-        Em còn tiền cho Hòa một triệu, nó đi chữa bệnh và đang cần tiền. Anh chỉ còn mấy chục ngàn, lúc nó cần mà không giúp, nhỡ vài bữa nữa nó chết mình sẽ ân hận suốt đời.
          Thế nhưng người chết không phải Hòa mà là Biền, bữa đó tôi chỉ có thể cho Hòa nửa triệu, chúng tôi mời cô dùng bữa tối. Suốt bữa ăn cô hầu như không nói gì. Biền cho biết Hòa là nhà văn. Cô nhỏ hơn anh gần mười tuổi, sống và viết ở quê nhà. Bệnh nặng mới vào Sài Gòn điều trị.
-        Bệnh gì? Tôi hỏi.
-        U não! Vừa đi du học thì bệnh phát. Phải bỏ học về Hà Nội mổ. Ca mổ thành công nhưng vẫn cứ đau nhức đầu kinh niên.
          Biền có vẻ không hài lòng Hòa vì một chọn lựa mà chàng xem là dại dột khi Hòa kết hôn rồi lại li hôn ở cái tuổi quá trẻ. Nhưng tôi và chàng chưa bao giờ sai lầm hay sao?
-        Anh không bao giờ tha thứ ai, chỉ tha thứ mình!
          Biền thường cười vậy. Biền còn bảo chồng Hòa như cái mền rách lại không thiếu đàn bà con gái mê như điếu đổ. Hòa trông cậy gì nổi ở những thằng người loại đó.

          Hai mươi tuổi tôi biết yêu, Biền là mối tình đầu của tôi. Yêu gần ba năm tôi có thai, chúng tôi ra phường đăng kí kết hôn. Tôi bỏ công việc của một diễn viên điện ảnh nghiệp dư chuyển hẳn sang nghề cắt tóc, trang điểm, chăm sóc sắc đẹp… sau khi sinh đứa con trai đầu lòng. Năm năm sau ngôi nhà của tôi trở thành một mĩ viện nhỏ. Rồi Tiến, ông khách si tình thích được tôi chăm sóc ngày nào cũng đến nhờ tôi chăm chút bề ngoài anh ta. Hồi tôi chưa chồng Tiến đeo đuổi tôi nhưng ý tứ và nhút nhát khi thấy tôi lạnh nhạt. Bây giờ thì lửa gần rơm. Tiến ngồi hoài trong tiệm của tôi và thanh toán tiền nong một cách hào phóng.
          Biền là một nhà thơ, những chuyến đi vô định, không mục đích của Biền ngày càng thường xuyên, càng dài, càng tiêu tốn. Máu giang hồ cộng với thú lãng du của chồng làm tôi tổn thương không ít. Mỗi lần Biền về hai vợ chồng lại cãi nhau. Tiền bạc của tôi và chàng làm ra không đủ chi tiêu, chàng vay đây, mượn đó. Ông đạo diễn việt kiều về Pháp, Biền đi làm phim tài liệu và viết kịch bản truyền hình quanh năm. Khi biết tôi túng thiếu, Tiến sẵn sàng giúp đỡ và tôi ngày càng nợ nần, tôi cần tiền bao nhiêu ông dễ dãi bấy nhiêu. Tôi bắt đầu mừng rơn khi Biền vác máy đi khắp chân trời, góc biển. Đêm đêm Tiến ôm ấp tôi, rồi tôi sống như vợ chồng với Tiến trong nhà mình. Biền biết chuyện chửi tôi người đàn bà không có đạo đức. Chúng tôi li dị, sức khỏe chàng trở nên thất thường.
          Tiến cưới tôi. Cuộc hôn nhân lần thứ hai đem đến cho tôi bạc tiền và sự sung mãn. Tôi đã sắm ô tô và cơ ngơi ngày càng bề thế. Sau năm năm có hơn mười cô gái phụ việc nên tôi ra hẳn một bà chủ sang trọng. Bên chồng mới, những trang thơ của Biền như xác lá trôi sông.
          Rồi con trai báo tin Biền bị bệnh lao. Khi nghe tôi hỏi chàng bất cần: “Thời buổi này ai hơi đâu để ý đến mấy cái chứng ho lao, ho gà...” và chàng chủ quan thật, nhiều bữa ho ra máu chàng vẫn ngồi với bạn bè, tào lao về những kịch bản phim chàng viết xong nhưng chưa kịp chỉnh sữa gửi nhà đài. Chàng uống, say tràn cung mây. Chàng gọi tôi. Khi chỉ có hai người trên giường, chàng bảo là chàng sắp chết.
          Tôi đã trốn Tiến tìm đến với Biền ngày càng nhiều khi chàng trở về, kiệt sức sau những chuyến đi, cùng tôi im lặng nơi căn phòng khuất nẻo. Những bài thơ của chàng càng khó đọc. Tôi yêu Biền vì trách nhiệm với đứa con chung, với một một niềm thương cảm vì ăn năn. Có lần Biền nói về thi sĩ Ka. Biền gọi tôi “em yêu!” và bảo chàng cũng như Ka, chàng đã viết những tập thơ nơi quê hương lũ cuồng và bão tố. Lời cuối cùng Biền dành cho tôi là lời yêu thương, nhưng chàng không chắc mình không tự dối lòng. Điều ghê gớm hơn tình yêu và kịch độc khổ đau là sức tàn phá của những hội chứng nơi tâm can đã giết chết chàng trai suốt đời làm việc đầy lao lực.
          Tôi còn thấy đâu đó xác một con chim trời bị bão đánh treo lơ lửng trên đường dây điện cao thế trong một bài thơ mà Hòa viết tặng hương hồn Biền làm sửng sốt người đọc: “Anh giờ như dấu chân chim giữa  trời!”.
Notes:
(*) Thơ Nguyễn Trung Bình
                             BAN MAI BÌNH YÊN
                                                                                   I
Buổi sáng Kim ngủ dậy muộn. Mấy người anh đang tán lại giấc mơ đêm qua để đánh lô đề. Tiếng bàn tán xôn xao cả nhà. Hình như có ai đó trúng độc đắc. Tiền trúng thưởng chẳng bao nhiêu với kiểu chơi cò con của dân nghèo, nhưng cái thú thành công khi giải được những điềm mộng mị tiên tri để chọn đúng con số khiến kẻ trúng thưởng  hả lòng hả dạ. Kim cười khẩy. Các ông anh vừa cay độc vừa bần tiện, ông nào cũng cắn cơm không bể cắn tiền bể tư vậy mà ngày nào cũng mất tiền đề đóm.
         
Thằng cu Ðiệp chạy vào giường lay Kim:
-       Cô út! Dậy ba con hỏi kìa! Ðêm qua cô út mơ thấy gì?
-       Ðêm qua cô út mơ thấy cháy nhà – Kim chán chường.
-       Tra bảng giải đoán điềm mộng thử coi cháy nhà sẽ ra con gì? -Tiếng chị Sáu.
-       Cháy nhà ra mặt chuột! - Tiếng ai đó Kim không nhận ra.
    Tất cả cười ầm.
         
Kim uể oải xuống dưới nhà hóng chuyện, nhiều  người tranh nhau kể về nhưng giấc mơ của mình. Tự nhiên Kim thấy buồn, cô thường ở trong trạng thái lơ mơ cả khi đang tỉnh. Nhưng những giấc mơ của Kim chẳng dính dáng gì đến những con số dành cho dân chơi đề.
Ðô hẹn sáng nay lên đưa Kim đi Mỹ Sơn. Hơn tám giờ, nắng càng lúc càng gay gắt, vẫn không thấy Đô tới. Kim tặc lưỡi: Ðô bao giờ cũng sai hẹn. Cái cách hẹn rồi quên đã thành cố tật không sửa được của Đô ban đầu còn khiến Kim hờn dỗi, sau quen dần, Kim xem chuyện ấy là bình thường. Có một điều Kim thường sợ thót tim là Ðô hay uống rượu. Ðôi khi Đô sa đà Kim phải đi tìm. Kim lo Ðô quá chén, phóng xe bừa ẩu, xảy ra tai nạn. Ðô không biết là Kim luôn lo lắng cho mình.
         
Chị Sáu thường mắng Kim:
-       Bỏ quách nó đi cho rồi. Em không gặp được thằng nào tử tế hơn sao? Ðàn ông gì rượu chè tối ngày. Thỉnh thoảng lại bỏ nhà đi hoang ở cái tuổi chẳng trẻ trung gì.
        Anh Minh thì nói không nể nang:
-       Hắn có cái gì mà mê hoặc được đứa cực kỳ khó hiểu như mày. Tao thì chỉ thấy hắn vừa già vừa xấu.
        Kim thở dài. Chẳng ai lý giải được tình yêu. Đặc biệt là thứ tình yêu tội nợ mà cô vướng vào. Kim hiểu lâu nay Kim yêu Ðô đau đớn như thế nào. Ðô không hiểu vậy. Kim biết Ðô không yêu mình. Ðô lừa dối Kim. Ðô cặp bồ với Kim và nói với bạn bè anh ta muốn có cô để trình diện với đám đông. Kim đã thử bứt mình ra khỏi Ðô. Một lần, hai lần, ba lần.... mười lần và Kim không đủ sức. Có một thứ ma quái như vực xoáy nơi Đô cứ hút Kim.
         
Nghĩ đến người đàn bà Ðô yêu hơn mười năm nay Kim rủa thầm: "Ðồ rắn độc!". Kim không biết Ðô còn nô lệ quá khứ đến bao giờ? Ðô hay hát: "Em giờ đã hai con rồi đó!" Kim nhức nhối. Hai con rồi. Ðô vẫn chờ chị ta li dị anh chồng tội nghiệp và quay lại với mình. Vẫn chờ gia đình chị ta nát bét ra để rồi xuất hiện minh chứng tình yêu và lòng độ lượng.
        Kim nhớ về những ngày bỏ Huế ra đi. Nỗi thất vọng giảng đường và tình yêu khuấy mãi không thành khối, cứ đẩy cô xa dần những dự tưởng êm đềm. Thịnh giờ chắc con bế con bồng! Hồi ấy Kim và Thịnh cũng mến nhau. Mối tình đầu chẳng để lại cho Kim chút kỷ niệm gì ngay cả nụ hôn. "Mình thế nào ấy!" - Kim tự nhủ thầm. "Mình luôn sống trong trạng thái mê sảng".
        Mấy năm trước, mỗi lần đến sinh nhật Kim thường nhận được điện thoại của Thịnh. Cũng có khi cô không hề nhớ ngày mình sinh, chỉ khi nhận được một thư thăm hỏi, một cánh thiệp mừng cô mới thầm cám ơn sự quan tâm của những người từng thân quen. Kim dành riêng nỗi buồn cho mối tình với Thịnh. “Có phải vì nghèo mà người con trai ấy chạy trốn mình không? Hay ở mình còn có gì đó quá khác lạ đối với chàng?”. 
Có một lần Kim tổ chức sinh nhật linh đình, ấy là năm Kim và Dũng chia tay nhau, cũng là năm Kim làm lễ ra trường. Kim chia sẽ với Dũng dự định xuất ngoại học tiếp lấy bằng thạc sĩ. Dũng yêu Kim, suốt ngày anh quấn bên cô. Bạn bè ai cũng ủng hộ họ. Kim cũng rất muốn yêu Dũng. "Anh ấy tốt!". Ðêm đêm đi chơi với Dũng về Kim vùi mặt vào trong chăn. Kim viết những bài thơ về Dũng. Kim tưởng tượng ra Dũng bên cạnh và nói với anh những lời yêu thương. Thế nhưng Kim và Dũng tự nhiên bật ra, chẳng đến đâu hết. Lý do một phần từ sự xuất hiện của Ðô. Gã đàn ông lọc lõi và rất biết cách khoác cho các cô gái mới lớn, tâm hồn trong sáng cái ảo tưởng mình là một nữ thánh và hắn, kẻ nửa đời sương gió ngang tàng bất chợt mềm lòng bởi vẻ ngây thơ thánh thiện ở người đẹp có gì mà cô phải thương hại, tội nghiệp?
Khi gặp lại Dũng, Kim day dứt. Chỉ một tháng nghỉ hè cô đã ngã lòng trước một con người mà Dũng chẳng thể nào hiểu được mới quen biết cô vội yêu. Cô và Dũng chơi với nhau hàng chục năm. Họ chưa qua tuổi sinh viên và đều trắng tay nên vẫn đùa chưa đủ khí trời. Phải chi với Đô cô cũng biết sợ như với Dũng. Nhiều lần cô mạo hiểm đến ngôi nhà trọ của anh. Kim đứng rất lâu dưới chân cầu thang. Bên khung cửa sổ Dũng cắm cúi gạch gạch, vẽ vẽ. Kim biết chỉ ngước lên là Dũng sẽ thấy cô. Dũng sẽ chạy ra đón. Mãi mãi trong Dũng, Kim là một thiếu nữ mù quáng.
         
Đô viết cho Kim những dòng thư đầy ắp yêu thương. Cô ngủ vùi trong đó, và rồi một ngày đọc nhật ký Ðô, Kim biết rằng những dòng ấy Ðô từng viết cho người yêu cũ. Từ ngày chị ta lấy chồng, Ðô không gởi những dòng ấy đi. Ðô sợ anh chồng đọc được những bức thư, biết được chuyện vợ vẫn vụng trộm dan díu với người tình, sẽ đánh vợ.
        Sao Dũng không viết gì cho mình nhỉ? Kim tự hỏi. “Rồi Dũng sẽ yêu người con gái khác. Mình không bao giờ sánh vai, hạnh phúc được”. Bao giờ với Dũng, Kim cũng thật dịu dàng. “Nếu quá khứ hồi sinh, em sẽ yêu một mình anh”. Kim mơ màng.
 
Kim nghe tiếng thằng Ðiệp líu lo:
-        Ðêm kia con nằm mơ thấy má. Có vẻ như má bảo con đánh con số năm sáu và đánh thật lớn vào, trúng độc đắc, có tiền tiếp tục học hành lên cao.
 -      Mày chỉ giỏi  bịa chuyện!
         
Kim nghe tiếng anh Minh cự thằng Ðiệp. Cô lắc đầu: lại số đề! Trong cái xóm điên đảo này, thú chơi đề không chỉ là trò cờ bạc mà nó như một sự tiêu kiển, ai cũng biết dựa trên điềm mộng để cầu may.   Có nhiều lời đồn đại về những đồng cô, bóng cậu, mọi người đổ xô đến xin số đánh đề,xin tài, xin lộc. Có lần Kim cũng lui tới cô đồng, dù Kim là trí thức hẳn hoi. Cô đồng phán bảo hồn vía Kim to, nếu không cô đã chết về tay tình nhân, Kim không mơ thấy gì thì thôi, đã mơ, thường linh ứng.
Nhiều người hay tìm hỏi cô đồng về những giấc mơ của bản thân họ. Kim thấy khó thở trước mỗi giấc mơ thường trực. Giá như cô thổ lộ được với ai đó những gì cô trải nghiệm trong mơ.
        Ðêm qua giữa giấc ngủ nặng nề của Kim hắn đến – cái giấc mơ quái gở kia - Hắn đưa Kim qua dãy sương mù. Trong bộ y phục màu đen như che phủ kín đất trời, một bóng đàn ông toát ra một thứ uy quyền đáng sợ mà Kim vốn là một người không dễ khuất phục vẫn run rẩy. Gã là quỉ sứ hay thần chết hoặc là gì đi nữa gã cũng hắc ám đến thế thôi. Có lần Kim tìm đến cái chết, chuyện này xảy ra cũng đã lâu rồi. Có một thời kỳ lúc nào Kim cũng thèm chết, sự bế tắt trước cuộc sống, gia đình như nhà tù khiến Kim thấy cái chết như một lời gọi. Thế nhưng trước cái chết của anh bạn thân Kim thấy mình cần phải vượt qua mọi cám dỗ chọn cái chết làm lời trần tình cho kiếp người khốn khổ, khốn nạn.
Kim chờ đợi phép mầu đến với cô. Sự bất tử chỉ dành cho thiểu số có những quyền năng tối thượng. Thấu đáo tất cả không gian thời gian vô tận, vượt ra ngoài thế giới hữu hạn và tương đối này. Làm sao Kim có thể sống làm nên một việc gì thật kỳ diệu? Thế nhưng Kim khao khát.
         
Một người bạn cũ viết thư khuyên Kim sống bình thường thôi. Khuyên Kim không nên nhấm nháp nỗi “buồn-muôn-thuở”. Anh ta gọi tình yêu của Kim bằng cái tên như vậy. Kim đã trải nghiệm những xót xa, niềm day dứt, thương đau, oan trái, hận sầu, cay đắng, thậm chí thù hận. Cuối cùng Kim thấy mình quá cô đơn. Rồi cô yêu sự cô đơn dù cô chưa biết tận dụng hoàn cảnh ấy để học những điều bình thường. Quá nhiều thứ quái đản vây bủa Kim.
         
Chuỗi ngày dài phiền muộn vì không tìm thấy lối thoát. Ðiệp khúc vấn nạn vang lên trong cả giấc ngủ. "Ði về đâu?". Kim bức bối: Tình yêu, học vấn, giáo điều, nợ nần, gia đình... như xiềng xích. Khi Kim mơ thấy cái bóng hắc ám đưa Kim đến dòng sông. Bên kia là bờ bến khác, có thể là miền đất hứa trong tâm linh mà cô hướng vọng. Lẽ nào Kim được an toàn chốn đó. Có một cuốn sách cô đọc lâu lắm rồi, hé lộ một nơi dành cho những người suốt đời làm điều thiện. Kim từng phạm nhiều sai lầm, nghiêm trọng và không nghiêm trọng, điều thiện cô cũng từng làm, nó như một thử thách hơn là hành vi tự nguyện.
Kim tin có địa ngục như thể cô từ đó thoát ra. Cái bóng hắc ám đã nói với Kim là cô không đáng bị giam cầm trong đó. Những vật vã đớn đau hướng về một đời sống khác tốt đẹp hơn dù còn hết sức mù mờ nhưng cũng có một ý nghĩa tự cứu rỗi. Kim đọc đâu đó mớ kiến thức chốn học đường có một điều mà một nhà khoa học lớn phát biểu như một mặc khải rằng: chết là một trạng thái khác của sự sống, chính xác là một dạng phôi thai của sự sống.

        Kim bắt đầu hình dung về đôi mắt bí ẩn, nhiều năm nay đôi mắt ấy dõi theo Kim. Ban đầu cô không để ý. Rồi cô thấy nó ở mọi nơi mọi lúc. Cô giam mình trong phòng kín để sống riêng với đôi mắt ấy, cô soi bóng vào đôi mắt và thấy mình từ chân tơ đến kẽ tóc. Rất nhiều khi đôi mắt chiếu vào Kim tia sáng lạnh lùng nghiêm khắc. Nhất là khi Kim làm những việc Kim không thích mà cô cũng cứ làm. Còn thì cô luôn thấy đôi mắt nhìn cô bao dung từ ái.
        Sáng nay Kim ôn lại toàn bộ giấc mơ đêm qua với những băn khoăn. Kim lại thấy đôi mắt soi chiếu. Cô mỉm cười viết:
    "Mắt người xưa.
    Hằng đêm về xua tan cơn ám muội
    Hằng đêm ta thầm hôn mắt sao trời..."

         
Trong một ban mai tinh khôi, ngọn gió hiền hòa mang những lời ca từ phương trời xa xôi thổi an lành qua muôn nẻo. Kim nghe những giai điệu vang ngân giữa không gian bao la. Bầu trời xanh trong, lồng lộng. Những khúc nhạc huyền hoặc rót vào Kim.
Ðô đến đưa Kim đi chơi Mỹ Sơn. Thấy vẻ ngây ngất của Kim, Anh ta nhìn cô và buông một câu:
-       Hôm nay trông em thật lạ lùng!
        Kim không biết Ðô khen hay chê mình. Cô thấy mình lạnh nhạt với Ðô hẳn, Kim chìm trong những hợp âm từ cây đàn vô hình. Kim biết giữa đôi mắt bí ẩn và tiếng nhạc huyền hoặc kia có sự đồng nhất.
         
Ðô lái xe đưa Kim qua những con đường quen thuộc. Anh ta đang công tác tại một phòng văn hoá. Cứ đến Lễ hội di sản thường niên là sốt sắng tham gia.
 Kim quan sát quê hương trong một cảm tình máu mủ. Những kỷ niệm thời thơ ấu ùa về. Kim nghe tiếng gọi của nhân vật Thiên YA – Na trong vở kịch "Tình sử thiên YA - NA" .
"Thời gian ơi! Thời gian ơi! Thời gian ơi!".
Thời gian như dòng sữa rót vào lòng cô, mà Thiên YA – Na - thần tượng thời thơ ấu của Kim đang về với cô trên con đường nhỏ.
-       Thời gian ơi! - Kim hét vang.
    Ðô dừng xe lại:
-        Em làm sao vậy?
    Kim im lặng.
    Ðô rồ máy và buông một câu cục cằn: "Ðồ khùng!".
Xe đến Trà Kiệu. Ngôi nhà thơ Thiên Chúa giáo uy nghi đã thay thế một kinh thành tráng lệ của ngàn năm trước. Kim muốn ghé vào nhưng Đô càu nhàu rằng anh ta vào đó hoài.
Kim lẩm bẩm:
-       Có thể tiền kiếp ta đã sống buổi hoàng kim của kinh đô sư tử.
-       Có thể! - Ðô phụ hoạ.
-       Lúc này đây ta đinh ninh mình là hậu thân của công chúa Champa. Ta từng gặp Thiên YA - NA thánh mẫu - Người là Thủy thổ, tạo dựng nên vương quốc Champa.
-       Còn ta là thần vương Bhađresvana. Gốc rễ của vương quyền. Nghe có nhảm không?
         
Ðô cũng sôi nổi góp chuyện.
-       Không ngờ chúng ta tha hoá đến mức này - Kim vui vẻ - Có khi kiếp sau chúng ta thành những khỉ Hanuman.
-       Coi chừng thành thật đấy cô nương, ai mà biết được trong một kiếp xưa kia tôi không từng đùa cợt kiếp sau mình làm một quỷ Ravana.
 Ðô trầm ngâm.
Xe vào Thánh địa Mỹ Sơn. Từ ngàn xưa nơi đây là địa điểm hành hương thiêng liêng của hàng chục triều đại và hàng triệu con người. Mỹ Sơn là nơi thờ phụng vị Vương thần Bhađresvana. Tín ngưỡng chính của vương triều Champa là thờ tự thần - vua và các thần linh bảo hộ vương quốc cũng như vương quyền. Dân tộc Champa đã mất tên trên bản đồ thế giới, giờ đây chỉ còn rơi rớt lại các di tích mà Mỹ Sơn là điển hình.
        Ðối diện với những tàn tích của thời gian trước bao thăng trầm thế sự một nỗi niềm trắc ẩn bóp chặt Kim. Tim cô đau thắt, tưởng như có vô số bàn tay xúc chạm vào lòng. Cô định nói một điều gì đó với Ðô thì bất chợt đôi mắt bí ẩn hiện ra.
-       Em giống như một người ngoại tình vậy! - Ðô nhìn Kim ngờ vực. Kim ngắm đôi mắt ở vị trí trực diện nhất. Dường như cô quên hết thực tại vì mối giao cảm huyền bí.
Ðô thấy Kim không phản ứng gì trước câu nói của mình. Ðô bực tức, anh ta chọc cho Kim ghen:
-       Anh nhớ Phượng ghê! Phải chi bên anh lúc này là Phượng thay vì em.
         
Kim im lặng. Phượng là tên người đàn bà tình địch. Đô bảo Đô yêu Phượng đời đời. Không là vợ chồng kiếp này thì kiếp sau. Kim đã từng ghen đến điên dại và xâu xé Đô không thôi vì những quan hệ lằng nhằng lâu nay của họ.
Ðô cười trừ:
-       Em say đắm một thằng cha nào rồi phải không? Cái ánh mắt và thái độ của cô tự tố cáo tất cả.
-        Ðể tôi yên - Kim chau mày – Lúc nào cũng Phượng. Anh cứ đến chỗ người đàn bà kia mà ăn mày tình yêu.
        Kim định nói thêm nhưng trong giây lát Kim dường như thấy đôi bí ẩn mắt cau lại và ngoảnh đi hướng khác. Kim hoảng hốt. Một kết nối vô hình đang hình thành nhưng mong manh. Ðô tưởng Kim buồn mình nên kéo cô vào lòng và nói những lời yêu đương vừa máy móc, vừa rỗng tuếch. Kim lắc đầu. Đô hiểu lầm Kim ghen khi nghe anh ta nhắc đến Phượng. Đô lại nói một thôi một hồi nào là Phượng có chồng, nào là Kim đủ cho anh ta. Trong anh ta, Kim không thừa, không thiếu. Chưa bao giờ Kim thấy Đô vô duyên như lúc này. Suốt hàng giờ Kim trầm tư về thứ ánh sáng khởi phát thiêng liêng.
        Tại sao Kim không nhận ra đôi mắt ấy sớm hơn nhỉ? Đó là hồi quang của Thiên YA - NA. Con người siêu phàm ấy từ bỏ trần gian mấy ngàn năm trước nhưng đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi. Toàn thân Kim chấn động khi khám phá ra điều này.
-       Em không còn yêu anh nữa phải không? - Ðô hỏi Kim trên đường về. Một vẻ hằn học làm cho khuôn mặt Đô gần như biến dạng.
-       Anh đủ nhạy cảm để nhận ra điều đó - Kim đáp.
-       Ðừng bảo anh dọa - Ðô nóng nẩy - Anh sẽ giết chết em và giết cả thằng cha kia, em đợi đấy.
        Kim thấy Ðô thật thảm hại khi tưởng tượng cô có một người đàn ông khác. Anh ta đã mất cô thật sự. Khi anh ta nhận ra anh ta yêu Kim thì quá muộn rồi. Kim không thể tôn thờ Ðô. Kim tôn thờ con người bất tử ấy: Kim tin vào sự thần kỳ cảm ứng. Kim tin Thiên YA - NA Thánh Mẫu tái sinh vào đất đai, địa vật, cỏ cây, con người và sống mãi cùng non sông. Kim đã tìm thấy và gắn bó với hiện thân của Người.

NGÔI NHÀ TRONG MƠ
                                            
Tôi được giới thiệu họ là hai thầy trò, cô gái sống dưới ngôi chùa Bảo An nhiều năm và có ý định xuất gia. Sau này cô bảo thật ra đó là ý định vô cùng rồ dại, Cô không có vẻ gì là một ni cô cả, theo một số bạn bè cho biết, cô thường mộng du đi trên bờ rào mắt lưới vào những đêm khuya trăng sáng. Cô thường đi chơi đêm về muộn với một đám thanh niên, họ xem cô như người cùng phái, cô cũng xử sự như một thằng con trai. Cô sống với những dự năng kỳ lạ và bảo cần phải tỏ ra cóc cần đời để có thể tồn tại mà không phát  điên. Cô thường mơ thấy mình là một nữ hoàng ngự trị một quốc gia hùng cường, vì thế thường trực trong cô là trạng thái thẫn thờ tiếc nuối vương quốc bị đánh mất của mình và cô cứ thao thức với khát vọng tìm kiếm, một lần cô kể cô đã tìm lại đựợc ngôi nhà cũ không phải trong mơ mà chính trong trạng thái trầm tư. Nó hiện ra trong khoảnh khắc nhưng dường như vĩnh cữu. Tôi nghĩ đấy là một linh ảnh.
Nhà sư lo lắng cho trạng thái tinh thần cô gái. Trụ trì chùa Bảo An đã mấy mươi năm, ông học nhiều biết rộng và là con người vô cùng khả kính, ai có niềm lo lắng, ưu tư tìm đến gặp ông khi ra về đều cảm thấy tâm hồn vô cùng thư thái, mọi ưu tư đều được giải toả.
Cách đây mấy mươi năm, một người đàn bà mang đến trao cho ông một đứa bé gái, ông đặt tên nó là Phượng Ly. Cô không có kỷ niệm nào trước lúc vào sống trong chùa, nhưng cô tự biết mình là trẻ mồ côi, dù cô cũng biết mẹ mình đang sống với người đàn ông cùng những đứa em khác cha với cô. Bà lem luốt tất bật mưu sinh.
Nhà sư dành cho cô một tình yêu thương nhiều khi làm cô khó chịu. Vốn nhạy cảm cô cho rằng ông bệnh hoạn, từ lúc cô bắt đầu lớn, cô làm cho nhà sư đau khổ nhiều hơn, cô lẩn tránh sự chăm sóc của ông,  và hay nói những lời cay nghiệt để dày vò ông.
Xin kể thêm từ nhỏ cô đã bộc lộ nhiều thiên tư của một thần đồng, cô làu thông kinh sách và thường hào hứng tranh luận, đối chất với nhà sư. Cô ngỡ nhà sư kỳ vọng nhiều ở mình, nhưng thật ra ông bị ám ảnh bởi lời tiên tri cũa một chiêm tinh gia: cô gái này về sau sẽ tổn đức.
Tôi quen biết cô trong một dịp lễ hội. Khi tôi mang đến tặng cô mấy bông hoa, cô lơ đãng bóp nát và ném vào tôi tiếng cười khó hiểu:
-         Đàn bà yêu hoa có thể ví như đàn ông yêu gái. Anh có yêu hoa?
Tôi ngạc nhiên:
-         Không. Nhưng anh tưởng em yêu hoa như mọi cô gái khác, được ai tặng hoa thì các nàng vô cùng thích thú. Yêu hoa là yêu cuộc sống mà.
-          Em không yêu cuộc sống, nhiều khi em có cảm giác mình chưa từng sống nữa.
Tôi quan tâm cô từ đấy, cô như bóng dáng tôi thời trẻ: Cô đơn, khắc khoải lại kiêu bạc.
Phượng ly đến học trường này do một thôi thúc định mệnh nào đó, cô không lý giải nổi hành động của mình khi đột ngột bỏ ngang Học Viện Phật Giáo và vào trường đại học khác mà cô thừa biết nó không hứa hẹn một điều gì tốt đẹp. Có lần cô đùa rằng, cô sống không chủ đích, mặc cho số phận ném mình đi đâu mà nó muốn.
*
Thầy Hạnh Quang ngồi đối diện với Phượng Ly, nhìn sâu vào mắt cô, nói giọng trầm đục:
-         Tại sao lại đến nông nỗi ấy? Con định bỏ dở khoá học này hẳn sao? Chắc không phải do anh chàng trẻ tuổi nào đó chứ?
-         Bạch thầy không ạ! Cô cúi đầu che dấu ánh mắt của mình - Dường như tất cả đều chống lại ý muốn của con. Con muốn tu hành nhưng mọi cái ở thầy quá xa xôi. Con biết ý nghĩ của con là phạm thượng. Con đã đọc thông nhiều bản kinh, ngay như bản kinh Kim Cang được xem là gươm báu chặt đứt phiền não cũng không giúp con dứt được ưu phiền.
Phượng Ly thừa biết thầy mình cũng thế. Phía trên bờ môi phảng phất nụ cười từ tốn điềm nhiên là vầng trán váng vất đám mây muộn phiền vô hạn bởi nhiều lý do chỉ cô biết mà cũng chỉ cảm thấy mơ hồ thôi.
Mấy năm nay cô rời chùa tuy vẫn duy trì chuỗi ngày trường chay. Nhà sư khá buồn và không chờ đợi cô quay về. Thế rồi một lần Phượng Ly cung kính:
-         Bạch thầy, con muốn xuất gia. Ba năm qua cuộc sống với con là cả địa ngục.
-         Con nghĩ vào chùa con sẽ tìm thấy Niết Bàn ư? – nhà sư cười chua chát.
-         Tất cả những hy vọng về một chân trời khác lạ, một thế giới tốt đẹp trong con đều sụp đổ. Ngay nơi Phật đường, mọi lễ nghĩa đều được tính toán sòng phẳng, nó nguỵ trang dưới mọi hình thức, nhưng vẫn ổn hơn bất kì nơi nào.
-         Thầy biết. Không phải ai cũng hiểu được như con. Ngay như trong con tốt - xấu - thiện – ác đều không rạch ròi.
-         Thầy không biết hết đâu. Con là một đạo hạnh nhưng mọi tạp niệm thế tục bên ngoài thổi vào chùa này làm con thay đổi. Đúng vậy, giá thầy đừng cho con tiếp xúc với đời sống thế tục, thầy cách ly con. Từ lâu con đã nổi loạn, con ngấm ngầm chống lại thầy. Con không tin vào sức tác động lớn lao ở những điều thầy thuyết giảng. Con không thích lễ lạt hay vô số nghi thức khác mà nhà chùa đặt ra. Tuy nhiên, bây giờ con đã về. Con sẽ làm người xuất gia, nguyện giữ đúng giới luật nhà chùa. Con xin thầy dung nạp con, thử thách con. Ở ngoài kia một khi con ngã không có ai nâng con dậy mà sức con thì có hạn. Thầy biết rồi đấy, con dễ tự sát lắm.
Nhà sư tư lự:
-         Ngã và đứng dậy, đòn ấy ta quen hơn con, còn con là phận gái. Ta sợ con không chịu nổi lâu dài nỗi khổ hạnh của đời tu hành. Con chạy trốn nơi nào cũng không dứt được khổ đau đâu.
-         Thế thầy khuyên con thế nào?
-         Con đi đi, học tiếp những gì cần học. Bao giờ gặp bất trắc, hãy báo ta.
-         Tại sao thầy không thu nhận con lúc này?- Phượng Ly thắc thỏm hỏi.
-         Vì con không có đức tin! - Thầy Hạnh Quang lúng túng.
-         Thế thầy có đức tin không? - Phượng Ly mai mỉa.
-         Ta thì có đấy! – Nhà sư lẩm bẩm quay đi.
*
Phượng Ly sống không xa nhà sư bao nhiêu. Cô vẫn trao đổi thư từ với thầy. Càng ngày cô càng thấy ra những mâu thuẩn và nguỵ biện trong những bài thuyết giàng của thầy. Trong khi đó ông theo dõi từng hành vi tâm lý của cô và ông hốt hoảng thật sự khi thấy cô tàn nhẫn với bản thân. Ông tuyệt vọng nhìn cô bước đi trên một đống đổ nát: luân lý, giáo điều, tri thức, đạo đức, dục vọng, niềm tin,... Cô đập phá tan hoang tất cả nền tảng tạo nên đời sống tinh thần cô mấy mươi năm qua. Ông kinh hãi khi chợt nghĩ rằng một ngày nào đó cô phóng hoả đốt chùa. Cô nói với ông dịu dàng nhưng ông có cảm giác cô cứa dao vào lòng ông:
-         Bạch thầy! Con mong chiếm mọi đỉnh cao với bất kỳ giá nào. kẻ làm cha con chắc có dòng máu chinh phục. Thầy có biết ông ta là ai?
-         Không. Nhưng trên đời này còn ai đó hiểu con thì kẻ đó là ta đấy, con thương yêu ạ!
-         Là thầy? ồ, không đâu. Con nghĩ thầy đã chai lì. đối diện với con nhiều khi thầy làm như kẻ vị tha. Tuy vậy, thầy biết về con tường tận quá. Con chán lắm. Một chàng trai thích con. Con biết con không thể dịu dàng như mọi cô gái khác. Những áp lực xung quanh càng khiến con phải xù gai lên để đối phó. Anh ta bảo con là bệnh nhân tâm thần đa nhân cách. Anh ta tin tình yêu sẽ hoá giải cơn cớ này. Chưa hẳn. Hồi ở chùa con luôn nổi loạn, song con chủ trị được con mãnh hổ trong mình. những lúc đó con thèm chọc phá thầy dễ sợ. Con ghét vẻ bình tĩnh của thầy: vừa lạnh lùng, vừa giả dối ích kỷ. Thầy tưởng con tin vào tấm lòng của thầy sao. Con ước được nhìn thấy thầy ngã gục, tận mắt thấy thầy lãnh đủ đòn thù định mệnh, lúc đó con cười khẩy vào mớ thuyết lý suông của thầy.
Nhà sư cau mày:
-         Những gì con phản ứng về ta, ta chịu được. Thực tình ta không muốn con gặm nhấm hận thù như thế. Những sức ép bên ngoài đối với con không liên can gì với ta. Con đừng vì thế mà làm tổn thương ta. Trong sâu xa tình cảm ta dành cho con đều xuất phát từ tấm lòng chứ không phải do mối liên hệ tầm thường bèo bọt nào.
Một con quỷ cựa quậy trong Phượng Ly. Cô từng nghe thầy đã dùng những lời lẽ như thế trấn tĩnh bao nhiêu người và họ thoã mãn. Cô biết thầy bao dung. Thầy không ve vuốt bản thân và cô cũng biết mình chờ đợi ở thầy điều vượt quá khả năng thầy. Bản thân thầy cũng chỉ là sinh linh đầy bất trắc. Nghĩ thế, cô bỗng thấy thương xót thầy. Hẳn thầy không cứu vớt được linh hồn thầy.
Song nỗi hằn học thâm căn đối với thầy khiến cô nghĩ ra mọi cách hành hạ thầy thích đáng. Cô nói với thầy:
-         Con sẽ tìm đến tình yêu ở những phường gian ác hạ tiện nhất. trong sự liều lĩnh ấy chắc con sẽ tìm thấy nhiều khoái trá và chút gì đó như phúc lạc. Con có vong thân, đoạ lạc cũng thây kệ. Chắc thầy cũng chẳng vui hay buồn. Thầy đừng dằn vặt gì hết, đừng bao dung, độ lượng quá, con không xứng đáng với tình thương của thầy. Con vĩnh biệt thầy để tự đi con đường của con.
-         Con ta, ôi, Con ta! Sao con không thương ta? - Thầy Hạnh Quang đau đớn những khi không có mặt cô.
*
Phượng Ly lúc nào cũng muốn chối bỏ chính mình. Cô căm ghét sự tồn tại của mình. Cô trút nỗi niềm ấy vào thầy Hạnh Quang. Có lẽ cô cũng yêu thương thầy theo cách của cô, nhưng cô không biết bày tỏ tình cảm của mình và mỗi khi có ý định ấy thì cô cảm thấy sợ hãi, hình tướng thầy tu của ông là một thành luỹ ngăn cách mọi liên đới cảm xúc. Thế rồi cô đâm ra cáu kỉnh, hung hăng. Cuối cùng cô đã giáng ông một đòn nặng nề và ông ngã gục. Cô ân hận thật sự, song đã quá muộn.
Thầy Hạnh Quang luôn tin Phượng Ly có một tâm hồn thánh thiện, cao quý. Trí tuệ, bản lĩnh cô làm ông tự hào. Thế nhưng cô khiến ông cay đắng và nhận ra rằng: cô là một con người vô hạnh.
 Phượng Ly không hay biết gì về nỗi tuyệt vọng của thầy Hạnh Quang, ngay cả cái chết của ông; hơn một tháng sau cô mới nhận được tin.
Cô nói với tôi:
-         Thế mà em là con thầy đấy. Ngày ấy mẹ em là một ni cô. Thầy yêu mẹ. Khi biết mẹ có thai, thầy muốn cùng mẹ trốn đi xa. Mẹ thương thầy, sợ thầy liên luỵ mới trốn đi một mình. Mẹ sinh em và một mình nuôi em suốt mấy năm trời cho đến khi gặp cha dượng em bây giờ mẹ mới mang em đến trả thầy. Mẹ muốn bằng con đường tu hành em sẽ chuộc lại những lỗi lầm của mẹ, hay có thể vì nguyên nhân khác em không biết. Mẹ em mới ấu trĩ làm sao, cả thầy nữa. Em thờ ơ với tội lỗi của họ, kiếp số của họ. Khi biết cha đẻ mình là ai, em dửng dưng hoàn toàn.
Phượng Ly đưa tôi xem bức di thư của thầy hạnh Quang. Tôi lấy làm lạ, cô coi tờ di thư như một tờ giấy lộn vô giá trị, cô cũng không hề mặc cảm mình là đứa con rơi.
Cho đến bây giờ tâm trí cô vẫn mãi lang thang tìm lại ngôi nhà trong mơ. Cô dè dặt với tôi hơn khi thấy tôi lao theo cuộc kiếm tiền, tiện nghi và những người đàn bà. Tôi không biết cô hạnh phúc hay bất hạnh trong cuộc tìm kiếm bí ẩn.... Tôi cũng từng có một xuất phát điểm giống cô. Tôi vẫn thường mơ thấy một vị nữ hoàng toàn mỹ, nhưng không giống cô, người ấy là mẹ tôi. Thế nhưng tôi biết mình đã thất lạc người. Tôi còn phải lo kiếm nhặt bao nhiêu thứ trên mặt đất này và tôi kiệt sức lắm rồi....
                                                LTT

                   CHUYỆN ĐỜI TÔI
                                              
          Mười hai lần tôi mơ thấy nàng bay vào bầu trời. Mười hai lần sau giấc ngủ tôi nhẩm lại bài thơ nàng gửi tặng tôi trong mơ:
          "Em tìm về cố hương
          Những đám mây kết võng đón em
          Mẹ sẽ thôi buồn thân con mười hai bến nước
          Dòng sông ơi, xin chảy ngược
          Ta muốn cùng anh qua bờ bên kia..."
          Tôi đem câu chuyện giấc mơ này kể với ông giáo dạy bộ môn Triết học chuyên nghiên cứu kinh dịch được gọi là nhà chiêm tinh giảng đường và nhờ ông giải mộng. Bóp trán suy nghĩ một lúc, ông phán:
-        Hỏng rồi con ơi!
-        Sao thầy? - Tôi sửng sốt.
-        Thành công chỉ đến với con khi có cô gái này bên cạnh. Con thì không thích vướng bận vào đàn bà. Mục đích tham vọng của con ta biết con không bao giờ chia sẻ với ai.
          Lời ông giáo tôi nghe cũng vui vui. Rồi tôi quên bẵng điều ông nói cũng như quên giấc mơ mười hai lần trùng lặp.
          Buổi chiều hôm đó tôi đến gặp nàng. Lòng tôi trĩu nặng. Nàng ngồi nghe băng một mình, thấy tôi, nàng nói một cách thờ ơ:
-        Cuốn băng nhạc cổ điển mà anh thích Vân cho đứa bạn mượn rồi. Thôi Quang nghe cái này nhé. Vân tin rằng Quang không chán.
          Tôi gật đầu đồng ý. Nàng bấm máy cassette. Sau khúc nhạc dạo đầu, một giọng nói ấm áp phát ra. Cảm giác bình an tràn ngập khắp căn phòng không rõ được tỏa ra từ người con gái mà mình yêu lâu nay hay từ bài thuyết trình ở cuốn băng đã cũ, nội dung kêu gọi giải trừ thù hận, ban trải tình thương. Tuy sức truyền cảm lạ lùng ở giọng người phát ngôn có khả năng lay động lòng tôi, song mọi vấn đề mà tôi đang nghe như nước chảy chân cầu, thuộc về nơi chốn khác, kể cả dẫn chứng về Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhận giải nobel hòa bình.
          Hình như Vân cũng chìm trong một cảm nhận tương tự.
          Khoảnh khắc ấy cũng qua đi, cuốn băng bị xóa khá nhiều. Tôi không hiểu nhìn Vân dò hỏi, nàng giải thích tôi rõ đấy là bài thuyết pháp của một nhà sư. Tôi hơi ngỡ ngàng. Lâu nay Vân chuyên chú đọc kinh phật. Tôi tự học cùng lúc hai ba ngoại ngữ. Vân không nói gì thêm, tôi chào nàng ra về.
          Bóng tối loang dài các phố. Một nỗi buồn não dạ ập đến cấu xé tâm hồn tôi. Lặng lẽ tiễn chân qua quãng đường dài. Vân nghĩ gì tôi không rõ. Chỉ đôi mắt trắc ẩn của nàng cứ làm tôi day dứt.
          Cuộc chia ly đã được báo trước. Tôi ra đi, mang tâm trạng của thằng sinh viên không bao giờ tốt nghiệp. Tôi buồn, không phải vì bạn bè cười tôi quá cuồng vọng, mà bởi ở chính thái độ dửng dưng của nàng.
          Bữa tiệc liên hoan mất quá nhiều nước mắt. Vân không đến tham dự. Tôi không biết tâm trạng nàng thế nào? Tuy luôn bên nhau nhưng nàng mãi mãi là một người xa lạ.
          Hoà nói với tôi:
-        Vân vừa gửi thư chia tay bọn mình. Nàng đi đâu không rõ. Ðồ đạc vẫn còn để nguyên lại.
          Rồi Hoà bâng quơ:
-        Vân như sống sau một lớp sương mù.
          Thật ra tôi biết Vân xuất thân trong một gia đình trí thức trước 1975. Khi Vân ra đời, gia đình nàng ngày càng sa sút đến chỗ lụn bại. Vân lên thành phố cố quên mình là đứa bé nghèo có gia đình cũng như không. Vân gồng mình sống với mọi người. Ðó là điều ai cũng biết. Vân cũng hiểu. Riêng mọi bi kịch nàng đã trải thì không ai thấu đáo. Tôi gặp Vân quá muộn. Tôi ra đi vào cái lúc Vân cần sự chở che của một người bạn trai. Vân đang sống trong khó khăn, thiếu thốn mối đồng cảm. Ðiều làm tôi đau lòng là Vân hiểu tôi. Thằng sinh viên kiến trúc ở một làng quê nghèo, cha mẹ phải đi thu lượm bom, mìn… cưa bán kiếm tiền cho tôi ăn học đại học. Những nhận thức của tôi và Vân không dung hòa được với cánh sinh viên ở Hà Nội. Quê tôi ở Quảng Trị, cách quê nàng hàng trăm cây số. Có lần tôi nói với Vân “Hà Nội không phải là chỗ của tụi mình”. Ý tôi muốn nói về những khát vọng nghiên cứu, sáng tạo, mong muốn dấn thân, thử nghiệm sống, trạng thái bão hoà cảm xúc giữa tháng ngày đơn điệu. Vân đọc thấu nỗi lòng tôi, Vân thương tôi vì tôi cô độc quá. Còn tôi lại không muốn dắt díu Vân đi suốt cuộc đời.
          Hà Nội mùa xuân vẫn còn giữ trong lòng cái lạnh cắt da cắt thịt. Gần hai mươi năm, mọi vật mờ nét dần. Khuôn mặt nàng cũng nhoà nhạt trong tôi. Giờ đây tôi đang tồn tại giữa Hà Nội như lời khẳng định của Vân. Mặc dù trước kia tôi cho mình một đi không bao giờ trở lại.
          Gần hai mươi năm, tơi tả trên bao gai góc cuộc đời. Bạn bè còn đó với những đổi thay. Gánh nặng gia đình hai vai, tôi không còn hơi sức mà đàn đúm với chúng nó như xưa.
          Cô bé ấy xuất hiện như để gợi lại một nỗi đời riêng.
          Sau khi bị buộc thôi dạy, nhà trường chuyển tôi sang ban giáo vụ, suốt ngày ngồi chơi xơi nước ở phòng thường trực. Thấy tôi vô tích sự, Thủy nhí nhảnh:
          "Người đã ngồi ở đó
          Trong căn nhà thật buồn
          Ðốt trên đầu điếu thuốc
          Những tháng ngày buồn nôn...."
          Không cần chú ý đến niềm u uẩn trên mặt tôi, cô bé cứ liếng thoắng:
-        Chú Quang ơi! Cháu đi mua rượu cho chú nghe. Vừa nói Thủy vừa cầm cái vỏ chai và lục ngăn kéo lấy mấy trăm tiền lẻ rồi chạy vù ra quán.
          Bao giờ trở về cô bé cũng rót sẵn rượu vào ly cho tôi và hồn nhiên:
          "Một ly nhâm nhi tình bạn
          Hai ly uống cạn tình sầu...".
          Chẳng cần biết tôi có khó chịu hay không cô bé cứ mặc nhiên tung tẩy.
          Ngoài giờ lên lớp học cô bé cứ chạy loăng quăng ở phòng thường trực suốt ngày. Cô đọc lại những cuốn sách tôi đọc xong vứt khắp nơi. Nhiều khi tôi có cảm giác đã gặp Thủy ở đâu đó nhưng không nhớ nổi. Rượu đã làm cho đầu óc tôi u mê kinh khủng, tôi vẫn nhờ Thủy đi mua rượu. Cô bé một lần nói với tôi:
-        Buổi tối đã buồn mà chú lại ngồi uống rượu một mình cháu thấy thê thảm làm sao ấy!
          Biết nói thế nào với cô bé. Tôi phải vỗ giấc ngủ bằng rượu. Có thức cũng chẳng tích sự gì.
          Mấy thằng bạn cũ ngày càng thành đạt. Chiều chiều chúng phóng xe hơi về tụ tập chỗ tôi bàn công chuyện, hẹn hò bồ bịch, cười nói ồn ào. Cố sức kéo tôi vào các phi vụ, áp phe. Ðứa nào cũng bất ngờ khi lần đầu trông thấy Thủy.
          Một lần Hoà hỏi Thủy:
-        Cháu bao nhiêu tuổi rồi?
          Cô bé lắc đầu.
-        Thế bố mẹ cháu làm gì? Quê cháu ở đâu? - Hoà quan tâm.
-        Không biết – Thủy đáp - Cháu sinh ra từ nước và sẽ trở về với nước.
          Tôi giật mình.
          "Em sinh ra từ mây và sẽ trở về với mây!"
          Hai mươi năm trước Vân đã nói với tôi như vậy. Ngày ấy nàng hai mươi tuổi. Nàng biến khỏi đời tôi dần dần như đã từng đến với tôi một cách êm đềm. Từng mảng hai mươi năm trước cứ đồng hiện, nhập nhòa:
          "Vân thích nghề sư phạm chứ?" - Tôi hỏi.
          Nàng không trả lời thẳng:
-        "Anh thích ngành kiến trúc?".
-        "Tất nhiên!" - Tôi cười.
-        "Em chỉ muốn trở thành nhà văn. Khai thác mọi khía cạnh trong cuộc sống mà viết" - Giọng Vân xa vắng.
          Nụ cười của tôi tắt ngấm khi nét đăm chiêu vắt ngang vầng trán của nàng. Ngày ấy tôi vẫn nghĩ làm một nhà văn xuất chúng nàng sẽ thành công. Tôi chưa hình dung được làm người thành công Vân sẽ thế nào. Có những ngày Vân tiêu hết chỗ tiền học bổng, cô phải nhịn ăn. Tôi cũng đói xanh xương và từng bỏ một trường đại học. Tôi vẫn chưa biết tiền bạc làm cho mình khốn khổ khốn nạn suốt đời. Tôi không hiểu sao Vân chơi thân với đám bạn của tôi đến thế! Là người sống bằng những linh cảm, nàng khó hiểu với cánh sinh viên sư phạm. Thế nhưng đêm đêm nàng lại nhập bọn với chúng tôi, thực tình, lạc thú của bọn sinh viên nghèo về đêm là được lang thang mọi nẻo đường, chui luồn khắp các xó xỉnh phố phường dù phải nhịn ăn nhịn uống.
          Vân ví cả nhóm là lũ đười ươi. Chuỗi ngày sinh viên: Hôm qua mông lung; hiện tại vô nghĩa, trống rỗng; tương lai mơ hồ. Cả bọn co cụm lại phá phách, sống không khác người mộng du bao nhiêu. Hễ chúng tôi hát thì Vân cũng hát, mọi thứ trong giáo trình, trong lớp học càng làm cô đặc đầu óc con người. Chúng tôi cần xả bao nhiêu điều bẩn thỉu mà chúng tôi phải thu vào não bộ. Hai mươi bốn sinh viên ních chặt trong một căn phòng chưa đến ba chục mét vuông vừa chật chội vừa ngột ngạt với những chiếc giường tầng mỗi cặp một giường. Tôi suýt giết cái thằng nằm ở giường trên còn tôi giường dưới. Tôi chẳng thể nào vẽ nổi dù chỉ là thiết kế một cái bể nước khi hắn ôm con bồ cười rúc rích trên đầu tôi.
          Chỉ những đêm Vân cùng nhóm bạn thân của tôi qua chơi tôi mới trút sạch cay đắng, chúng tôi lang thang và hát: các ca khúc không đầu không cuối, cả Vân cũng múa may, tung chưởng, đọc thơ, đá bóng loạn xà ngầu như một thằng con trai. Nhìn Vân đánh đấm, xô đẩy, tung hứng với mấy tên bên trường mỹ thuật như Hòa, Anh… cùng đám sinh viên mới quen không chút ngượng ngùng tôi chỉ còn biết lắc đầu. Khi tách riêng với tôi, nàng lại nói đến cát bụi, kiếp sống phù du, bèo bọt, cảnh tù túng, nỗi tuyệt vọng về bản thân và niềm vui nếu được chết.
          Hòa phản đối ầm ĩ tình yêu tôi dành cho Vân. Theo Hòa, Vân quá ngổ ngáo, không chút nữ tính, lại nghèo, mà tôi cần một phụ nữ như bà mẹ, biết lo chuyện tiền nong cho tôi càng tốt. Người phụ nữ đó hơn mười năm sau tôi mới gặp, cô ta làm việc ở ngân hàng. Cô ta đánh gục tôi: vừa đanh đá vừa khôn ngoan, vừa giỏi khinh chồng. Với tôi Vân ngày ấy như một đứa bé, một đứa bé quá đỗi dịu dàng.
          Một ngày Hoà nhìn Vân buồn buồn. Tôi hỏi. Nó kể cho tôi nghe điều nó đọc được trên bàn viết của Vân.
          Một nàng Vân khác hiện ra trước mắt Hòa. Thì ra Vân như một người sinh nhầm thời. Những thứ nơi gia đình, trường học, làng xã… đều khiến Vân cực kì kinh tởm. Như trong một tùy bút Vân viết, Vân tham gia các cuộc chơi để thử thách mình, để củng cố đức tin về bạn bè, để biết mình có thể sống theo một số ý muốn người khác mà không đánh mất mình. Cũng chỉ trong những đêm lang thang, Vân mới tự lộn trái con người mình. Trên một phương diện nào đó cô từng phải đương đầu với sự băng hoại tình người, thậm chí cái ác, mà vì ngu xuẩn, dốt nát, vô đạo mà ra.
          Rong chơi ban đêm tôi được cơ hội quan sát phố phường kỹ lưỡng. Mới nhận ra được rõ ràng bên cạnh những biệt thự lộng lẫy nguy nga là các dãy nhà, lều vá víu, ọp ẹp, khắp các khu ổ chuột, ổ chó người ta lăn xả vào xâu xé nhau. Nhiều lần chúng tôi nghe kể bọn lưu manh tàn hại cả cha mẹ ruột lẩn trốn trong đám đó. Dân cửu vạn làm thuê và đám bụi đời, du đãng lăn lóc khắp vỉa hè. Chúng tôi cũng hiểu hơn những trăn trở cùng nỗi đau khuất lấp của bạn bè. Tự Vân cũng phát hiện con người trái của mình: Vừa đức hạnh, vừa nổi loạn, vừa tỉnh táo, vừa cuồng điên, vừa tự tin vừa bi quan vừa vị tha vừa bất cần vừa từng trải vừa ngây thơ....
          Hoà cho Vân có lý khi viết: "Khó nghèo câu thúc mọi cuộc vui....". "Ðã đến lúc ta phải rời cuộc chơi vô bổ...".
          Vân trở về với đúng con người nàng: Khép kín, thờ ơ, tách biệt với xung quanh. Nhóm tôi tan vỡ dần sao đó. Hai thằng bạn thân nhất là Hòa, Anh học xong vội vã đi công trường . Tôi lao vào sách vở, đầu óc đầy những ước mơ và hoài bão không tưởng. Nàng tiên đoán được sự thất cơ của tôi, nàng nhận ra những khoảng trống bất trắc trên lộ trình mà tôi đang dấn thân đơn độc. Không muốn tôi ra đi nhưng nàng không níu giữ. Nàng thừa hiểu tôi sẵn sàng từ khước tình yêu để đuổi theo những thứ viễn vông? Hay nàng biết chúng tôi thuộc về hai thế giới khác nhau, khó mà song hành trên đường đời?
          Mấy năm du học, tôi nắm vững lý thuyết kiến thiết những villa trên mây, quy hoạch những đô thị trên mặt biển. Về nước, tôi vỡ lẽ ra rằng kiến thức của mình có khả năng áp dụng trong nền kiến trúc Việt Nam vào những năm ba nghìn. Chạy chọt mãi tôi cũng được nhận vào làm giảng viên ở trường trung cấp nọ. Một thời gian tôi bị sa thải mà chính tôi cũng không rõ lý do. Tôi rất buồn phiền. Nhất là khi nghe vợ và con cái cứ cằn nhằn tôi là "ông thờ chữ". Một phần vì thói quen đọc sách đến thành nghiện của mình.
          Thủy nói:
-        Không hiểu sao nhìn thấy chú, cháu cứ nghĩ đến các nhân vật của Samuel Betkett(1)
          Hễ thấy tôi ngồi ưu tư là cô bé tinh nghịch:
-        Chú Quang ơi! "Trong khi chờ Godot"(2), chú hãy.... - Bao giờ cũng có một việc ngộ nghĩnh nào đó mà cô bé nghĩ ra.
          Hoà bảo tôi:
-        Mình hiểu vì sao ông quyến luyến bé Thủy, nó giống Vân.
          Thì ra vậy, lúc nào tôi cũng ngờ ngợ mình gặp Thủy ở đâu.
          Nghe Hoà nói, tôi nhận ra Thủy là phiên bản cuộc đời Vân.
-        Thủy quá hồn nhiên, làm sao giống Vân được?
-        Ngược về hai mươi năm, ông sẽ không cho như vậy - Hoà đáp.
          Tôi nhớ gã đàn ông bố của Hoàng Lan cùng phòng Thủy. Hắn vẫn thường đến thăm con gái. Gương mặt đĩ thõa của hắn rất đáng ghét, khi thấy cô nữ sinh đáng tuổi con mình gã cứ nhìn hau háu, giở trò đã bị giáng một cái tát. 
          Thủy thường pha trà, pha cà phê giúp chúng tôi. Có lần Hòa khen Thủy dễ thương - Hoàng Lan kể:
-        Ba cháu bảo chị Thủy là thiên thần. Thiên thần bị đoạ đầy.
          Ngày nào tôi cũng trực đến mười một giờ đêm chỉ để làm mỗi một việc là khóa cổng trường. Một lần có chuông báo nghỉ, mọi người lục tục ra về, Thủy vẫn ngồi bất động, tay ôm mặt.
          Tôi nhắc Thủy đi ngủ, mùa đông Hà Nội trở rét. Thức khuya dễ cảm lạnh.           Thủy rùng mình:
-        Cháu sợ phải đối diện với bóng mình, sợ bốn bức tường, sợ chiếu chăn nhàu nát lắm....
          Tôi chú ý đến Thủy nhiều hơn và thấy Thủy quá lạc lõng trong thế giới này. Không ý thức mình là một người đã trưởng thành, cần phải hòa nhập, quan hệ mật thiết với mọi người, phải chia sẽ mọi trách nhiệm, bổn phận làm người hay Thủy lại vấp phải một tội ác và giữ riêng bí mật khủng khiếp nào đó trong lòng mình hoặc bên ngoài cái vẻ con nít kia cô là mẫu người suốt đời giữ trong tâm hồn mình một chấn thương?
          Thủy làm sao sống được giữa đô thị phồn hoa? Cô quá đơn bạc. Cảm giác buồn nôn trước cuộc sống lại nằm sâu trong vô thức của Thủy. Tuy không bao giờ nói ra điều đó nhưng tôi biết Thủy tởm lợm trước các bữa tiệc thừa mứa. Đám bạn nghèo ngày xưa nhiều thằng giờ đây lên sếp. Không hiểu sao chúng mê chết cái phòng khách của trường. Chiều cuối tuần nào chúng cũng mang rượu thịt đến chỗ tôi say sưa bù khú.
          Thằng Anh giờ đây đã là giám đốc một công ty xây dựng có lần xách cả thịt cầy đến và hỏi Thủy:
-        Cháu chê à! Sao lần nào cũng thấy cháu luẩn quẩn ở chỗ này vậy?
-        Cháu thấy mấy chú cư xử với cháu tốt mà. Còn món thịt cầy cháu không thích - Thủy đáp.
-        Thế cháu thích ăn gì? Mỗi tháng mấy chục ngàn học bổng, làm sao cháu sống nổi? - Tôi hỏi tiếp.
-        Cháu quang hợp mà sống! - Thủy cười phá lên.
-        Cháu cứ thế này chú đâm xót xa lo lắng dùm. Bọn chú ngày trước cũng thiếu đói lắm, nhưng đó là một thời ấu trĩ của toàn xã hội. Bây giờ kiếm ra ít tiền nhưng không có những cuộc nhậu nhẹt vui say cùng bạn bè chắc tự sát vì buồn chán lâu rồi. - Tôi bộc bạch với Thủy.
-        Cháu cũng đã một lần tự sát nhưng chết không dễ đâu chú ơi!
          Thủy cứ nói chơi chơi nhưng tôi biết cô bé không đùa.
          Tôi gieo mình xuống ghế như nghe thấy lời Vân:
          "Em đã một lần tự trầm trong ý thức dị đoan rằng nước sẽ cuốn hình hài mình ra biển. Rồi sóng sẽ mang em sang một xứ sở không có bến bờ. Em nghĩ chết là để giải thoát, linh hồn sẽ được về miền cực lạc…”
          Thủy thở ra với tôi:
-        Ấy là khi gia đình cháu bị phá sản. Ba cháu lái ô tô và gặp nạn, các anh chị táo tác trong cuộc mưu sinh. Cháu tuyệt vọng và mong kết thúc mọi khổ đau. Cháu được cứu sống như là định mệnh quyết định mình chưa được kết thúc cuộc đời lúc đó. Và phải như thế để cháu nếm đủ trần ai.
          Trong ngôi trường thật buồn, bao ngày đã trôi qua chầm chậm. Ngày nào cũng na ná như nhau. Một thời gian sau tôi chán, nên bỏ trường, nhảy sang làm ăn với nhóm thằng Hòa.
          Nhiều đêm say sưa, về muộn, tôi thấy Thủy lang thang trên đường với cánh nam sinh, tôi lo âu về cô một điều rất vô lý: vài ba đứa con gái đàn hát với một đám con trai. Tôi thầm so sánh thân phận Thủy và Vân. Tôi mệt mỏi lắc đầu.
          Một chiều nọ có việc giấy tờ cần giải quyết ở trường, nhân tiện tôi hỏi thăm Thủy. Tôi ngạc nhiên khi lão bảo vệ mới cho tôi biết Thủy đã ra trường, giờ chuyển đi đâu không ai rõ. Có người bảo Thủy về quê, có người bảo Thủy theo chồng, có người nói Thủy đi tu.... Tôi thất vọng quay về. Chợt tôi se lòng khi nghĩ đến Vân.
          Hai mươi năm trước Vân cũng thế. Tôi chia tay Vân và nàng hẫng hụt. Tôi được gì đâu ngoài chuỗi ngày sống vay mượn, lay lắt. Lúc nào cũng khắc khoải đợi chờ một ân phúc tốt lành. Thế nhưng tôi cứ đón nhận những điều mình không muốn một cách phi lý đến lố bịch. Còn số phận Vân nổi chìm đâu đó ngoài miền hiểu biết của tôi.
Notes:
1. Samuel Betkett (1906-1989) tác giả kịch phi lý Pháp.
2. Tên một vở kịch của Samuel Betkett.
LTT



          KHÁCH CỦA MỘT NHÀ VĂN
                       
          Lại một đêm nữa Hằng mơ thấy đứa con mọc cánh và bay. Lúc này nó hãy còn là thai nhi trong bụng mẹ. Còn chưa đầy một tháng nữa là nó sẽ chào đời. Phong đi vắng đã hơn mười ngày. Lẽ ra như hẹn thì Phong về rồi. Dạo này Hằng tương đối rảnh. Cô ru rú suốt ngày trong phòng trọ chật hẹp. Cô chỉ có một thú tiêu khiển duy nhất là ngắm những cơn mưa như trút nước suốt ngày đêm.
          Vợ chồng Hằng vào thành phố được gần một năm. Cô dự định in một tập truyện ngắn nhưng hễ cứ đọc lại những gì do chính mình viết là Hằng đốt bỏ. Có điều gì đó không ổn trong những truyện ngắn của cô. Chuyện dở hay chưa phải là vấn đề. Cái mà nội tâm cô day dứt nhất là thói quen của cô đã bộc lộ trong thái độ sống của các nhân vật: đó đều là những kẻ không có trách nhiệm với chính mình và chẳng cần thiết cho bất kì ai. Nhiều nhà văn vẫn đánh giá cao các tác phẩm của Hằng, cô từng choáng ngợp trước sự ưu ái đó.
          Hằng thôi viết từ khi lấy chồng. Phong vẫn khích lệ cô viết trở lại nhưng rồi đứa con trong sự hiện hữu vật chất đã khiến cô có ý nghĩ cầu an rằng nó là tác phẩm độc nhất vô nhị và cô không cần sáng tác nửa.
          Phong về quê vì ngoài ấy vừa trải qua một cơn lũ lớn. Đang lúc vợ chửa vượt mặt thế này mà bỏ đi lâu là một hành động không hay, nhất là Hằng chẳng có thân nhân, bè bạn ở thành phố này. Phong lao ra miền Trung khi bão lũ không yên, anh yêu khúc ruột mềm ấy hơn bất cứ thứ gì trên đời. Anh vẫn luôn tìm cách chứng minh cho Hằng thấy miền Trung là địa linh. Hằng chỉ biết một điều ai cũng biết: quê hương mình là một vùng khắc nghiệt. Năm nào miền Trung cũng phơi lưng hứng trọn thiên tai.
          Hằng rùng mình. Cô hình dung nỗi cơ cực ở quê nhà, nhất là dịp bão lũ. Giờ đây cô tương đối yên thân nhưng rõ ràng Phong không muốn cô sống vậy. Anh vẫn bảo Hằng: Nhà văn chân chính phải quan tâm và viết về thân phận con người. Xa rời mục tiêu ấy họ sẽ tự làm hỏng mình. Sống với Phong, Hằng có cảm tưởng mình là một con giun nhưng anh làm đủ mọi cách để nó biến thành rồng. Nó sẽ lột xác, hóa thân, lớn dậy, bay tự do giữa bầu trời cao rộng hay nó sẽ đớn đau, quằn quại trước khi đứt lìa từng khúc để rồi chết hẳn.
          Những ngày gần đây có một bóng đen vẫn thường lai vãng trước cửa nhà Hằng. Đôi ba lần gã bước vào bên trong nhà. Rõ ràng gã có ý đồ gì đó. Đêm nay sau khi cô từ giã giấc chiêm bao ngọt ngào gã lại đến. Ban đầu gã còn gõ cửa và khi bắt gặp Hằng gã xin lỗi và thanh minh là mình nhầm nhà. Hằng không bận tâm đến gã và chẳng cần biết gã là ai. Gã khiến cô bực mình bởi thái độ láo xược và lời tiên đoán sự nghiệp văn chương của cô đã chết yểu. Cô lịch sự với gã nhưng chỉ mong gã cút đi cho rảnh. Điều mà cô chột dạ nhất là dường như gã biết mọi vui buồn thầm lặng của cô.
          “Gã muốn gì ở mình?” có lần cô nghĩ ngợi.
          Bóng đen có những góc cạnh tối tăm nhưng không xa lạ đối với Hằng. Cô tin chắc chính hắn bao chứa những bãi tha ma, viện tâm thần, trận mạc, nhà xác, tâm bão... nói tóm lại, hắn là đồng minh của sự hủy diệt.
          “Tại sao hắn cứ đến quấy rầy ta? Chẳng lẽ đã đến lúc...”. Hằng không dám nghĩ tiếp.
          Bóng đen ít khi đếm xỉa đến những lời ta thán của Hằng. Đôi khi Hằng lo lắng là gã chọn thời cơ này để thâm nhập vào đời sống riêng tư của cô vì mục đích gì đó cô còn chưa được biết. Đứa con mà Phong thường nói là sáng tạo của tình yêu bao lần là động lực giúp cô thoát khỏi những cơn ác mộng hãi hùng lần này vẫn không sao đem lại cho cô can đảm để tống khứ vị khách hắc ám ra khỏi nhà. Hằng rất cần có Phong bên cạnh. Cô lạnh lưng khi nhớ lại những lời dặn dò của anh:
-        Nếu anh có rủi ro gì em hãy cố gắng sống tốt và nuôi dạy con nên người.
          Hằng hiểu Phong yêu cô. Tình yêu ấy đã kéo cô ra khỏi tình trạng u uẩn bởi mối tình tai bay vạ gió đem lại. Anh xa cô lần này là điều anh hoàn toàn không muốn nhưng anh không thể làm ngơ trước người thân đang gặp hoạn nạn. Bao kẻ khốn khổ đang mong chờ những người như anh. Phong đã bán ngôi nhà của mình để lấy tiền làm việc từ thiện.
          “Cô tôn thờ anh chàng ấy thiệt sao?”
          Bóng đen kéo Hằng ra khỏi dòng suy tư. Cái cười mỉa mai của gã không che dấu được sự thất vọng. Gã chờ đợi Hằng có một lời phủ nhận cay độc. Cô im lặng.
          Gã không dám công kích Phong trước mặt Hằng. Gã đành dùng đến độc chiêu thật hiểm ác:
-        Cô không xứng đáng với Phong. Cô biết rõ điều đó hơn bất cứ kẻ nào vẫn thường ghen tỵ với cô và luôn tìm cách lục lọi vào đời tư của cô. Dù cô được học ở hai trường Đại học nhưng kiến thức ấy đã vô dụng. Cô từng đèo bòng và mơ những thứ ngoài tầm tay của một kẻ nhấc chân không khỏi mặt đất. Gia đình cô vẫn tưởng cô sẽ trở thành cô giáo nhưng bài học vỡ lòng về tư cách người học trò cô học hoài cũng không thuộc nên một ngày cô chạy trốn vai trò của một người thầy. Cô muốn trở thành một nhà văn và những tác phẩm của cô được nhiều người xưng tụng, sợ cô sinh kiêu ngạo nên nhiều nhà phê bình đã chỉ trích ra trò. Cô yêu một nhà thơ trẻ cùng quê và rồi cô bị phỉnh phờ dễ dàng. Khi biết mình bị chơi xỏ cô tức điên lên nên chìa sừng ra húc lung tung. Cô húc vào Phong, anh chàng đã cố tình bẻ gãy rồi giả bộ băng bó cặp sừng đã gãy của cô. Sao cô không bảo anh ta vác cô lên vai, đội cô lên đầu và cứ thế mà đi cùng trời cuối đất, bất chấp những lời gấu ó. Anh chàng cứ giả vờ như vì cô mà kiệt sức. Như thế lần nữa cô sai lầm, cô nương ạ!
          Đôi mắt Hằng tối sầm. Gã khiến Hằng buồn ghê gớm. Ít ai biết bên ngoài cái sự kính trọng và tin yêu chồng lòng Hằng nhiều lúc như có vết rạn. Có gì để cô nghe mình hoang mang? Đời một người cầm bút là dấn thân cô độc và trong một cuộc hôn nhân, hai con người có muốn là tốt và luôn cố tốt với nhau nhưng không chung mục đích, không thấu hiểu và chia sẽ thì người này bắt đầu không cần thiết với người kia. Phong làm như cô là gánh nặng của đời anh, không có cô thì Phong cũng nhọc nhằn lắm rồi. Biết bao dự tưởng lớn lao anh ta chưa thực hiện được. Tín hiệu mong chờ cứu nạn phát đến anh từ khắp mọi nơi. Nhiều người tìm anh, họ kể lể nỗi thống khổ của mình và chờ anh giúp đỡ. Dù có ba đầu sáu tay anh cũng không thể cùng lúc xoay sở hết công việc được. Phong được mệnh danh là hiệp sĩ của những phụ nữ lầm lỡ, trẻ mồ côi và người già neo đơn, giờ đây anh ta đèo bòng vợ con trong khi chẳng ai tiếp sức thêm....
          Bóng đen khiêu khích Hằng rằng cô chỉ là con đàn bà vô tích sự, cô đã nhai đi, nhai lại cuộc sống nhàm chán của mình. Phong thì khác hắn, ít ra anh ta cũng muốn làm người hữu ích. Có bị nạn trong khi hành hiệp thì anh ta vẫn sống mãi trong sự tri ân của những người thọ ơn anh. Còn cô chết đi cũng chẳng ai thấy mất mát. Có khi điều này lại hay ho cho cô và cho cả những người khác.
          Hằng nhìn trừng trừng vào bóng đen. Hắn cười nham hiểm. Đột nhiên một đốm sáng xanh lè như lửa lân tinh hắt vào cô. Ý nghĩ tuyệt vọng và muộn màng rằng mình đã bị thôi miên khiến tay chân cô bủn rủn và tri giác cô tê liệt hẳn.
          Hằng thấy mình đi vào một kinh thành cổ. Điều khó chịu là cô có cảm tưởng mình chết rồi. Cô quỳ trước một ngôi đền và ý thức rõ rệt mình chỉ là một hồn ma. Ước mơ viết một cuốn sách về những cư dân sống trong một vương quốc cổ được manh nha từ thời còn ấu thơ, vậy mà đến lúc chết vẫn không thực hiện được khiến Hằng thấy tiếc nuối. Suốt thời thơ ấu Hằng sống nơi ngôi nhà tận đồng vắng tiếp giáp khu mộ cổ, trên những ngôi mồ hoang tịch, bia đá, những hàng gạch cổ nối dài, xếp chồng, màu phù sa như những gương mặt muôn năm cũ, như những bóng ma tái hiện những hình hài cổ xưa. Cô cố sức đi tìm lời giải bí mật của một dân tộc trong lòng đất sâu. Cô có những suy nghĩ không giống ai về những triều đại đã nhanh chóng sụp đổ, bị thay thế. Trí tưởng tượng phong phú của cô thường bay bỗng đến thế giới của họ. Trong tâm linh Hằng, nơi mà cô sống người xưa cũng sống trong vương quốc riêng, vương quốc đó đẹp đẽ và huy hoàng. Hoa nở khắp các con đường mà bàn chân họ đã đi qua, linh hồn họ giờ lồng lộng giữa trời cao.
          Hằng vẫn thường bắt gặp bóng đen lẩn quất đâu đó nơi khu mộ cổ. Gã khao khát vòng hào quang vĩnh hằng trên các đài thờ, các tháp đền, lăng tẩm. Trông gã mờ nhạt, ảm đạm, âm u.
          Hằng như nghe đâu đó trong những lời nguyện cầu, trong kinh kệ, trong niềm hoan ca vô tận những lời nhắn nhủ:
-        Người xưa dẫu khuất bóng thời gian nhưng ước mơ, khát vọng ngàn đời của họ bất tử. Đất mẹ đã tạo sinh họ thì cũng tái tạo những tộc người mới tạo dựng một thế giới mới với những hoài bão, khát khao. Như lá rừng, như sóng nước: lớp này đuổi xô lớp khác, trùng trùng điệp điệp sinh khởi đời đời.
          Hằng suy ngẫm thật lâu điều cô vừa khám phá. Cô vỡ lẽ vì sao cuốn sách mà cô muốn hoàn thành về những cư dân sống trong vương quốc cổ đến giờ vẫn còn nằm trong dự tính. Cô không viết được nó bởi lẽ cô chưa bao giờ giải mã được những bí ẩn của người xưa. Lúc này cô mới cảm nhận sâu sắc trong sự sống của mình có huyết thống cha ông, trong tâm thức mình có đất trời của hàng ngàn năm trước, trên gương mặt mình có diện mạo tổ tiên. Một tình cảm biết ơn và hoài nhớ cội nguồn dâng lên làm cô chấn động cả người. Tự nhiên Hằng thấy sáng suốt kỳ lạ. Một nguồn sinh lực bí ẩn, huyền diệu như từ ngàn xưa tràn ngập cơ thể và nâng cô dậy.
          Hằng choàng tỉnh. Cô nhìn khắp căn phòng. Bóng đen đã bốc hơi từ bao giờ.
                                         LTT  

              MỘT DUỘC MÈO MẢ GÀ ĐỒNG
                                    Truyện ngắn của Lê Thu Thùy

          Lê không biết bắt đầu từ đâu và kể về  ai, lấy ai làm nhân vật chính câu chuyện của mình. Còn nhớ anh Lâm kể Lê nghe rằng: hôm nọ, thằng bồ của Lê hồi trước đem vợ đến anh khoe. Cách đó mấy tháng, hắn đưa mấy tên văn nghệ sĩ thành đạt, giỏi xoay thế thời về nhà anh, người nào trong bọn họ cũng hãnh diện mình kịp nhập cư Hà Nội, là dân thủ đô. Vợ chồng anh hậu đãi họ ra trò. Phải khó khăn lắm anh mới nói cho hắn biết rằng Lê đau nặng, Lê phải chuyển bốn năm bệnh viện trong vòng một năm và hiện nay Lê đang ở trong chùa. Hắn khóc như đàn bà đau đẻ và trút cơ man là nước mắt cá sấu!
          Vì sao Lê vào chùa? Lê bị anh trai đuổi ra khỏi nhà. Sống với ba mẹ  thì một năm mười hai tháng, tháng ba mươi ngày, ngày nào cũng thấy cái mặt sát khí của hai ông anh ruột. Lê bị chính Đôn vu khống với công an chỉ vì theo một kẻ tà giáo. Công an đã gặp Lê, vợ Vũ hằn học sao Lê yêu cái thứ cặn bã đó. Đôn cũng là bạn của Vũ kia mà. Vũ chết rồi. Lê thì không biết mình nên sống hay nên chết. Lê đã đi đến tận cùng tuyệt vọng. Lê biết thêm là một đám đông khác cùng học với Lê thời ở Huế giờ về phủ kín các cơ quan ở Đà Nẵng, Tam Kỳ. Họ khoe với mấy sếp bự là có biết Lê theo bọn phản động, phản cách mạng vậy nên Lê được công an sờ gáy, chí ít vụ công an hỏi thăm sức khỏe, để các cơ quan xuất bản, các tòa sọan báo, đài truyền hình khắp tỉnh nhà đừng ai nhận Lê vào làm việc. Buồn cười là một tay công an đã đến gặp riêng Lê. Anh ta bảo: ai còn rủ rê chị theo tà giáo thì cho chúng tôi biết. Lê cười trừ: “những người khác chẳng cần gì ở một người như tôi đâu!”. Anh ta hỏi Lê mượn những gì Lê viết để đọc. Lê tặng anh ta một tập thơ và tập truyện vừa xuất bản. “Cám ơn!” Anh ta nhận và ra về.
          Lê đã hình dung ra cả một hội đồng thẩm định các tác phẩm văn học đã mang những tác phẩm vô tội của Lê ra giải phẫu. Tội tình là họ chẳng thấy gì ngòai mớ chữ nghĩa hiền lành, thế nhưng không vì lý do ấy mà họ không tìm cách thọc dao sau lưng nhất là khi có nhiều kẻ tung tin rằng ông tổng biên tập tờ báo tỉnh đã không dám nhận Lê vào vì có lắm vấn đề trong lý lịch đại khái là Lê bị một kẻ máu mê tôn giáo như Vũ rủ rê, lôi kéo. Vũ bị buộc tội “lợi dụng tự do tôn giáo, chống phá nhà nước”. Mà gia đình vợ của Vũ hiện định cư bên Mỹ. Bố vợ Vũ là người của phía bên kia. Đủ thứ dây mơ rễ má dây cà ra dây muống. Lê thầm nghĩ ba mẹ Lê ngày xưa dưới chế độ cũ không tướng tá, cũng viên chức, sĩ quan, lính tráng,…thì bây giờ Lê đã xuất cảnh đi Mỹ. Hồi trước ba mẹ Lê chỉ là những nông dân quèn, ruộng đất, vườn tược cũng tàm tạm. Về sau, dưới chế độ mới, tất cả đất đai, điền sản của gia đình bị tịch thu hợp tác hóa hết. Nhà Lê rơi vào diện bần cố nông.
          Mấy vị trong ban đại diện ở chùa cũng nghe đủ lời dèm pha về Lê. Không thể tiếp tục nương náu, ẩn dật cửa chùa dù chỉ là làm công quả quét dọn, chẻ củi, nấu ăn. Lê gục xuống. Căm thù sự độc ác của con người ư? Làm sao có thể căm thù được khi mà họ lúc nào cũng tử tế trong mắt người khác. Ai dám cáo buộc cả bầy đàn là phường vô lại, gắp lửa bỏ tay người. Có chua chát trước bộ dạng méo mó, đáng thương và đáng sợ của con người Lê cũng chẳng làm gì được ngòai việc phải chịu một cơn đau tinh thần khủng khiếp, mà tinh thần ngự trong xác thịt nên cơ thể Lê phát ra đủ thứ bệnh, chính xác hơn là bộ phận nào trên cơ thể cũng bệnh, Lê phải vào bệnh viện nằm.
          Lê không có tiền, không ai là không biết điều  đó. Ở đời anh có thể dấu mọi thứ, trừ cái nghèo. Hồi nảo hồi nào một bà bạn văn chương ở  Hà Nội vì ngờ vực thằng bồ khốn kiếp của bà say mê Lê đã xúi một gã Xuân tóc đỏ đến  tán tỉnh cô. Hắn tứ cố vô thân không thành vấn đề, hắn chuyên nịnh bợ đám con ông cháu cha không thành vấn đề, hắn cố leo trèo cũng không thành vấn đề. Hắn vốn là anh em của tình nhân bà bạn xấu. Bà ta bịa tạc rằng, Lê giàu lắm, giàu đến độ, hắn mà yêu được Lê thì có thể trở thành phu đào mỏ chuyên nghiệp. Cũng vui là mấy cô bạn cùng lớp biết chuyện đã dẫn dụ và nhốt hắn trong toalet đâu mấy giờ đồng hồ, từ đó hắn xấu hổ và cái ý nghĩ tán tỉnh cho được Lê nhằm lợi dụng kiếm chác cũng tiêu tùng.
          Nhưng đó là chuyện linh tinh thời còn đi học. Lê mệt mỏi vì tình đời, tình người. Vài ba người tốt đã cứu Lê đúng lúc. Nhưng Lê đã bất lực trong sự chọn lựa một cõi riêng. Vậy mà mọi cánh cửa cứ đóng sầm. Lê ngao ngán vì đi đâu cũng gặp một lũ mèo mả gà đồng. Họ trông có vẻ lãng mạn, hiểu biết và có học nữa. Nhưng đó chưa phải là bản chất của họ, bản chất họ chỉ là bọn điếm trá, trên phương diện nào chúng cũng là lũ đĩ bợm, thúi tha. Chúng chỉ ưa tìm một nạn nhân bé nhỏ để chĩa nọc ra châm chích. Độc địa lắm đấy nhưng mà chúng sung sướng thấy nạn nhân của mình chết trong  đau khổ. Chúng kéo người này, lôi người nọ vào cuộc, rủ rê cả một bè lũ xả ra đủ mọi rác rưởi hòng chôn lấp nạn nhân đáng thương của mình. Vì lý do gì? Vì ác thôi. Chúng có thừa đất để dụng đến cái ác của mình. Xã hội đã nuôi béo cái ác. Nhà thơ trường chúng tôi chưa chọn cái chết làm lối thoát, vậy là bọn chúng nhân một cái cớ liền đem cô ấy ra giết mổ. Những người trong sáng luôn sợ bị bôi bẩn là đối tượng đầu tiên bị chúng chọn. Chúng đánh đĩ lương tri không nhằm kiếm tiền thì cũng để vui sướng một cách bệnh hoạn, ngu xuẩn nhất. Mà đã đĩ điếm kiểu ấy thì những cô gái giang hồ, hành nghề bán trôn nuôi miệng còn sạch sẽ hơn nhiều.
          Lê ngờ ngợ khi anh Lâm còn bảo thằng Đôn nhiều lần dắt vợ đến khoe với anh và cô ta trông quá hãnh diện, hoặc giả đó là cô gái kênh kiệu, gây mất cảm tình nơi anh ngay từ đầu. Cô ta muốn chồng chơi chết Lê luôn. Chơi như một tên chỉ điểm hoặc ngậm máu phun người, ném đá dấu tay càng tốt. Quái thai ấy hắn đem tận ngoài Bắc về. Lê bảo anh Lâm thôi cứ mặc xác người ta. Chắc Đôn chỉ khoẻ kiếm vợ trẻ thôi. Hy vọng cô ta chịu đựng nổi chồng suốt đời. Trong mắt Lê cô vợ hắn cũng như bao cô gái trên đời này Lê chưa từng biết, riêng hắn, cũng như lũ sinh viên văn khoa của hai trường sư phạm và tổng hợp ở Huế, cùng phe nhóm nào đó bẩn thỉu hơn ở Quảng Nam-Đà Nẵng mà Lê không biết, đã chẳng làm gì được Lê cả vì Lê đã coi như chưa từng biết họ. Mà một khi Lê không biết gì ai thì họ cũng chẳng nên biết gì Lê. Giả sử Đôn còn tưởng Lê yêu hắn thì cứ cho hắn làm con quỉ suốt đời. Oái oăm người như Lê chẳng biết vì muốn hưởng cái gì ở cuộc đời mà đến thế giới này. Lê đau đớn lắm, đau đến mức có một động lực ném Lê vào một thực tại khác, ở đó, Lê nhìn cái thế giới mà Lê đang sống như một người nằm mộng, nhìn những ảnh hiện trong mơ không ngừng đổi thay. Dù phát điên được bởi động lực đó cho Lê tỉnh giác để phải sợ bộ mặt thật của đời sống Lê vẫn không thể căm thù nổi, như thể có bàn tay vô hình lấy cắp lòng hận thù trong Lê. Về phía bản thân, Lê luôn nuôi một ước ao lớn hơn cái xác người trĩu nặng nỗi đời là làm sao để một năng lực phi thường trỗi dậy, phá tan cái tinh thần bạc nhược và thiêu rụi tật bệnh thân thể, đạp đổ mọi tường lũy, cần thiết tích chứa một nội tâm hùng hậu cùng sức hiểu biết đủ để chứng minh cho loài người hiểu: anh chỉ có thể sống trong cái vòng điêu linh vẫn vây bọc thập loại chúng sinh trong bao nỗi thăng trầm từ đông sang tây, cổ chí kim và cũng chỉ tồn tại trong vòng trăm năm thôi.
         
          Còn nhớ anh Lâm đau đớn bảo Lê con trai anh lấy bằng thạc sĩ sư phạm ngành Toán. Sau khi dự phỏng vấn ba trường trung học và đều bị trả hồ sơ chàng trai đã đâm vào ô tô. Cái chết không đến như chàng trai chờ đợi, như vậy chàng trai phải nằm bệnh viện điều trị chấn thương cả năm. Bây giờ chàng trai ôm gói đi học đông y, cái nghề từng giúp anh Lâm nuôi sống cả nhà nhưng đến lượt con trai thì muốn hành nghề gia truyền phải qua trường đào tạo, phải có bằng cấp.
          Vào cái thời Lê học ở Huế, hai mươi tuổi Lê được hội văn học nghệ thuật Huế trao giải thưởng thơ, đồng tiền kiếm được từ thơ phú không những bèo bọt mà còn gây ra lắm sự yêu, ghét. Hồi đó Lê chưa biết làm một nhà thơ thì nên yêu thứ gì. Lê cố thoát li ruộng lầy chốn thôn quê và trong cái mớ bòng bong văn chương, Lê cứ tưởng nhà thơ nhà văn thì chỉ yêu cái đẹp, mà những ông bà văn nghệ sĩ là đại diện để làm nên cái đẹp ấy. Giờ đây Lê thấm thía rằng: người cầm bút nào cũng bị ném vào bãi lầy hiện sinh nhanh nhất. Làm gì để ra khỏi nó? Phải yêu những thứ cát bụi kể cả cái nẻo đời lầy lội anh luôn ngập ngụa, trượt té. Anh là người làm công việc sáng tác, vậy thì anh hãy uống đủ những đen tối trước khi tiếp nhận ánh sáng. “Vậy tôi không thèm làm văn chương nữa!” Hoàng Mai đã dứt khoát như vậy dù chị có một thần đồng văn học trong người. Chị nhận giải thưởng tiểu thuyết hay năm mười bốn tuổi. Lê không làm được như chị. Ăn thua ban đầu là anh có tiền không? Lê lúc nào cũng không có tiền nên là kẻ nổi chìm trong bãi lầy hiện sinh vào mọi thời điểm. Lê kiếm tiền khó nhọc hơn người xưa tầm sư học đạo vậy nên giờ đây nếu có kẻ hỏi Lê yêu ai nhất thì Lê thừa can đảm để nói rằng Lê yêu một nhà tài trợ cho mình. Khổ nỗi, nhà tài trợ hảo tâm chưa xuất hiện vì vậy mà chưa bao giờ Lê yêu ai. Con tim Lê còn trong sạch đến nỗi, mọi sự quấy đảo cho dục tình chỉ khiến Lê chán chứ không làm Lê đắm trước hoặc thoả hiệp. Cũng vì thế mà Lê từ bỏ tất cả những kẻ giả dối vẫn tìm cách chiếm đọat đời mình bằng những hình thức cao thượng như tỏ ra ta là người yêu. Cũng may người đời tuy lạnh lùng, dửng dưng với Lê nhưng cũng quay lưng lại những kẻ ấy vì thế y chẳng làm gì được Lê và chẳng thể nhân danh bất cứ cương vị gì để lên án, phê phán và phá đám, chọc gậy bánh xe.
          Năm ngoái Trung, một bạn học cùng lớp ở Huế bây giờ làm biên tập sách ở một nhà xuất bản tại Sài Gòn viết thư cho Lê kể anh chỉ là một nhà thơ. Ngày trước gia đình anh chuyển vào Sài Gòn thiếu tiền phải mua tạm một ngôi nhà ở Ngã Năm Chuồng Chó. Ngôi nhà nhỏ, giá rẻ, bán lại chẳng bao nhiêu tiền. Anh bị ung thư phổi phải thế chấp nhà vay tiền chữa bệnh. Không chỉ lo chuyện nợ quá hạn bị tịch biên mất nhà. Ngày nào cũng sợ chết không đất chôn…
          Hiện diện giữa Sài Gòn bên cạnh những kẻ đồng hương Lê chỉ là một phụ nữ đi làm thuê, hết ăn nhờ ở đậu ra thuê nhà ổ chuột trú thân. Lê từng phải phụ việc quán ăn, viết quảng cáo và làm công nhân. Có nhiều tháng Lê thất nghiệp nhưng chưa bao giờ là kẻ vô nghề nghiệp. Không tìm được một công việc như ý muốn Lê đã đi đan thuê bàn ghế nhựa cả năm trời. Đôi bàn tay của Lê ngày nào cũng tứa máu. Đêm đêm Lê ngồi gõ chữ và mong những tác phẩm của mình có đời sống dài lâu. Rồi Lê nhận ra mình trở thành mục tiêu của những con thú khác, man rợ hơn, thèm xé xác người đàn bà vẫn sớm vác ô đi tối vác về, quẩn quanh khắp phòng trọ, chợ búa, thỉnh thoảng ngồi quán nước và ăn cơm bụi. Lê cũng mới chỉ như miếng mồi trước những con thú ăn thịt đồng loại. Chúng chưa kịp tấn công Lê vội xa chạy cao bay. Thời ở Huế không khó chịu nhưng chưa có chi vui: Lê dịch chuyển từ tuổi mười bảy đến hai mươi khá nhanh. Lê trong mắt Huế chỉ có mái tóc dài và cái cười ngây thơ. Đôi mắt nhìn cái gì cũng thấy lạ lẫm, chưa dính với anh nào – Phải đến bây giờ Lê mới suy nghĩ nghiêm túc là hơn ba mươi tuổi mà mình vẫn không dính mắc một mối tình – thuở đó thì Lê đôi mươi và nghĩ tưởng mình chưa gặp một người mình thật lòng yêu.
          Ông già ấy ở bên kia sông Đuống, ông hơn Lê ít nhất cũng trên năm mươi tuổi. Thơ ông hay chỗ nào kia chứ! Có nhiều bài được đưa vào sách giáo khoa dạy ở trường phổ thông. Sau này ông còn được nhận giải thưởng nhà nước và là nhà thơ Việt Nam được khoác vòng nguyệt quế bởi là nạn nhân vụ Nhân văn giai phẩm động trời. Ông từng bị tù và nghe đâu khi được phóng thích ông còn xin được tiếp tục ngồi tù để viết kiểm thảo. Trông ông hom hem và tội nghiệp lắm nhưng vẫn cứ được tôn vinh nhà thơ lớn. Lê không nhận lời đi uống cà phê với mấy chàng sinh viên mà lại lên tận nhà khách của hội văn học nghệ thuật Huế để nghe ông nói chuyện, đọc thơ. Ông ta làm như đã phát hiện ra một thiên tài khi đọc thơ Lê. Lúc  đó trong Lê xảy ra một vụ nổ lớn. Ông ta chỉ vẽ cho Lê ra Hà Nội học. Những thần đồng thơ ca đất Bắc đều học ở Trường Viết văn Nguyễn Du. Gần hai mươi năm sau viết thư cho thi sĩ Trung ở Sài Gòn Lê kể một anh bạn cùng lớp người Ninh Bình lớn hơn Lê mười lăm tuổi, được vinh danh quái kiệt sông Đà vì mất việc vội chuyển về học cùng khóa với mình ở trường Viết văn. Anh ta bảo Lê ra học Hà Nội là sai lầm vĩ đại, anh ta còn hỏi Lê trông chờ gì ở cái xứ Bắc kì ăn rau muống lì như trâu. Mà Lê đâm lao phải theo lao. Ở Trường viết văn Nguyễn Du buổi vãn chiều xế bóng của những giáo sư hàng đầu sáng lập nên Lê chẳng học được gì ngoài cách đối phó với đám đông. Sau thời gian trường bị sáp nhập vào Đại học văn hóa. Mà cái khoa viết văn trường Văn Hóa và khoa ngữ văn trường sư phạm chẳng khác nhau mấy. Lê thất vọng đến không muốn viết cho bạn học ở Huế một bức thư. Lê vẫn biết những cây bút gạo cội xuất thân từ trường Viết văn như Dương Thu Hương, Hàn Vũ Hùng… bị cấm xuất bản. Đọc họ Lê vẫn thấy mình không thuộc hệ thống đó.
          Ôi tuổi hoa niên! những ước mơ hão huyền và những chân trời vô định. Khi rời bỏ Huế, Lê quên luôn khát vọng học hành đỗ đạt để làm ông nọ, bà kia. Lê cũng xóa nhòa bóng hình Kiên. Lê yêu anh ư? Không hẳn. Kiên chỉ là một anh chàng Lê từng mơ tưởng. Đứa con gái học sư phạm như Lê chỉ mơ yêu được một chàng trai học y và thấy đó là đối tượng chọn lựa số một. Lê chẳng muốn ai biết nỗi lòng Lê. Chàng cũng người Duy Xuyên, học y năm cuối, anh của đứa bạn cùng lớp với Lê thời phổ thông. Lần đầu được anh chở bằng xe đạp từ ga Huế về trường sư phạm Lê tràn ngập niềm vui. Lê mơ được anh yêu vì với Lê anh chững chạc, mạnh mẽ và quá người lớn. Nhiều năm sau này Lê được Đôn tỏ niềm yêu mến nhưng dù Đôn lớn hơn mười mấy tuổi nhưng sao lúc nào cũng nhỏ mọn trong mắt Lê.
          Không gì khó quên hơn cái kẻ khuấy động tình cảm đầu đời trong mình mãnh liệt. Phải chăng sự ân cần của một bác sĩ tương lai, vẻ hào hiệp cộng chút đa tình khiến Kiên hấp dẫn Lê thật nhanh, rồi để lại nơi Lê bao niềm lưu luyến. Anh trọ học nhà một ông cán bộ tỉnh và là gia sư cho hai con ông. Lê chỉ biết các quan hệ của anh ở quê nhà nhưng không biết những quan hệ của anh ở Huế. Một ngày Lê vỡ mộng: hai năm trước anh đã yêu một chị sinh viên người Huế. Lê biết cách chuyển hoá tình cảm thật nhanh khi hỏi anh về cái người anh yêu. Họ trông cũng xứng đôi và Lê biết mình không nên nghĩ gì thêm. Ngày Lê ra Hà Nội, anh đang đợt thực tế. Anh còn phải thi tốt nghiệp và học chuyên khoa. Không hiểu vì lý do gì anh và người anh yêu chia tay. Sau này lang thang tìm việc ở Sài Gòn, Lê gặp Kiên. Anh nói: “Em ra học ở Trường viết văn Nguyễn Du làm gì cho khổ?” – Lê bất cần: “hận lòng cứ hỏi trời già, nỗi oan phong vận mình ta buộc ràng”. Hồi học chuyên khoa, anh đã nghe cái đám đông ở Huế nhộn nhạo rằng Lê yêu ông già bên kia sông Đuống và theo ông ra Hà Nội. Anh không tin và thấy chỉ hơi ghê tởm dư luận. Anh không hiểu nỗi tại sao một bé gái như Lê chịu đựng nỗi những điều tiếng ấy. Mà họ là ai mới được? Họ là các giảng viên, giáo sư, văn nghệ sĩ, trí thức, cán bộ, sinh viên. Anh biết Lê chỉ muốn được anh yêu chứ không phải ông già đáng tuổi ông nội.
          Hà Nội cũng là nơi tái lặp cái điệp khúc Lê yêu ông già sông Đuống mà Lê gọi bằng bác. Riêng Vũ thì mơ hồ nhận ra Lê yêu hoặc gần như không dám yêu ai đó ở Huế, và cũng chập chờn đến thế thôi. Lê không e ngại thổ lộ với Vũ rằng Kiên đã yêu người con gái khác trước đó lớn tuổi hơn Lê. Buồn lòng là anh thực sự chỉ chạy theo một phụ nữ duyên dáng xứ Huế bởi như mọi chàng trai muốn thể hiện bản ngã cũng như nhu cầu giao cảm với cuộc đời anh cần có một cô bạn gái. Chị cùng tuổi Kiên và so với đa số, chị có nhiều ưu điểm hơn. Hai năm sau anh mới biết Lê vì lẽ những con nhóc bạn của em trai anh chẳng bao giờ được anh quan tâm. Anh có yêu Lê không? Đó mãi mà là một bí mật của lòng anh.
          Hồi tưởng lại những xúc cảm dịu dàng nẩy sinh nơi lòng mình nhưng tình yêu có khuấy mãi cũng không thành khối, Lê vỡ lẽ rằng: Lê chẳng yêu được ai vì không ai yêu Lê. Nhưng Lê mãi yêu xứ Huế thơ mộng. Những người bạn cùng thời sao mà mờ nhạt và đám đông mới thật là kinh khủng. Đứa con gái hai mươi là Lê đủ sức chịu đựng sự thị phi là người tình của ông già hơn Lê trên năm mươi tuổi. Vài năm sau ở Hà Nội có một ông chú một lần mang những đoá cúc Đà Lạt tặng Lê. Một bà bạn cũng hơi hách dịch diễn đạt một vấn đề hơi tế nhị rằng, người đàn ông ấy giàu. Nếu trở lại Hà Nội, Lê nên bắt bồ với ông, Lê sẽ được ông cho tiền. Hơn Lê hai mươi ông chưa thật sự già. Một lần trò chuyện với Duy qua điện thoại Lê khôi hài: “phải chi ngày xưa Lê yêu Duy, anh là đám hời nhất mà Lê để vụt mất”. Duy cười vui vẻ khoe anh đã có hai con. Thuở đi học họ nghèo. Họ không dám liều lĩnh lao vào nhau. Hơn nữa, tình yêu là một vấn đề cực kỳ khó hiểu và rắc rối. Năm xưa thân ái với Duy ba bốn năm, Lê không thấy tình cảm của hai người thật thiêng liêng. Nhiều năm sau nhìn lại, Lê tiếc nuối người con trai ấy đã nhiều lần nói là rất yêu Lê. Vậy mà họ lại thất lạc nhau.
          Thuở còn đi học, ba mẹ Duy phải vay tiền của cả họ vì không muốn anh bỏ dở sự học vì nghèo. Lê chán cái trường viết văn vì cứ học lại nhiều môn Lê từng học ở Huế. Lê mong chờ những nguồn năng lượng đủ sức công phá như bom nhiệt hạch. Mấy ông giáo sư già, quặt quẹo và thậm chí suy tư tưởng cứ đến hẹn lại lên buộc Lê mài đũng quần trên ghế giảng đường một cách tội nghiệp. Lê lao vào tìm hiểu những điều khác lạ rồi Vũ, anh bạn lớn tuổi cùng lớp dạy Lê hành thiền để chữa bệnh. Anh ta từng đi Tây Tạng học thiền và dạy thiền. Anh còn bảo sau này anh sẽ vận động xây dựng một thiền đường Phật giáo Tây Tạng. Nhiều kẻ bảo Vũ rao giảng tà đạo. Lê không biết tại sao Vũ cũng vào học trường viết văn. Vũ bị công an bắt ở Sài Gòn vào một đêm khuya, giữa lúc vợ sinh đứa con trai thứ hai. Ra tòa Vũ lên án tội ác của chế độ nhà tù, còn bảo phiên tòa xử anh là sự bịp bợm và cương quyết chống án. Cái chết của Vũ ám ảnh Lê không thôi dù gần năm năm sau vợ Vũ đưa hai đứa con sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Một người đàn ông tu thiền theo phật còn bảo Lê rằng: “Ai thực hành Bát Chánh Đạo đúng tinh thần của Đức Phật dạy là chánh đạo, không thực hành đúng Bát Chánh Đạo thì tà hết(!)”. Nhưng rồi biến mất khi Lê hỏi “vậy còn Chánh pháp là gì? Sao gọi Phật pháp, chánh pháp?” 
      
          Ngày nào  đó gặp lại Thành chắc chắn Lê sẽ nói với anh rằng người duy nhất mà Lê mong được gặp lại là anh. Mới bước chân vào trường viết văn, đám đàn bà của xứ Bắc Hà bắn vào Lê cái sự đố kỵ và dư luận xấu cùng những lời bịa tạc kinh tởm. Hễ Lê phản ứng và buồn nôn là bị cười là “ốm ghén”. Gần gũi ai Lê cũng tưởng họ giương nanh vuốt vào mình. Vũ lúc đó chưa thật thân như sau này, mới gặp, Lê thấy anh có vẻ ngoài của một lãng tử và Lê rất ít chuyện trò với Vũ. Lê cô độc và hay lang thang. Thành tìm đến và cùng Lê đi khắp các tỉnh miền núi phía Bắc. Họ quen nhau trên chuyến tàu tốc hành Nam Bắc trong lần đầu Lê đến thủ đô và kết thân với Thành rất nhanh? Anh rất tinh ý và hay khuyên Lê cảnh giác với cô này, đề phòng với cô kia. Một cô bạn bằng tuổi Lê quê Hải Phòng có cái gì tráo trở làm Thành hiểu đó là con người mà Lê không nên giao tiếp. “Con gái Hải Phòng giang hồ khét tiếng” – anh nói, rồi anh điểm danh vài cô người Hải Phòng từng cầm đầu các đường dây buôn người, chuyên dụ giỗ, mua chuộc, bắt cóc phụ nữ nữ và trẻ em bán sang Trung Quốc.
Lê thấy vui vì anh hơn Lê mười tuổi, anh khá thành đạt và chưa vợ, nhưng Lê không yêu anh, không cảm nhận được sự khác lạ khi anh xúc chạm vào mình. Anh nhìn vào mắt Lê làm bộ như hờn ghen rằng sao có lắm gã đeo đuổi Lê thế? Lê thấy buồn cười và chọc anh rằng có nhiều người yêu Lê lắm. Anh hể hả như thể Lê sẽ cho rơi cả đám.
          Thành thường xuyên công tác tỉnh, anh làm việc tại một cơ quan thuộc bộ xây dựng, hàng tháng anh mới về Hà Nội. Một hôm Thành đến, cả nhóm của Lê đang tranh cãi về chuyện tiền nong – lúc này Lê với hơn chục tên khác vây quanh Vũ, theo Vũ ăn chay, ngồi thiền. Lê bảo hết tiền không biết ngày mai đến cuối tháng ai lo nổi cái ăn cho cả nhóm. Vũ huỵch toẹt: chỉ cần đủ tiền mua gạo, ăn với muối cũng được. Lê chẳng bao giờ có tiền để mua sắm những món ngon.
          Đêm đó, Thành chở Lê dạo phố. Qua đường Cổ  Ngư, những đôi tình nhân quấn vào nhau. Thành bảo: mình dừng xe uống nước nhé! Lê lắc đầu, nói khẽ: “về thôi anh!”. Thành hỏi: “sao em nóng thế!” Lê không biết nói gì nhưng lòng nguội lạnh. Hồi đó, và mãi đến giờ, chưa bao giờ Lê biết đàn ông yêu và chiều chuộng ra sao. Lê cũng không biết Thành có yêu thương Lê nhiều không? Không ít lần Thành bảo: “em cần tiền nói anh biết nhé!” Bao giờ Lê cũng cần tiền nhưng chưa lần nào Lê nói điều đó với Thành. Bạn cùng lớp với Lê mở miệng ra là “tiền, tiền”. Cả thế giới quanh Lê rùng rùng trong cơn sốt tiền. Cô chỉ thấy mặt trái của xã hội: người nghèo chết đói. Gia đình Thành thuộc giới nhà giàu ở Hà Nội. Cha của Thành tập kết ra Bắc và đang là quan chức thuộc bộ xây dựng. Ông có hàng trăm lô đất. Anh ruột Lê cũng dân xây dựng nhưng là phu phen: suốt đời đi đổ bê tông, làm cầu đường, phụ hồ, thất học lười biếng và hung ác, y dành giật cướp đoạt mọi thứ của cha mẹ và để cho Lê gánh vác việc phụng dưỡng, nhưng đó là sau này, khi mẹ cô đau nặng qua đời, còn cha cô đơn độc trong tuổi già. Lê nuốt miếng cơm của cha mẹ không nổi vì sợ anh. Lần cuối cùng Thành đến chỗ Lê là khi anh bảo vệ luận án tiến sĩ. Anh muốn Lê đến dự. Lê vừa tìm vay chút ít tiền đủ chi tiêu dè sẻn trong 3 ngày.
          Lê không đến dự lễ bảo vệ luận án  tiến sĩ của Thành. Lý do thật  đơn giản. Lê không mượn được tiền để mua một bó hoa mừng tặng anh. Thành ôm chiếc cặp bóng loáng, buồn rầu lên chiếc xe mới mua. Lê nói dối anh là Lê phải đi thực tế, vé tàu đã đăng ký. Tối hôm sau anh đến giữa lúc Lê nằm đọc sách, Vũ ngồi cạnh giường ca cẩm chuyện vợ mới sinh con đầu lòng. Anh ta cãi nhau với mẹ và đem vợ con ra Hà Nội. Anh gửi vợ con ở nhờ nhà người bạn. Anh năn nỉ Lê đến giúp vợ con anh và hứa không được cho người khác biết. Lê và Vũ bắt tay rồi cười. Thành nhìn thấy họ bắt tay nhau cười vui vẻ mà lắc đầu, quay về, từ đó Thành không bao giờ đến chỗ Lê. Ngày 8.3 năm đó Lê nhận được một cánh thiệp với lời chúc hạnh phúc của Thành. Bao lần Lê mong gặp lại Thành nhưng anh biệt tăm thật sự. Trong mắt đám bạn Lê là đứa con gái khác lạ. Người ta có thường khổ đau quá mà phân tâm thành một thứ người lập dị hoặc tự đối ngẫu không? Ít khi Lê nhớ về Thành vì anh chắc chắn là thành đạt và giàu. Lê không cần bận tâm, thương nhớ về một người con trai giàu, thành đạt, chưa biết thiếu đói rét như mình. Thuở xưa có lúc bên anh, Lê hỏi: “sao anh ít khi ghé trường em chơi!” Anh bảo bận. Anh đã đi làm nhưng vẫn phải tranh thủ học lên cao hơn. Rồi mẹ anh đau. Họ đã từng cùng nhau vượt biên giới, sang tận Trung Quốc mua thuốc cho mẹ anh. Nhiều năm sau này, cuộc sống ngày càng cơ cực, Lê muốn có một người như Thành bên cạnh để nói rằng: anh hãy ôm em, giữ chặt em, che chở em.
       Lê biết Lê giống ai không? Có lần Thành hỏi.
          Lê lắc đầu có cảm tưởng anh sẽ bảo Lê giống một người kì quặc nào đó như Lê hay đùa anh nhưng sợ Lê phật lòng hay sao đó mà Thành bảo rằng Lê trông rất giống ca sĩ Lê Dung. Thì ra anh yêu Lê Dung bằng một thứ tình yêu gần như là thần tượng. Từ Thành, Lê mê nhạc kịch opera, biết Lê Dung hát opera hay nhất Hà Nội. Đâu bằng tuổi Lê bây giờ hoặc lớn hơn chút ít chị chết vì bệnh ung thư. Lê chưa yêu ca sĩ nào tài hoa bạc mệnh như chị. Lê không yêu Thành và có lần Lê tức giận, Lê bảo chẳng bao giờ là Lê Dung thứ hai. Mười mấy năm sau, đau khổ lắm Lê mới nhận ra rằng Lê nuối tiếc sao một cuộc tình với Thành không nẩy sinh. Chưa gã đàn ông nào xử sự với Lê theo cách của Thành. Yêu là gì? Những kẻ vẫn thơn thớt rằng yêu Lê đã làm gì cho Lê kia chứ. Họ thèm muốn và toan tính chiếm đoạt được Lê là trở mặt. Họ chưa bao giờ biết Lê cần tiền, Lê thèm một sự nâng đỡ những lúc kiệt quệ vì bệnh, Lê cô độc. Đôn thường khen Lê thánh thiện và trong sáng. Nhưng Đôn có thể tốt với cả thiên hạ còn với Lê Đôn nghĩ có hèn hạ cũng không sao?
      
          Một  điều gì đó hết sức lạ lùng làm thay đổi Lê hòan tòan vào cái lúc cô ở trong tình trạng quẫn bách. Hắn như một gã đàn ông bước vào cuộc đời một người đàn bà độc thân. Hắn nói là biết chắc Lê còn trẻ, “Em chừng mười bảy nhỉ?” hắn nhìn Lê nói như thể Lê có vẻ vậy thôi, thực tế Lê lớn tuổi hơn nhiều. “Em làm gì?” “Tôi viết văn”. “Đọc văn em tôi có ấn tượng em đang tuổi ba lăm, ba sáu. Ngoài ba mươi thì tối đa chừng đó. Lớn hơn nửa thì phải gọi là U40. Vâng! Chính xác. Nhưng em có thấy em có khả năng phân tâm hoặc tự chuyển hóa tâm thức không?” “Có thể, nhưng mà sao kia?” – “Em là một con người lưỡng diện. Trong em có hai cô gái: Lê lớn và Lê nhỏ!” – Tôi đang kén vợ, nếu phải chọn giữa hai tôi chấp nhận Lê nhỏ. Tôi chỉ yêu con nít. Tôi không yêu đàn bà!”
          Lê cười khanh khách: “đi mà tìm con nít khắp trời đất rồi yêu! Tôi không có thời gian để làm một bài thơ đừng nói là chạy theo một ông đang kén vợ”.
-        Thế nhưng cô nghĩ sao nếu tôi giúp cô tiền bạc và cưới một cô gái am hiểu mọi chuyên ngành văn hóa như cô!
          Lê chua chát “nếu không phải lo âu cơm áo gạo tiền, vì anh, tôi sẽ từ chối!”
                   Hắn bỗng giận dữ: “Nè, cô nhỏ! Hưởng cái chó gì mà đến cuộc đời này. Con gái người ta ngực mới nhu nhú là lấy chồng rồi”. Lê nổi sùng vì con người khác thường đó xui Lê duỗi tóc, tô phết, là lượt áo quần và ra đường, liếc ngang liếc dọc xem có anh nào nhìn mình thì nhìn lại, làm sao cho họ hiểu là mình đang đi tìm đàn ông. Hắn bảo hề nhất là những người đàn bà như thế nhưng họ làm cho đàn ông điên lên, đàn ông chạy theo họ, ỡm ờ, ẽo ợt, uốn éo kiểu gì rồi cuối cùng cũng quấn vào nhau, quặp thằng giàu thì tranh thủ xin tiền thế nào hắn cũng cho, mà hắn không cho thì đá bay, tìm thằng khác. Lê lắc đầu, Lê chưa bao giờ muốn làm những việc như vậy: “mi chờ một thằng tử tế hả? Nói cho mi biết: hoàng tử, quân vương, đại gia nào cũng chỉ muốn tìm gái đẹp, rước về hoàng cung, ép vào hậu điện để thoả sức mây mưa. Đàn bà con gái nào đặt chân vào chốn cung đình thì coi như cập bến hạnh phúc. Mà mi nghĩ xem, vừa bốn năm tuổi là mi đã mơ mộng trở thành hoàng hậu, công chúa, mệnh phụ... được đón rước, được sống hạnh phúc bên ông hoàng đời mình. Đứa con gái nào cũng mơ chuyện ái tình ngay từ lúc hỉ mũi chưa biết chùi sao cho sạch”. Lê bảo hắn: “lớn lên thì không mơ chuyện yêu đương nữa, chỉ nên đem tình ái ra cười cợt!”. “lớn lên ấy à!” Hắn đong đưa như thể Lê sẽ theo hắn ngay khi hắn nêu ra cái sự thật tàn nhẫn: “lớn lên cô gái nào cũng bị một hoặc nhiều thằng đàn ông đến dụ khị. Hắn nói những lời đường mật, hắn chạy vòng vòng như con gà trống giữa một lũ gà mái. Vậy là cô nào cũng mơ về hắn đến nỗi trong lòng các cô hắn không thật là hắn như trong đời. Hắn chiếm đoạt xong sẽ ỉa vào cô ta, hắn chửi mắng, nhục mạ làm như thể vì cô ta mà hắn hư hèn, đê tiện, đĩ thõa. Mà hắn là ai mi biết không? Hắn là mọi thằng đàn ông bất kì trên đời này. Có thể hắn khốn nạn với đứa này nhưng không khốn nạn với đứa khác, hắn vẫn cứ khốn nạn. Cô em yêu quý! Khôn hồn cô em đừng mơ tưởng đến ai. Đặc biệt đừng mơ tưởng đến những thằng như tôi”.
          Lê nói với hắn Lê yêu quý kính trọng hay trông chờ hắn thì Lê cũng chỉ mong lúc nào Lê cũng là Lê. Một phụ nữ sẵn sàng làm những công việc trong khả năng mà mình có thể để mưu sinh. Lê sống khó nhọc và nghèo khổ. Lê chỉ mong một cuộc sống nhẹ nhàng và sung túc hơn. “Tiếng tăm! Thế mi không muốn có chút tiếng tăm ư!”
          Hắn cười, bỗng độ lượng quá! Lê bộc bạch: “Tôi đã te tua với trăm công ngàn việc trên đất nước này. Gần mười năm im lặng như bước vào cõi chết. Ở anh còn điều gì khác nữa không?”
          Hắn ném cho Lê một thư mời tham gia một trường viết văn quốc tế. Lê bảo trên xứ sở mình cô đã bị đóng đinh câu rút! Đi thì về đâu?
          Ý thức Lê vẫn vận hành như thể, Lê sẽ tri kiến được những gì sắp xảy ra. Thời tương lai không tuyệt vời như Lê trông đợi mà chất chứa những lo âu, hiểm nguy, tai ương và tội ác, độc dược nhưng hy vọng ai cũng nhận ra dù quá đỗi muộn màng.
                                                     Lê Thu Thùy

NHỮNG ĐỨA CON CỦA MỘT THIẾU PHỤ
                                         *
Đám người đang ồn ào chợt im bặt khi Trà xuất hiện. Bảo lia cái nhìn khó chịu một lượt khắp người Trà. Vợ chồng anh Ba liếc nhau đầy tội lỗi. Trà tránh ánh mắt nặng nề của chị Tàu. Trà biết mình có mặt không đúng lúc. Cô cũng biết mình đang là trung tâm của câu chuyện đang đến hồi nham nhở. Lẽ ra Trà đừng quay lại nơi đây. Ban nãy anh Hai kết toán tiền thu chi sau đáng tang. Trà thoáng nghĩ: giá như mình chết!
Bỗng nhiên Trà hình dung lại mẹ và tim như nhói lên bởi một lưỡi dao vô hình xuyên thẳng. Giá như cô có được sức chịu đựng của mẹ, dù chỉ một phần thôi. Mẹ bao giờ cũng là người bị đau nhiều nhất những cơn cớ của mỗi người trong cái gia đình vốn lắm sự bất cập bởi khó nghèo, cơ cực và tối tăm. Vâng! Tối tăm. Trà không thể dùng cách gọi khác hơn bởi vì trong đại gia đình này ngay từ thời niên thiếu cô đã thấy nó là địa ngục. Bây giờ chẳng khá hơn: sự so bì tỵ nạnh, thói hợm hĩnh hơn thua, mưu toan, loại trừ, ghen tuông, những cuộc cãi vã triền miên mà người nào cũng cho mình đúng, và dù không đúng thì cứ hễ có một cuộc xung đột thì bao giờ kẻ trong cuộc cũng muốn mình hơn. Không ai tiếc lời để đối phương phải tức, phải khổ đau, phải uất ức, phẫn nộ, thậm chí có phát điên lên vẫn chưa thể làm hả dạ kẻ muốn thắng cuộc.
Mẹ vẫn thường bỏ lên chùa vào những đợt xung đột như thế. Còn cha vào những lúc như thể khổ lắm, tủi nhục lắm. Cha chỉ biết cứ vài ba ngày thì lầm lụi lên thăm mẹ. Hai ông bà già ngồi trò chuyện. Họ nói chuyện gì Trà không bao giờ biết. Sống cùng nhau hơn năm mươi năm và thương yêu nhau nhường ấy thì có biết bao nhiêu điều để nói. Con cháu có làm được chút gì cho cha mẹ, thậm chí mua một miếng ngon mời cha mẹ xong là cứ tưởng mình hiếu thảo với cha mẹ lắm, công mình to lớn lắm. Hơn tất cả những người khác trong gia đình, con tim Trà đủ biết tan nát trước những cay đắng của mẹ cha. Nhưng cô con gái nghèo chẳng làm gì được cho ai. Ở cái vùng quê mọi thứ tưởng chừng yên lành này hãy còn lắm mọi rợ, ngu dốt, độc địa, khát máu, thú vật. Dường như người ta nghiễm nhiên cho phép mình đê tiện, tàn hại nhau, vậy mà rồi vẫn cứ đĩ miệng “tôi tốt”. Vẫn tưởng mình thiện tâm hơn những con người ở nơi khác. Ừ, thì họ chưa bao giờ sát nhân, chưa nghiện ngập, chưa làm những việc đồi bại, đồi trụy... thế nhưng trong mỗi gia đình, nhà nào cũng như có sẵn một con rắn độc bảy đầu lúc nào cũng rình rập không mổ kẻ này thì cắn kẻ kia để rồi nạn nhân bất thần gào thét, kêu cứu nhưng đâu ai đánh thức được thói vô cảm. Kẻ không được cứu có thể sẽ chết hoặc dị dạng, khuyết tật và hắn sống càng lúc càng khó nhọc hơn. Trà cũng chỉ là một nạn nhân của một bầy rắn độc. Cô không thể không đau lòng vì người làm cho cô chết trong đau khổ trước tiên là những người ruột thịt. Nhiều lúc cô muốn nằm xuống, hai tay buông xuôi quên hết sự đời nhưng rồi như còn nặng nợ với cuộc đời, cô tiếp tục bơi lội trong địa ngục.
Anh Ba! Mới nghe qua tưởng tình thâm cốt nhục. Cả chục lần y siết cổ cô, có một kẻ dấu mặt hàng giờ a lô, hắn hất cái mỏ là y tuôn theo răm rắp. Hắn muốn gì. Hắn muốn y bóp cổ đứa em ruột tên Trà. Hắn biết vợ y lắm, vợ y làm cái việc là hễ Trà nói gì, làm gì, đi đâu là mụ phải a lô cho hắn, hắn sẽ sai người theo Trà báo hại. Có lần Trà đến một ngôi chùa có cậu em con ông chú đang trụ trì, đám cô hồn trời đánh bu theo. Chúng a lô cho hắn, việc của hắn là gọi điện thoại ngay lập tức đến chị dâu, anh ruột Trà, gã anh trai bất nhân được hắn cho biết là Trà đang theo trai, Trà đi đâu, làm gì hắn cũng nghĩ là Trà theo trai, hắn vừa lưu manh vừa bệnh hoạn vừa biến thái. Có thể hắn từng làm việc cạnh Trà hàng năm trời và thèm khát Trà, hắn tưởng Trà yêu hắn, thuộc về hắn. Hắn như con quỷ khi hiểu ra Trà có một đời sống khác, có những tình cảm khác, và nếu như việc cô từng muốn làm vợ một người đàn ông, hoặc cô đã yêu thương một đứa trẻ như con đẻ là điều hắn không thể chấp nhận, bỏ qua, tha thứ (tha thứ thế đó – trong cái đầu óc hẹp hòi, nhỏ nhen, ti tiện chứa đầy ghen tuông bẩn thỉu đó vừa thèm khát một đứa con gái trẻ trung nơi Trà) vừa như con chó điên chỉ muốn cắn chết Trà và khi hắn phát hiện ra Trà rất nhiều bạn và hơn nữa số bạn của Trà là đàn ông thì hắn chỉ có thề hiểu Trà đi đâu, làm gì cũng là đi theo trai, dan díu với tình nhân và hắn phải giết Trà bằng được.
Anh Ba trước kia không đên nỗi nào, từ khi bị thằng lưu manh đầu độc, vợ y thì mê chết hắn và mụ không ngừng rót vào lòng chồng nỗi hận thù với cô em chồng vì có lần cô dám tát vào mặt mụ và dần dần mụ biến anh ruột Trà thành kẻ sát nhân.
Không ai hiểu tại sao Trà bị anh ruột và anh rể vây đánh. Y a lô cho một lũ đầu trâu mặt ngựa vào tận giường ngủ của Trà, đang lúc Trà nằm bên máy vi tính nhập liệu các mã bảo mật cho một Công ty việc làm nhanh. Một lũ cô hồn nách thước, tay dao xông vào có sự hướng dẫn của gã anh ruột, chúng đánh Trà đến hộc máu miệng, chúng trói chân, trói tay Trà rồi gọi ô tô đưa thẳng vào nhà thương điên. Hơn ba tháng trời Trà bị nhốt cùng những con bệnh tâm thần không còn tri giác, thằng lưu manh không ngừng dùng điện thoại hướng dẫn bọn bác sĩ, y tá vô lương tâm hành hạ Trà bằng đủ mọi cách. Chúng móc ngoặc với nhau. Ngày nào cũng có một gã trời đánh mặt blu trắng đến chỗ Trà nhắc đi nhắc lại một chàng trai có tên là Thi. Cứ như cái thói dã man của bọn này thì cái lần cô vào chùa chúng cố tình xuyên tạc là cô đến chỗ Thi. Cô với Thi chưa bao giờ yêu nhau. Cô chỉ gặp Thi một lần trong đám cưới em trai người bạn. Nhưng không ai hiểu tại sao lòng ghen tuông độc ác và thói mọi rợ khát máu của bầy ma quỷ đẩy Trà đến cái chỗ kinh tởm nhất trần gian này. Trà phải tính sổ với con quỷ ăn thịt người kia sao? Sức đâu cô làm nổi việc đó. Đằng nào anh Ba của Trà cũng cũng nhơn nhơn bộ mặt ma quỷ thay thế cái mặt nạ của thằng lưu manh. Y đã làm cho mẹ Trà đau khổ khi chứng kiến con gái bị giết một cách tinh vi đã phát bệnh nặng, và gần ngày mẹ mất, một bác sĩ nhân đạo chịu khó nghe Trà bày tỏ sự thể mình bị anh ruột và bầy nguời nham hiểm hại anh ta mới vội vã can thiệp để bệnh viện thả Trà ra. Nếu không Trà đã chết như một người điên. Trà vừa kịp về nhà đã lao ra bệnh viện chăm sóc mẹ. Vài tuần sau thì mẹ qua đời.
                                                                                       
Chị Nghĩa không phải chịu những nỗi đắng cay như Trà dù rằng hồi mới về nhà chồng chị cũng bị cười chê không ít. Thói đời là vậy, hễ thấy người ta hơn mình là ganh ghét còn thua mình thì khinh khi. Thưở xưa, khi mọi người ai cũng nhàn rỗi sau những ngày đồng áng, vụ mùa vất vả, vào những dịp ngồi lại với nhau trò chuyện thôi thì cũng lắm trò vui, đặc biệt là vào những ngày giỗ trong các gia đình. Bây giờ mọi nhà đều giàu hơn xưa nhưng táng tận lương tâm, người ta chỉ muốn tỏ một thái độ để giết chết nạn nhân thôi. Trà biết mình sống mà như chết.
Lúc này đây Trà thèm ở một nơi nào đó chỉ riêng mình cô thôi. Phù hợp với cô có lẽ là một ngôi chùa càng ít người tới lui càng tốt. Hôm kia cô lên chùa, một bầy người như lũ thần trùng ăn xác chết, ăn xương khô bám theo cô. Cứ nghĩ đến ngôi nhà với vài người ruột thịt cũng lắm tội ác là Trà chẳng muốn về đó. Ban nãy đã không nghe theo lời chị gái, Trà cầm hồ sơ đi xin việc bị chị trề môi. Còn đứa cháu đang làm việc tại một cơ quan tư pháp châm chọc Trà rằng: “thời buổi này dì đi kiếm việc làm ở các cơ quan nhà nước mà vác bộ hồ sơ chay thì có mà chờ đến tết Công gô. Cháu phải mất số tiền mà tính theo lương thì phải làm việc ba năm mới thu hồi đủ đó”. Nghe nó nói Trà như thấy có ai chẹn ngang cổ họng. Trà nghĩ đến cái hồi còn ở Sài Gòn, làm việc cho mấy doanh nghiệp tư nhân mặc dù công việc không đúng chuyên môn và tuy bị ép dầu, ép mỡ, vắt chanh lấy nước nhưng cô không phải chạy chọt biếu xén. Lại nữa, đứa cháu học đại học pháp lý mới ra trường rất có thể nói dối cô. Dù sao cô cũng biết quá rõ, không chạy tiền thì còn lâu nó mới được vào biên chế của cơ quan ngay lập tức. Nhưng cô không có ý muốn chạy chọt khi xin việc. Mà có chạy cũng chưa chắc được.
Trà không rõ sáng nay cha nói thật hay móc máy: “Tao chết đến nơi rồi. Mi đi đâu đi đi!...” Nhìn cha nằm liệt trên giường Trà ra khỏi nhà một ngày nghĩ đến cha là cô hốt hoảng. Về nhà không thấy cha là cô vội đi tìm. Cô đến nhà chị Tàu cầm tạm mảnh đất mà cha cho riêng cô để cất một túp lều mấy năm trước. Cô đã sống yên ổn trong túp lều kia mấy năm. Một lần, cơn bão lốc nari và mưa lũ đã làm sập lều, cô không thiết dựng lại. Trà phải cầm tạm mảnh đất lấy nửa cây vàng.
 Chị Tàu gọi cha cô bằng cậu ruột. Mấy năm nay chị phất lên như diều gặp gió. Chồng chị vừa xây tòa nhà ngót nghét ngàn cây vàng. Ngày xưa chị Tàu nghèo lắm, những ngày giáp hạt, thiếu ăn cả nhà thường sang ăn uống chung với ba mẹ Trà, có năm tình hình đó kéo dài cả tháng trời. Khi anh Tú chồng chị Tàu mở công ty, chị Tàu về nhờ cha thế chấp vườn nhà vay tiền giúp chị làm vốn. Cha bao giờ cũng sẵn lòng với đám cháu ruột.
Bây giờ cha già yếu lắm rồi. Vườn nhà chia ba xẻ bốn cho lũ con mỗi đứa một thửa, cha chẳng còn gì ngoài tuổi tác. Chị Tàu chê cha vô phúc. Sinh một đàn con ăn tàn phá hoại, chỉ biết báo đời, báo kiếp cha mẹ. Trà cũng biết mình cùng đường mới tới chị Tàu.
Có một người anh như anh Ba thì thà không có còn hơn. Trà tuyệt vọng khi thấy bên ngoài thói gia trưởng vô học anh ruột là tên ác ôn tàn hại cô đến điêu đứng. Giờ đây trong tim Trà chỉ còn nỗi hận thù vợ chồng ông anh tàn độc.
Có lần bà chị dâu đay nghiến:
-        Học cho lắm vào rồi chẳng biết làm gì cho ra hồn, ra vật. Sinh viên ra trường thất nghiệp đứng đầy đường, trèo cao để rồi té nặng, sống dở chết dở. Đi mò cua bắt ốc bán cũng ra tiền chứ cần gì phải học(!)
Trà hết biết với bà chị dâu quỷ quyệt ấy, một người anh khác của cô đã từng bao phen muốn bỏ xứ đi. Chị ta không thôi rủa vào sự học của Trà. Ít nhất ở cái xóm Chó này Trà là người học hành hơn hết.
Chị Ngà có lần bóng gió: “con Thoa nó bỏ chồng rồi. Từ hồi trở thành thư ký riêng của ông Hưng. Được ông ấy cưng, nó như bà hoàng...”
Thoa nổi tiếng bởi sắc đẹp gái một con, Trà và Thoa là bạn chung học thời phổ thông. Học xong mười hai Thoa lấy chồng. Một thiếu gia o bế cô nàng suốt mấy năm nhưng khi rước nàng lên xe hoa về nhà mình thì cứ cơm không lành, canh không ngọt bởi mẹ chồng ghét dâu còn Thoa kiêu kì như một mệnh phụ. Con trai Thoa lên mười thì nhà chồng sa sút. Thoa tìm việc làm. Tay giám đốc sở giáo dục gấp đôi tuổi Thoa bất chợt phải lòng Thoa ngay trong giây phút đầu tiên cô nàng dự phỏng vấn tuyển thư ký riêng. Không khó khăn gì Thoa được nhận vào làm và nhanh chóng trở thành vợ ông Hưng. Chị vợ lớn cùng ba đứa con đau khổ bởi cảnh nhà tan cửa nát. Đứa thì lìa đời trong bệnh tật, đứa bỏ nhà đi tu. Bản thân chị ta cũng đi tu và ông Hưng nghiễm nhiên cưới Thoa và rất hãnh diện với người đời khi có cô vợ sắc nước hương trời.
Chưa bao giờ Trà là một cô gái đẹp, là tâm điểm để mọi ánh mắt đàn ông dồn vào mà hy vọng làm một cuộc soán ngôi ngoạn mục như Thoa. Ông giám đốc sở giáo dục sẵn sàng mất chức, ráo máng cạn tàu với vợ con và tranh đoạt toàn bộ tài sản rồi dắt mẹ con cô vợ bé vào Sài Gòn tạo dựng lại tất cả. Ông chưa già. Ông nói đã tìm được nửa của mình, thấy mình có ép vợ, ép con một chút cũng chẳng việc gì. Ở Sài Gòn không ai biết ông đã đối xử như thế nào với người vợ hiền và đàn con bất hạnh. Còn Thoa thì vẫn ngời ngợi một tấm nhan sắc để các quý ngài chốn đô thành phải ghen tỵ với ông Hưng.

Có lần Tâm nói với Trà rằng nhiều khi người ta phải làm những việc nhẫn tâm vì họ phải suy tính thiệt hơn cho mình. Xem ra Tâm có vẻ thông cảm với Thoa trong cuộc tranh giành này. Không phải Thoa chỉ đẹp mà còn hơn người một thủ đoạn. Trà biết Tâm nói vậy vì ý thức vào nhan sắc của mình. Ai cũng biết là Tâm rất đẹp. Tâm không đa đoan như Thoa đâu. Bao giờ Tâm cũng được chồng yêu và với bản tính hiền lành, chăm chỉ, Tâm gây thiện cảm trong lòng những ai biết Tâm. Trà có lần đùa rằng, mình mà là đàn ông, ngay từ khi còn chung học, mình sẽ phong tỏa Tâm cho riêng mình. Nhưng chỉ riêng với Trà thôi, Tâm mới thể hiện cái nỗi đau khổ của một phụ nữ nhiều khi phải làm một kẻ nhẫn tâm:
-        Trà có tưởng nổi không? Suốt đời Tâm cứ ân hận vì ngày xưa đã theo học y chứ không theo ngành khác như sư phạm chẳng hạn. Giá mà không con cái, không bị chồng ngăn trở mình sẽ theo một nghề khác. Vứt mẹ cái bằng đại học y vào sọt rác,...
Trà không biết nói sao vì mấy anh, chị của cô vẫn so sánh, phân bì một cách thảm hại vì Tâm kiếm được nhiều tiền bằng công việc ở bệnh viện. Tâm đớn đau cho Trà biết mỗi khi phải giải phẫu những mối tình ngoài ý muốn, cô có cảm giác các thiên thần rời cơ thể mẹ chấp chới bay, những sản phụ như tên tội đồ suốt đời không quên được tội lỗi và Tâm khóc. Trà khuyên bạn nên xin sang một bộ phận khác hợp chuyên môn dù thu nhập ít cũng được. Tâm phân bua: “đáng giá gì cái công việc của một bác sĩ, nhưng phải chạy chọt đủ cửa mới được phân công vào chỗ làm này. Giờ muốn đổi chỗ phải chạy bận nữa, mà muốn chạy đâu cũng phải nhờ đến chồng, anh ta lại là người tích cực chống tình trạng chạy chọt,...” Nghe Tâm tâm sự Trà buồn lắm. Cô biết công việc của bạn không chỉ có thế. Tâm cũng là một bà đỡ mát tay nhất nơi cái khoa sản của bệnh viện lớn này. Nhưng Tâm cứ than phiền sao mà ngày càng lắm người đi phá thai như thể, các anh, các ả không biết đến biện pháp tránh thai theo ý muốn hay cứ tưởng quan hệ tùy tiện, vỡ kế hoạch thì vào bệnh viện giải quyết là xong. Trà nói với Tâm rằng ở một số quốc gia có đạo luật chống phá thai, nhưng ở nước mình thì xem chuyện phá thai như giải pháp nhân đạo. Tâm không nói gì. Rất nhiều khi không có tiền Trà đến chỗ Tâm vay mượn. Cô vẫn mong cho bạn chuyển sang một công việc khác như văn phòng hay được đề bạt lên vị trí cao hơn để khỏi phải “nhúng chàm”, nhưng rồi bạn của cô thì chỉ trông đợi đủ số năm công tác rồi xin nghỉ hưu. Trà cười buồn. Trà muốn làm việc lắm, cùng tuổi nhau nhưng chưa bao giờ Trà thực sự làm việc hết mình với nghề Trà theo học như Tâm. Lúc nào cô cũng như mới bắt đầu vào công việc, chuyện về hưu là cái gì như là đến tuổi thì hưu mà thất nghiệp như cô thì hưu không lương.

Những cay đắng mà Trà nhận được bắt đầu từ lúc cô tuyên bố về sống hẳn ở quê cùng với cha mẹ. Trước kia, khi công việc còn ổn định ở thành phố, mỗi lần về Trà luôn được thăm hỏi ân cần, hồi đó công ty chưa phá sản, cô tuy phải làm việc nhiều nhưng chưa đến mức long đong, lận đận cầu cạnh người này, người kia.
Tai họa xảy ra khi cơn bão lạm phát tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm, Công ty Văn hóa - truyền thông nơi cô làm phải dẹp tiệm sớm, quyết định về quê của cô là giải pháp bất đắc dĩ. Nhiều đồng nghiệp của cô không đồng tình nhưng hết phương chọn lựa. Bạn bè đúng nghĩa của Trà chẳng có mấy ai, nhưng kẻ vẫn xưng là bạn lâu nay tan biến như sương mai dưới nắng.
Ngày Trà lặng lẽ thu dọn căn lầu của người anh khác đã vào Sài Gòn để yên ổn viết những cuốn sách theo đặt hàng của các chủ đầu nậu một đứa bé gái cô bảo trợ ngây thơ hỏi: “bao giờ dì kiếm được tiền để chu cấp cho con học đại học?” Nước mắt cứ lăn dài trên má thiếu phụ lắm nỗi truân chuyên. Khi cô về sống với cha mẹ, chỉ mấy ngày mẹ ra người thiên cổ.

Gần một năm trôi qua, cô nguôi ngoai những phẫn nộ, căm hờn. Đứa trẻ mà cô bảo trợ đã kịp về thăm cô. Dù có trả giá bằng sinh mạng cô cũng phải kiếm tiền nuôi nó ăn học. Lòng hiếu thảo của đứa trẻ đã cứu Trà. Cô vẫn kinh tởm con người, nhất là vợ chồng anh Ba.
Những vết thương lòng không dễ liền miệng. Trà ngã bệnh. Cô không có tiền nên cuối cùng đành gật đầu chuyển nhượng tác quyền cuốn tiểu thuyết đầu tay cho một chủ đầu nậu. Cô không khỏi xót xa rằng bao nhiêu năm ăn học và tích lũy kiến thức, dày công suy tư, xây dựng và sáng tạo một tác phẩm văn học vậy mà chỉ vì mấy triệu đồng đành nhắm mắt trao tay đứa con tinh thần của mình cho kẻ khác.
Cô đã giành số tiền nhỏ mọn cho đứa trẻ trong lần đi thi học sinh giỏi của em. Cô vẫn mong em thành công trong cuộc đời. Mẹ của em đã chết trong đời này. Cô vẫn tin em coi cô như mẹ và giờ đây cô nghĩ đến việc dạy cho em gọi cô bằng mẹ dù không bao giờ cô là vợ của cha đẻ em.
                                        LTT

NGOÀI BA MƯƠI
                                                         I                                            
Tòa biệt thự Hà liên tọa lạc bên bờ sông Sài Gòn, chênh chếch hướng Đông Nam phía hạ lưu sông. Thêm một buổi sáng bình thường như mọi buổi sáng, những thợ học việc phân chia các công việc có trật tự và mỗi người tất bật với vai trò của mình. Cuộc sống trở nên buồn tẻ, thế nhưng tôi vẫn chưa tìm được một chốn nương thân tốt hơn. Như thường lệ, San vào bếp đốt một điếu thuốc và mỉm cười. Y nhìn đám thợ như nhìn những con rối. Tôi đọc lại bức thư vừa nhặt được dưới bậc thềm: một bức hận tình thư! Lời lẽ xót xa, bất lực của một người có học. Nét chữ con gái mảnh và nghiêng. Cứ theo thuật đoán người qua chữ viết thì cô gái có vẻ yếu đuối và lệ thuộc kẻ khác, ấy là chưa nói nàng có phần nhẹ dạ và dễ bị lợi dụng. Điều này thể hiện rõ qua nội dung ngắn ngủi của bức thư không ghi tên người nhận lẫn ký tên tác giả. Người viết chỉ gọi anh, xưng em.
Tôi đã đọc đâu đó một đoạn văn có đại ý rằng: “không điều gì cụ thể hơn nỗi đau mà một người ta hằng yêu thương lại gây ra cho ta, có người phải mất nhiều năm mới nguôi ngoai những niềm đau và mất cả đời người mới quên kẻ đem đến khổ đau cho họ…”. Nỗi đau của cô gái không biết sẽ còn kéo dài bao lâu, riêng bản thân tôi một khi biết đến vô tình đã ít nhiều lụy cảm. Tôi không biết người con gái ấy thế nào, tôi cố hình dung ra nàng nhưng rồi thất bại, khi tôi chìa bức thư nàng gởi người yêu cho mấy cô bé học việc chưa mảnh tình vắt vai xem, và cùng các cô đoán non, đoán già ai là tác giả, cuối cùng cũng như tôi, các cô kết luận: người yêu của San.
Tôi bắt đầu tò mò về San, lâu nay tôi sống trong nhà San nhưng chưa bao giờ chúng tôi trao đổi với nhau dù chỉ là một tiếng chào. Từ lúc biết San là em nghệ nhân Ái Liên, tôi thích tránh mặt người đàn ông đó. Tôi vốn không quen tọc mạch vào các mối quan hệ xã hội của người khác, nhất là với gia đình bà Liên. Hơn nữa, tôi không ưa nổi ai trong số những người em của bà Liên, hễ có việc gì là họ luôn nói với chúng tôi bằng một giọng hách dịch, mệnh lệnh, cay nghiệt như nói với những con ở dù San không giống mấy những người khác trong nhà này, San có vẻ giản dị, dễ gần và chẳng bao giờ ra vẻ chủ nhân của tòa biệt thư như đa số trong gia đình họ. Mà sự thực thì đây là nhà của anh rể y, một đại gia trong giới địa ốc, còn San chỉ giống dân lao động phổ thông, chắc chắn y không có tên trong số những người được hưởng thừa kế của anh rể.  Không hiểu sao tôi vẫn cho rằng San là một con người thiển cận, chắc điều này phát sinh từ mối định kiến với Ngọ, chị gái của San, một phụ nữ cay độc, nanh nọc và thô thiển lại hợm hĩnh. Có một thời tôi tưởng mình không bao giờ dây vào những kẻ như họ hoặc chỉ giao du với những người khác họ về mọi phương diện.
Người yêu San lại khác, bức thư mà tôi tình cờ nhặt được và đọc đến thuộc lòng đã nói lên rất nhiều về nàng, một phụ nữ như nàng lại yêu tha thiết San như vậy sao? Thật buồn cười nhưng tôi lại bị ám ảnh về mối tình đó: họ yêu nhau năm năm chứ có ít ỏi gì đâu, và một ngày San phỉ thui “để cho tôi yên!” Cô gái tội nghiệp chỉ hỏi thêm một câu tuyệt vọng: “Bấy nhiêu đó đủ rồi phải không anh...?”
San phản ứng thế nào khi nhận được thư nàng? Trí tưởng tượng của tôi lại làm việc, tôi thấy rõ là San chạy đến chỗ nàng, có lẽ bức thư của nàng cho San thấy nàng là một con người sâu sắc và không dễ tìm trong thời buổi này, nhưng quá muộn với San rồi. Nàng không đón San với nụ cười hạnh phúc như ngày trước, ngược lại, San chỉ thấy ở nàng một con người xa lạ. Nàng bước ra, không buồn nhìn San và khép mạnh cửa, tiếng rít ghê rợn của cánh cửa sắt như báo hiệu cuộc tình đã cáo chung. San không kịp nhìn cái dáng dấp kiêu sa khuất dần, nàng chẳng thèm mất một lời xua đuổi. San đứng thật lâu không thể nào tin nổi một người con gái yêu mình đến nô lệ lại dám hành xử như vậy. San không bao giờ hiểu được nàng đau đớn như thế nào khi phải làm một việc trái với con tim. Đúng hơn là nàng đang chết cả con người. Còn San thì bất lực quay về, mọi thứ chẳng còn gì để nói thêm ngoài trừ bản thân San. Từ đêm ấy về sau, mặt y lúc nào cũng đanh rắn, trừ những lúc y nhớ đến nàng, trong mắy y hun hút một niềm tuyệt vọng…
Tôi không phủ nhận là mình thêu dệt những tình tiết này, dù sao nó cũng hợp lý. Tôi không bao giờ yêu được ai, với tôi tình yêu là một tặng quà vô giá mà hóa công ban cho loài người, nhưng không phải ai cũng có được ân sủng thọ nhận. Tôi nghèo nàn, trắng tay giữa cuộc đời chính vì thế mà mỗi khi nghe ai đó nói chuyện tình yêu, tôi kết luận: với mình nó thật xa xỉ. Tôi không có tình yêu để ban phát và cũng không ai mang đến cho tôi tình yêu, là một kẻ cô đơn không nhu cầu và chưa bao giờ nhọc sức cho những điều không giống ai của mình. Tôi chú ý đến San ban đầu cũng chỉ vì vẻ khắc khổ không thích hợp với một kẻ con nhà như y (nhưng lại rất hợp với hậu quả tình yêu mà y là người có lỗi). Cô gái kia có lẽ đang phân vân có nên nhận lời cầu hôn của một người đàn ông đã nhiều năm đeo đuổi nàng? Không bao giờ nàng tha thứ cho San nhưng nàng vẫn còn yêu San nhiều lắm, yêu hơn những ngày họ còn là của nhau bởi mối tình của nàng giờ đây phải tồn tại dưới một dạng thái khác, đau thương hơn.
Tôi bắt cầu nhập cuộc chơi – tôi phác họa hình ảnh cô gái: nàng đấu tranh với chính mình đến rời rã trí năng mới không gọi điện thoại cho San, tôi thì không cần một chút cố gắng của nàng, có điều phải mất tiền cho những cú điện thoại trời ơi, đất hỡi, nhưng đây là một trò vô hại. Đầu tiên tôi nói bằng một giọng thiếu nữ Hà Nội với San rằng có người yêu San nhiều lắm, San Biết không? San đã ngờ vực nhưng tôi mặc xác y, nàng trong tôi phải là con gái Hà Nội. Còn như nàng quê Nha Trang hay gốc Sài Gòn thì đó là việc tôi không tính đến. Khi San hỏi ai gọi điện tôi mới thấy là mình nhầm. Tất nhiên nàng gọi thật thì San nhận ra giọng nàng ngay, còn tôi chẳng dại gì để San biết là tôi gọi điện thoại, có điều San cúp máy một cách tàn nhẫn làm tôi bẽ bàng, lần đầu tiên tôi có cái kinh nghiệm (dù là đóng kịch) của một phụ nữ gọi cho người mình hết lòng yêu nhưng lại không được tiếp chuyện. Tôi ghét San hơn bao giờ hết, và vạch một kế hoạch bài bản hơn. Tiếc là tôi đã không thực hiện được những kế hoạch kia.
San thỉnh thoảng ném về phía tôi một ánh mắt nửa bạn bè, nửa chủ tớ mỗi khi đi ngang chỗ tôi ngồi. Tôi thường phớt lờ cái nhìn ấy, chỉ một lần phải che mặt vì San nhìn hơi lâu. San ngạc nhiên và chợt cười. “Đồ trẻ con!”  tôi thầm cáu. Y bao nhiêu tuổi nhỉ?  Chắc chắn là San nhiều tuổi hơn tôi, nhưng vì không thích gọi San là anh, tôi gọi y bằng cậu, cũng nói thêm là mấy cô bé học việc vẫn gọi y bằng cậu để thể hiện sự tôn kính bởi chúng coi nghệ nhân Ái Liên như mẹ mà San là em của bà. Rõ ràng là San không thích tôi gọi y theo kiểu đó, có lẽ y thấy mình quá già khi bị tôi gọi như vậy. Tôi khác, chỉ gọi đàn ông bằng cậu khi cho rằng họ trẻ dại hơn mình.
Tôi vẫn thường thức đến mười hai giờ đêm để làm tranh, cũng vì thế mà tôi là người mở cổng cho San mỗi khi y về muộn. Một bữa tôi bảo y là lần sau nhớ nhắc người yêu để cho anh được về sớm hơn và y sa sầm nét mặt. Tôi thoáng chạnh lòng và hay tự hỏi: y làm gì mà đêm nào cũng về muộn, thậm chí có đêm mãi đến ba giờ khuya y mới về…?

*

Mọi thứ dưới tòa biệt thự Hà Liên không yên ổn như tôi nghĩ, ngược lại là đằng khác. Thái độ hơn thua, những lời quát tháo, chửi mắng phủ mặt kẻ ăn, người làm của chị em bà Liên làm cho nhiều người bất bình. Chính vì thế mà mấy cô bé đến làm tranh lần lượt bỏ đi, và bản thân tôi cũng không ngờ một ngày vội thu dọn, cuốn gói đúng bài bản tránh voi chẳng xấu mặt. Nhưng đó là chuyện của những tháng sau này, còn vào thuở ban đầu, mọi việc có vẻ dễ chịu.
Tôi không rõ thói quen đợi chờ San đến với mình vào lúc nào. Có lẽ xuất phát từ ý nghĩ hãy nhìn thẳng vào mặt y tỏ ra mình chẳng thấy gì hết, y chẳng là cái gì hết sau một vài lần y nhắc tôi điều này, điều nọ nhưng tôi cố tình không nghe. Vậy nhưng tôi đã vô lý rất nhiều trong những định kiến về San, bởi vì thường tôi thấy y hết sức dễ thương trong mọi ứng xử và có lẽ là người được cưng nhất nhà. Một lần tôi ngồi trên ghế đá cạnh hồ bơi, nơi San thường dựng xe và thấm thía cảm giác chờ đợi đơn phương mà mình chưa trải nghiệm trong đời, tự hỏi về những người phụ nữ mà San đã yêu. San chia tay mối tình đầu từ bao giờ…? Những người con gái đã gieo vào lòng San những tình cảm yêu thương giờ đã thuộc về thì quá khứ. Tôi không cùng họ trên dòng sông quá khứ ấy, tôi thuộc một dòng chảy khác và cập bến khác, liên đới với những số phận khác và không in bóng vào kỉ niệm của họ.
Dòng sông thời gian vô thủy vô chung bao chứa tất cả đời sống của San trong đó có những cuộc tình. Chắc không ít cô yêu San vì nghĩ San là một ông nhà giàu, chưa vợ. Không phải ngẫu nhiên mà các cô bé học nghề vẫn thường mơ thấy mình xúng xính trong chiếc áo cưới dành cho cô dâu mà chú rể là San. Hiếm có cô gái trẻ biết y là em nghệ nhân Ai Liên mà không mơ tưởng. Tòa biệt thự nguy nga hẳn có sức hấp dẫn, nhưng để trở thành chủ nhân của nó thì theo thiển ý của tôi ngay những người em ruột của bà Liên còn không dám mơ. Tuy vậy, họ vẫn chứng tỏ với những kẻ đến làm việc như tôi họ là gia chủ. Tôi thì đã thấm thía thế thái nhân tình, đặc biệt về quyền sở hữu, chiếm đoạt tài sản, của ai ra người nấy, sòng phẳng, lạnh lùng. Buồn cười là đôi khi San có những cử chỉ để tôi hiểu là cần gì cũng mất tiền, chẳng lẽ San không có tiền để sợ tiêu phí. Tôi thì chẳng biết tiền là gì, vậy nên tôi luôn thất bại cũng là sự thường.
Dù sao tôi vẫn mong San về sớm sau một ngày y nai lưng làm việc ở đâu đó, giờ đây tôi hay tìm kiếm ánh mắt của y. San có thể đinh ninh tôi mến yêu San, cho rằng mình có một sức thu hút và dễ làm nẩy sinh trong tôi những tình cảm sâu xa, và vốn nông nỗi như mọi phụ nữ, tôi không đủ sức vượt lên tình cảm chính mình. Cũng đôi lúc San cho tôi ấn tượng San đang nghĩ là tôi ghét San, nhưng tôi chẳng có lý do gì ghét San được. Tôi thấy buồn cười nhưng nghĩ lại thân phận học việc nên không thể đi xa hơn. Đúng là tôi đến nhà San học việc. Tôi chỉ là một nhà thơ đúng nghĩa, mà như thiên hạ than thở: “cơm áo không đùa với khách thơ”. Tôi đã làm khá nhiều thơ và ngộ ra rằng càng làm thơ thì càng đói. Tôi lại luôn chán những việc khác và để món nợ bút nghiên dây dưa mãi đến giờ.
Trong nhà San ai cũng coi những người học việc như tôi tớ. Ngay cả nghệ nhân Ái Liên vẫn làm tôi rờn rợn bởi quyền biến và đa nghi. Có lần bà hỏi tôi sợ bà không, tôi chưa biết sợ bà nhưng chẳng lẽ trả lời còn nhiều thứ làm tôi sợ hơn nên mới cầu cạnh bà như vậy. Ở đây tôi không nói đến thứ nghề tranh khắc đá, tranh cát, tranh gỗ mộc đem đến niềm tự hào cho bà, hoặc khía cạnh khác vừa phù phiếm, vừa dễ chơi nhưng khó nuốt. Thậm chí nhiều người khác chứ không riêng chi bà Liên, cứ khoác lên mình những giá trị giả và hãnh diện về sự giàu có để tôn vinh thêm những thứ không thật kia.
Với một bộ hồ sơ, giấy tạm trú, đơn xin việc thì San vẫn không biết gì về tôi ngoài một cái tên, và chẳng ai kể cả tôi cần y biết nhiều hơn. Vậy nhưng đôi khi chạm  ánh mắt nửa như thăm hỏi, nửa ưu ái tôi chợt nghe trào dâng một niềm xúc động mãnh liệt tận đáy lòng.

*
Người đầu tiên đọc ra những chuyển biến trong nội tâm của tôi là Huy. Chúng tôi chơi thân với nhau nhiều năm nay, và vô hình chung trong tâm lý hình thành cái ý thức sở hữu nhau. Tôi không bao giờ muốn Huy yêu một phụ nữ khác và ngược lại Huy cũng thế. Mặt dù hiện tại chúng tôi chỉ là anh em, bạn bè.
Vào những chiều chủ nhật chúng tôi thường hẹn nhau đi ngồi quán. Huy tỏ vẻ xót thương khi buộc tôi phải đối diện với một thực tế phũ phàng là chúng tôi quá đơn độc trong thế giới chữ nghĩa và nghèo, đó là những thứ chẳng cần thiết với bất kì ai trong thời buổi này. Lại nữa, San là mẫu người thuộc số đông, thích lớn giọng, ồn ào, hơn thua. Huy bảo: liệu tôi có thể chịu nỗi thái độ cau có, cáu kỉnh của San ở mọi nơi, mọi lúc không, vì lẽ, những người như San chẳng dễ mà dịu giọng với những kẻ thấp cổ, bé họng.
Huy châm chọc:
-Em đẹp nhất trần gian, bớt hài hước, ngông nghênh, may ra làm xiêu lòng người đó!
Tôi nói với Huy anh cho tôi một tòa biệt thự anh sẽ làm tôi xiêu lòng. Của đáng tội, chúng tôi quá rõ về nhau nên chẳng chất chứa nổi bóng hình của nhau trong con tim vốn chỉ biết đau một cách tù mù về sự vô thường, tráo trở của cuộc sống. Rồi Huy báo tin anh chuẩn bị cưới vợ. Anh sẽ lấy lại toàn bộ số tiền mà anh hứa cho tôi để mở một phòng tranh. Anh dùng đủ mọi lý lẽ để phân bua với tôi rằng vợ anh cần nó hơn tôi. Cảm thấy ngán ngẩm bởi những lời thanh minh của Huy, bởi chính tôi cũng không biết vợ Huy sẽ nhận được tiền của Huy hay chỉ nhận được những lời hứa. Chơi thân với nhau nhiều năm nhưng chưa bao giờ tôi thấy Huy có tiền, anh ta chỉ thích cãi nhau trên tất cả các diễn đàn hơn là tìm một công việc gì đó để làm kiếm tiền. Những khi trong túi sạch nhẵn, anh thường hỏi bạn bè vay, nếu có người bạn nào từ chối, Huy nghĩ chơi với họ liền. Dù sao đó cũng là một người tốt. Đôi ba lần Huy giúp đỡ tôi, nhưng điều làm tôi ưa thích tính cách Huy là chưa bao giờ anh ta làm người khác buồn. Thậm chí anh có lấy lại toàn bộ những thứ anh hứa cho thì cũng không ai giận anh được vì điều anh nói có vẻ để gây cười hơn là lật lọng.
Cái ngày mà Huy nói quá bận rộn chuyện cưới vợ, tôi dự định sẽ bỏ việc, tôi không có ai để làm cuộc chia tay đúng nghĩa. Tôi mời San đi uống cà phê để nói vài lời từ biệt. San từ chối. Tôi thấy lòng trống rỗng. San đâu phải Huy để mà bất kì lúc nào cũng chiều theo những ý muốn ngẫu hứng của tôi. Thế nhưng tôi đã ăn ở trong nhà San một thời gian đủ lâu để khi sắp ra đi mới thấy y và mọi người trở thành thân thiết.
Nghệ nhân Ái Liên ngờ vực. Tôi biết bà đinh ninh tôi muốn đến làm ở một phòng tranh khác, mang theo những bí quyết nhà nghề và bí mật kinh doanh bán cho người ta. Đấy là chuyện thường xảy ra ở nhà bà. Các cô bé học việc thích đến làm ở một phòng tranh khác hơn là làm thuê cho bà dù trên thực tế bà là thầy của tụi nó. Thường trước mỗi trường hợp như thế, bà Liên bảo các cô bé là đồ phản thầy, và không cần biết đến chúng nữa. Cũng có những học viên đến học nghề để mở công ty, và khi cái cách học nửa vời, ăn xổi ở thì không làm nên tài năng cho họ, lúc ấy họ tung tiền ra để chiêu dụ  những người thợ đang bất mãn với bà Liên bởi nhiều lý do, mà nhất là chuyện tiền lương bèo bọt. Cũng có người không muốn làm cho nghệ nhân Ái Liên bởi miệng lưỡi cay đắng của bà. Nhất là cái cách ép thợ làm cho người ta thấy tổn thương, đau đớn và bị xúc phạm. Tôi cũng là một trong số ấy, nhưng tôi không định làm cho những phòng tranh khác như đa số thợ ở đây.
Tôi buồn. Nhất là khi hiểu ra ngày nào không gặp San, ngày đó tôi thấy nhớ nhung San đến nao lòng. Chỉ gặp cái nhìn thoáng qua của San là trong tôi tràn ngập niềm vui. Thực tế thì những chuyện quen biết rồi xa cách để nhung nhớ vẩn vơ, mơ hồ tôi đã trải qua nhưng chẳng bóng hình nào đọng lâu trong tâm khảm. Cũng đã từ rất lâu tôi sợ được yêu hơn sợ bị ruồng bỏ. Sợ cả những tai hoạ mà kẻ mình từng yêu gây ra cho mình.
Huy thường giễu cợt cái kiểu tôi thích yêu trong mơ hơn là trải nghiệm thực tế dù tôi đã ngoài ba mươi tuổi. Ước mơ bao giờ cũng đẹp. San có mặt nhiều hơn trong những giấc mơ của tôi. Người yêu của San không còn là mối bận tâm của tôi nữa. Riêng San khi biết tôi bỏ việc vẫn giữ một thái độ để tôi hiểu mình với San không là gì với nhau hết, San không ghét không thương gì tôi hết. Tôi tìm cách tiếp cận San nhưng ngay từ đầu tôi thấy Huy có lý. Người như San có tiền thì làm chủ, không tiền đi làm thuê, những phụ nữ như tôi không hề tồn tại trong tình cảm họ.

*

Một đêm, trở về phòng trọ chật hẹp, khi leo lên cầu thang  do sơ ý sẩy chân nên tôi ngã nhào. Trước đó, tôi đã bị một cơn đau đầu khủng khiếp và chóng mặt đến không làm chủ nổi mình.Có ai đó dìu tôi lên xe cấp cứu, tôi loáng thóang thấy hình ảnh của những người thân đã quá cố đang đến bên mình, họ cúi nhìn, có người vẫy gọi tôi. Bằng cách nào lúc đó tôi đã nhớ đến và gọi điên thoại cho San sau này chính tôi cũng không hiểu nổi. Không phải tôi cầu cứu, càng không phải tìm mối cảm thông. Đơn giản là tôi muốn vĩnh biệt người tôi thương yêu vào giây phút này. Vừa nghe tôi xưng tên trong điện thoại San gay gắt: “mệt quá! Đừng gọi điện nữa. Tôi cũng sắp chết đây.” và cúp máy.
Mất một tuần nằm trên giường cấp cứu cơn tai biến mới qua đi. Khi trở lại với công việc bình thường tôi còn quá nhiều chuyện để lo nên chẳng có khoảnh khắc rảnh rỗi bận tâm về San như trước. Tình cờ một buổi sáng tôi gặp lại San trong một lễ hội, anh ta đang chuyến du lịch ngang qua vùng tôi sống. Chúng tôi không nói gì với nhau. Tôi đã kịp nhận ra một thực tế rằng: Sau cơn đau, không phải tôi mà chính mối tình đơn phương, phù du của tôi đã về bên kia thế giới.
LTT

                   TÔI LÀM CON BÒ
                       
          Trong cơn đau dài tôi nghe loáng thoáng tiếng của thằng bạn một thuở từng chung sách chung đèn bảo rằng: bây giờ mày như cá nằm trên thớt. Tôi ứa nước mắt trước cái vẻ khóai trá của nó. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao một thằng con trai như nó lại luôn đem lòng đố kỵ với bọn đàn bà. Hồi còn du học hắn “nối khố” với một cô bạn giờ là giảng viên đại học ở Sài Gòn. Cả hai đều cầu tiến nhưng hắn chẳng bao giờ hơn nổi chị ấy và rồi lòng đố kỵ với đứa bạn gái đầy ứ không có chỗ chất chứa nổi hắn quyết đi vào con đường văn chương. Hắn tin mình sẽ là thống soái trên văn đàn, nhưng mới những bước chập choạng hắn nhận vô số quyết định kỉ luật, có vụ hắn viết: “dân phải ăn xương rồng chống đói”, đấy là chuyện ở Bình Dương và hắn bị buộc thôi việc, lần đó không nhờ cô vợ chịu thương, chịu khó, và sự hậu thuẩn của cha mẹ vợ chắc chắn cả nhà hắn phải chống đói bằng những thứ tượng tự như xương rồng. Không hiểu sao đã đồng bệnh tương lân hắn còn chơi trò chụp mũ sau lưng tôi, để rồi tôi nhiều lúc hình dung khuôn mặt hắn sau chiếc mặt nạ dày mo, dày đến mức nếu hắn muốn ai đó nhổ vào mặt hắn thử hắn có thấy nhục không thì nước bọt cũng chỉ sượt qua cái mặt nạ kì cục đó chứ chẳng bao giờ dính vào bản mặt hắn. Tôi chỉ còn biết cười, cái cười này hoàn toàn được trời phú và cũng vì lẽ ấy mà chẳng ai tin tôi có thể ha hả cả khi bị bao vây bởi những kẻ ăn thịt người. Thường xuyên tôi bị cả một đám đông qui kết, thi hành án.
          Ở đâu chứ xó nhà quê miền Trung này người cầm bút được xem là có nghề nghiệp cao quý nhất, chẳng vì thế mà những ai không biết luồn lách trong nghề, văn nô, bồi bút ăn lương mà còn cố sức viết hay rất có thể bị chết đói nếu chưa đến nông nỗi phải vào tù hoặc bị khai trừ, thậm chí phải tự khai tử, vì lẽ đó mà có một anh láng giềng lớn tuổi sau ba mươi năm ra phố làm phóng viên báo công an và chánh đại diện một tờ báo Đảng đã dại dột mở blog để chơi và mấy ông lãnh đạo nhà nước bị anh ta đem ra chơi đểu nhất. Một ngày đẹp trời cảnh sát áp giải anh ra Hà Nội nhốt vào Hỏa ngục.
          Từ thuở đám bạn của thằng người tôi nửa yêu nửa mến vẫn thích và gọi tôi là đứa con gái vui nhất trái đất mà hắn, mong thấy tôi lúc nào cũng vui đã không ngần ngại cho tôi chết với những đòn trí mạng không vì lý do gì hết, cứ vô tư vu oan, giá họa. Mà cần gì lý do: chỉ riêng cái mác “vui nhất trái đất” dù không cho người mua vui thì tôi vẫn khóc cho đến nước mắt chảy pha máu và tự hỏi đến giờ không biết có còn ai gọi tôi là người đàn bà khôi hài nửa không. Tôi biết mình có tài gây cho người khác ấn tượng là cô gái luôn cười cợt. Điều này không phải dễ với một phụ nữ, càng không dễ khi người phụ nữ ấy đã quay về quê, những thằng bất nghĩa, bất lương cứ hỏi thăm sức khỏe như cơm bữa. Từ ngày về quê tôi thích nhìn mình trong gương, moi móc từng nét đanh đá của mình nhưng tôi thật sự thất vọng vì khổ đau trông tôi rách nát hơn là quá quắt như tôi vẫn muốn. Tôi từng lên phố để mưu sinh và thành phố buộc tôi cắn răng cười thường trực. Cũng biết mình đâu dễ đe dọa giết ai đó nếu kẻ ấy vô cớ muốn làm gì mình thì làm, kể cả làm cái việc vô nghĩa như lấy mạng mình bằng một liều thuốc độc hoặc một phát súng, một vụ tai nạn giao thông. Tôi có thói quen lang thang lại ngơ ngáo trước bầy đàn nên một tai nạn với tôi xem ra dễ thuyết phục. Còn nhớ có thời gian dài công an đã truy lùng tôi khiến tôi hiểu là họ bệnh họan hoặc bị ám thị bởi nhiều kẻ mắc chứng bạo dâm... Bao giờ cũng bắt đầu từ nguyên cớ. Mà hỡi ôi! nguyên cớ là thứ dễ bịa tạc nhất, chẳng vì thế mà ngày xưa, Nguyễn Du đã cho thằng bán tơ lên phủ đường xưng xuất, vu oan cụ Vương thế là chính hắn cũng không hiểu nỗi tại sao nạn nhân của hắn phải chịu một tai họa khủng khiếp đến thế. Khủng khiếp đến nỗi thời đại văn minh này, không ai xử tội phạm kiểu “rường cao rút ngược dây oan” cả cha lẫn con như dưới thời Gia Tĩnh triều Minh, mà tôi thì ngày hằng sống, hằng tin một chủ nghĩa nhân đạo thống lĩnh xã hội này, để mình tuy như cá nằm trên thớt vẫn có thể cười được, chơi được theo cách của những kẻ đã phá sản đang chơi bạc bằng những đồng tiền ăn xin.
          Tôi xài phí thời gian trong cuộc chơi vô bổ và cũng ít nhiều hiểu rằng, có ngao du thiên đàng hay địa ngục thì cả hai chốn ấy chẳng bao giờ dung nạp mình. Bóng tối vẫn bủa lưới như thể tôi đang trẫm mình giữa dòng nước đen đục. Tôi bỗng thích tưởng tượng mình tan biến đi, vô hình chỉ tồn tại trong một thứ âm thanh thảm thiết nhất: tiếng quạ! “Tại sao lại là tiếng quạ?” có lần chị gái tôi hỏi thế, tôi cắt nghĩa: “loài quạ thường báo điềm lạ! Chị có bao giờ để ý tiếng quạ kêu, quạ tru không? Nó giống như người đem đến tai ương.” Tôi cũng là kiểu tai ương đối với gia đình: trẻ đẹp tài hoa, thông minh.. sao tôi không kiếm một đám hời ngất xây đời lên tột đỉnh nhân gian. Chị tôi là một người đàn bà phù phiếm nhưng tôi không ghét chị ở cái thói phù phiếm ấy, tôi chỉ ghét cái thói ghen tức kì cục nhất mà chị dành cho em gái mình. Ngay từ hồi còn rất nhỏ tôi đã xung khắc với các anh, chị ruột. Họ cứ làm như thể tôi dành hết ân sủng trần gian và để họ chịu tội nợ không bằng hoặc giả họ độc ác và chỉ độc ác với riêng tôi. Chẳng bao giờ khắc chế được điều này và tôi thực sự khổ sở. Xưa kia, khi cả hai chị em còn trinh bạch những giấc mộng tôi luôn muốn chị đi thật xa để tôi không phải chứng kiến cái sự thể đáng thương ở chị. Mà chị luôn biết giữ cái sự đỏng đảnh, phù phiếm và đèm đẹp của mình đến nỗi chị biết làm cho người đời thích chị. Như thế cũng chả sao nhưng vì được thích mà chị cứ moi móc để tôi phải thấy tôi quái đản lắm, tôi không được như chị, thêm lần nữa trò hiềm khích của hai chị em gái buộc tôi phải muốn xa chị ở cái tuổi mà mọi ước mơ đã được xài sạch nhẵn. Lần này kẻ đi là tôi.
          Ngày xưa tôi muốn chị đi xa thế là chị bay thẳng qua Liên Xô, chị rong ruổi gần mười nước cộng hòa. Hơn năm năm trở về chị như con mèo ốm nhách và chị cáu kỉnh: “dân đi Nga chỉ ăn cháo rìu!”. Tôi thường có những chuyến đi xa ngòai ý muốn, lần này thay vì làm một du sinh tôi chỉ xê dịch trong phạm vi năm ki lô mét cách nhà mình bởi đơn giản mẹ mất rồi, không ai lo tiền cho tôi đi xa hơn.
Chị tôi bảo: “đi như thế thì đi làm gì?” Tôi nổi khùng: “Tôi muốn đi khỏi nhà là tôi đi được!” Chị chì chiết: “muốn gì được nấy, sao không muốn tiền?”.
Chưa bao giờ tôi buồn như lần này. Cái người đàn bà là chị ruột lớn hơn tôi ba tuổi đã nói với tôi như thế đó. Chị đã rất muốn có tiền, muốn đến mức vét sạch hầu bao của cha mẹ làm một chuyến xuất ngoại với hi vọng kiếm được nhiều tiền vậy mà chị đếch kiếm được gì để đem về ngoài căn bệnh thời khí của xứ sở giá rét. Tôi biết ở cái nơi đất trũng đồng hoang này nhiều người xứ khác đến lập nghiệp tiền của vẫn vào túi họ như nước, nhưng với chị em tôi mà hỏi tiền, tiền cười khẩy: còn khuya!
          Trong phòng trọ cạnh khu công nghiệp tôi tự hỏi mình muốn có nhiều tiền vậy mọi thứ có xảy ra theo ý muốn của mình không? Mấy tên nước ngoài đến đây làm ăn cũng ma cà rồng ớn lạnh, chúng mà cắn ai thì họ hóa ma chó sói, cứ theo thể thức ấy mà cắn xé lẫn nhau. Bọn chúng không những nô dịch dân nghèo còn tạo ra một thứ quái thai nửa chó điên nửa ma quỷ, chúng lắm nanh vuốt và giỏi hút máu người lao động. Suốt mấy năm nay tôi trầy trụa, thương tích, thiếu đói, cay cú vì kiếm việc làm để có tiền thế nhưng chưa bao giờ tôi muốn có tiền. Tôi thường bảo: tôi không muốn điều gì nữa hết! Khi biết tôi không muốn gì nữa thì cha, mẹ, anh chị, cháu chít họ mạc của tôi tức điên lên vì không chịu nỗi cái con người ngu xuẩn của tôi. Họ chỉ muốn tôi biết mình ngu như cách họ nhìn nhận. Biết mình ngu cũng là lúc tôi nghe đâu đó trong vô hình những tiếng rống phát: uồm ò bo o ò!
-        Trời ơi!
          Tôi thảng thốt. Tôi từng tưởng tượng mình trong trạng thái tiếng kêu lòai quạ vậy mà cuối cùng tôi nhận ra nó giống con bò hơn.
-        Mày ngu như con bò ấy!
          Ông anh hung ác của tôi chửi vậy và tôi thấy rằng mình phải chiều theo cách nhìn của ổng vì rõ ràng chẳng đời nào ông ấy hiền lành để có thể cho tôi cơ hội làm một con gì đó khác hơn con bò. Một con bò thì chỉ biết gặm cỏ đó là chưa nói nếu người khác muốn thọc huyết thì dù có khả năng tự vệ cũng không thóat. Gây nợ máu với một con bò dễ hơn với một con sói, con sư tử, con ngựa mà.
          Tôi hỏi Thảo, cô bạn thân nhất vốn khôn ngoan và xinh đẹp rằng:
          Từ nay trở đi tao làm một con bò thì liệu tao có thóat cảnh nghèo mà từ trước đến giờ tao lâm phải không?
          Thảo nhìn tôi ra chiều suy nghĩ. Vợ chồng Thảo vẫn cưu mang tôi vào những lúc tôi khốn quẫn nhất. Tôi yêu quý nó biết bao. Tôi biết mình làm một con bò nó sẽ mất một người bạn. Tôi đánh mất mình thì nó còn tôi sao nổi? Nó giúp đỡ tôi bao phen chỉ vì tôi là tôi chứ không phải tôi là bò. Tôi đọc trong đôi mắt tuyệt đẹp của Thảo một niềm thương xót sâu xa, thế nhưng tôi đã suy tính và quyết định:
-        Từ nay trở đi tao chỉ là bò thôi! Mày hiểu không? Tao đang do dự là không biết mình làm bò xong sau đó để mặc cái con bò ấy đi kiếm tiền, hay là chỉ mong muốn được giàu và khi có được những gì mình muốn thì hãy đã làm bò.
          Thảo có tất cả những thứ mà nó mơ ước dù chưa bao giờ phải làm bò. Tôi từng bảo chồng Thảo: “vợ anh là một Hằng Nga”. Anh hỏi: “Hằng Nga là sao”?         Tôi vui vẻ: “Hằng Nga là tiên nữ còn vướng nợ hồng trần”.
          Chồng Thảo không biết tôi nói thật hay hài hước.
          Cái thằng bạn có chiếc mặt nạ thiện xảo lại bảo tôi: “bây giờ mày mới làm bò thì muộn quá!”.
-        Tôi đáp: “cái gì cũng nên từ từ.”.

          Tôi từng thân thiết với một người đàn ông, vì tình bạn tôi đã chịu mọi hệ lụy, phiền toái. Bọn anh học thiền và tôi bị rủ rê. Chúng tôi đều bị đẩy ra bên lề xã hội. Nhà nước không cho bọn anh xây dựng hội thiền định, các anh bị tẩy chay, bị bắt giam. Anh viết một thỉnh nguyện thư gửi thủ tướng chính phủ xin miễn trừ khủng bố. Anh chết trong tù không rõ bị thủ tiêu hay đau nặng. Anh muốn làm sứ giả của thượng đế dù anh chỉ là một nhà văn quèn. Anh uống những chén đắng nhưng không “tử vì đạo” được như anh trông đợi. Tôi nói với mọi người là anh tự sát. Người thân của anh chỉ quen bảo rằng anh đã “qua đời”. Riêng với chính mình tôi chưa bao giờ thấy anh đã chết thật sự. Có gì lạ đâu: anh như đã đi đâu đó quá xa, xa đến mức anh không quay lại nữa hoặc chưa muốn quay lại. Anh như nói với tôi vào cái lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau:  “Tôi đang làm gió qua truông thiên đàng”.
          Chúng tôi vốn yêu những nhạc phẩm của Trịnh. Tôi luôn tự hỏi: có bao nhiêu con bò thích nhạc Trịnh. Khi nghĩ về cái cách anh qua truông thiên đàng, tôi muốn bằng cách này hoặc cách khác anh đừng quay lại nữa, có quay lại nơi đây anh cũng chỉ làm con người thừa. Anh có vẻ buồn trong một buổi chiều anh đối thọai với tôi qua thần giao cách cảm:
-        Tại sao em không muốn anh quay lại nơi đây?
          Tôi hỏi:
-        Chỗ của anh hiện tại có tệ lắm không?
          Anh tỏ ra quan trọng:
-        Ổn lắm.
          Tôi bỗng tức khí:
-        Vậy anh quay lại đây làm gì? Lâu nay kể từ cái ngày anh qua truông thiên đàng ấy em phải làm con cá nằm trên thớt.
          Phải công nhận là tôi hồ đồ. Tôi cứ đinh ninh như anh là Trịnh nhạc sĩ nhưng chắc chắn anh chẳng bao giờ là Trịnh để vừa lưu thân mỏi mòn vừa qua truông thiên đàng mà vẫn thấy mình như đá. Và rồi tôi bỗng bàng hoàng: chỗ của anh chưa bao giờ là truông thiên đàng. Còn anh ở đâu mà “ổn lắm”. Trông anh quá tội nghiệp khi thật sự ốm yếu nhưng anh không giống những linh hồn khắc khoải trong cõi hư vô.
           Tôi bảo:
-        Nếu chỗ hiện tại của anh không tệ hơn đây thì cứ yên vị. Em thì chẳng biết phải đi đâu về đâu?
-        Bộ em cứ nằm mãi trên thớt chờ dao như vậy sao?
          Tôi muốn nói: “anh cút đi!” Ai mà chẳng yêu quý sự sống của mình. Tôi thà làm con bò và tiếp tục gặm cỏ vỗ béo, dù biết rằng bò hay trâu hay bất cứ giống gì thì cuối cùng không chui vào bụng lòai thú khác kể cả lòai thú hai chân như lòai người thì cũng chui xuống đất hoặc ra tro bụi.
-        Không biết làm bò thì em sẽ ngu ngốc hơn hay khôn ngoan hơn anh? Chúng ta chưa bao giờ biết mình làm gì thì đúng nói chi cái vụ anh ngông cuồng đi làm sứ giả của Thượng đế.
 -       Em còn cơ hội để quán xét rằng: đức Phật làm gì, nói gì cũng đúng. Em đã bảo em sẽ là người truyền thừa.
          Có phải một lần tôi nói vậy với anh không?
          Tôi chua chát:
-        Mấy ngàn năm rồi. Dấu vết người xưa đã mịt mờ. Những gì được ghi lại trong sách vở ngày nay không biết có đúng với những điều từ thuở sinh tiền đức Phật đã dạy, đã làm không?
          Anh phẩy tay như thể muốn nói cùng tôi cái việc khó khăn nhất anh đã làm xong dù chẳng biết nó đúng hay không, có ai cần thiết không rồi anh ra đi, không quên ra dấu rằng anh chẳng bao giờ quay lại nữa. Nếu còn cơ hội anh sẽ tống khứ những gì anh đã thu nạp suốt bao năm làm kiếp con người.
          Tôi vẫn chưa biết làm con bò thì mình bắt đầu từ đâu và như thế nào. Hiện tại tôi chẳng có gì nhưng xung quanh tôi cỏ nhiều lắm. Tôi nhai cỏ với tất cả niềm háo hức của lòai vật nhai lại và tôi biết mình chưa bao giờ khôn.
          Tôi cũng biết nàng Hằng Nga yêu quý sẽ mất mình. Gần mười năm nay tôi đã quen với mọi mất mát. Trước kia thì trắng tay. Rất có thể sau này tôi thành kẻ ăn may! Ngay bây giờ tôi tự chúc mình may mắn.
                                                LTT
         

          MA ĐẦU BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG
                         
               Người đàn ông ngồi lặng lẽ trên bờ biển nhìn về bên kia đại dương, xa xa, những chuyến tàu ngược xuôi như mang theo bao nỗi đời trĩu nặng. Anh nhớ đến ước muốn của người phụ nữ hết mực tôn thờ anh là được ít nhất một lần cùng anh xuôi thuyền trên sông. Tại sao nàng muốn vậy anh không bao giờ biết được bởi anh không phải là nàng, tuy nhiên, như cách liên tưởng xa xôi của nàng một chuyến đi như thế tượng trưng cho một sự độ thoát của thầy với trò khiến anh thấy nàng chỉ là một con nhóc ngô nghê. Ừ! thì được cùng anh sang bờ bên kia cũng có nghĩa nàng thôi một kiếp nổi nênh. Anh không khỏi đặt nhiều dấu hỏi về nàng. Anh biết nàng tình cờ. Một chị bạn của anh được nàng gọi là cô giới thiệu hai người làm quen với nhau. Không hiểu sao chị bạn tin tưởng anh giúp được nàng điều gì đó. Nàng kể nàng đang sống ở giữa những đầm lầy, cồn hoang, mộ cổ, đền tháp,...tóm lại đó là một vùng dã thoại xa xưa mà ngày nay dân du lịch và những người làm công tác văn hóa mất công tìm hiểu, nghiên cứu. Anh chưa từng một lần sống trong không gian huyền hoặc ấy, anh cho rằng ở đó, là cô gái quê nên nàng rất muốn thoát khỏi cái sự bết bác của đám đàn bà nông thôn và thích bằng an cùng bao cảnh ngộ đói nghèo, khổ nhọc, lầm bụi. Không rõ nhờ đâu nàng có được chút vốn văn hóa đủ để đọc được nhiều thứ sách báo. Anh biết được điều này vì lẽ, trong những bức thư gửi anh nàng cố ý tỏ cho anh thấy tư thế của một con người đã điều phục được những thói tật, cơn cớ và bao tội nợ của một kiếp đàn bà. Anh nhớ nàng từng viết cho anh những bức thư chan chứa niềm tin cậy. Và anh tuy đã già rồi vẫn còn vô duyên đến độ, hé lộ điều này cho một gã lưu manh ở đâu đó gần nàng. Gã vẫn thường đeo bám, moi móc nàng, tìm cách cầu cạnh những người thân của nàng ở nước ngoài, trong khi nàng chưa bao giờ nhận được một sự giúp đỡ của bất kì ai như bà cô của nàng hy vọng. Bà sống bằng món tiền trợ cấp người già ở Mỹ và lo nhất là vào viện dưỡng lão. Anh vẫn ngồi trên ghế của một ông quản lý một nhà sách điện tử trên mạng. Thư quán của anh có đến hàng vạn đầu sách, mà hễ muốn nàng tha hồ đọc. Một thời anh tâm niệm nhà anh cần sách hơn cần cơm. Hiện tại anh vẫn giữ lập trường này và anh vẫn cứ sưu tầm sách đưa lên thư quán. Gã lưu manh hy vọng loại trừ được nàng để độc quyền chiếm lĩnh sự ưu ái của bọn các anh, trong đó có cả bà cô tội nghiệp. Bọn hắn gồm một lũ theo đóm ăn tàn. Chúng mơ được những người tốt bụng ở Mỹ cho chúng tiền và đón chúng sang Mỹ. Anh bảo chúng là muốn qua Mỹ không khó, chừng nửa triệu đô la là đủ cho một công dân ở một quốc gia bất kì được phép nhập cư, trường hợp nàng dễ hơn nếu nàng kiếm được cơ hội du học rồi xin thẻ xanh lưu trú. Anh không định cưới nàng. Cuối cùng nàng làm anh sượng sùng bởi lẽ họ chưa gặp nhau, nàng mới biết anh qua những thư điện tử, dù cả một trăm người đàn bà đi qua đời anh hoặc nàng nhầm lẫn anh với ai đó mà mà nàng thấy xứng đáng được mình yêu thương dù hắn ta có nhiều vợ....thì cũng chẳng sao cả vì lẽ trong tất cả điều này có gì đó vừa hết sức trớ trêu nhưng cũng hết sức kì khôi. Trong mắt anh những người đàn bà mà cứ lì lợm yêu những thằng đàn ông đang sống với vợ là điên đảo không thuốc chữa. Hồi trước anh làm việc ở một tòa soạn báo, cô thư kí trẻ hơn anh gần 30 tuổi chanh chua: “tôi yêu anh dù tôi biết là anh đang có vợ. Theo tôi nghĩ vợ anh không biết chuyện thì chẳng có gì ảnh hưởng đến tình yêu của mình!” Không ít chị em rơi như táo rụng mà không hiểu là anh chẳng hề muốn chiều lòng họ. Anh thấy rõ là nàng không thuộc ngữ ấy, nàng ngấu nghiến những ebooks dày cả ngàn trang trên thư quán mà anh gửi cho và như muốn nói với anh theo cách của mình: “em yêu quí anh và không cần biết anh có vợ con không?” Anh mệt mỏi và chỉ muốn giết chết tình yêu của nàng khi một ý nghĩ quái đản nẩy sinh trong đầu anh rằng: rất có thể một thời nàng từng được một hoặc nhiều gã con trai yêu nàng, chúng biết nàng không yêu chúng nhưng vẫn cho rằng mình có yêu nàng đơn phương cũng chẳng sao, chúng chỉ cần có một bóng hồng để cõi lòng sa mạc của chúng xanh lên một tình yêu. Khổ thay, cái thứ ái tình của chúng đã gây cho nàng không ít khó chịu đến mức thấy trốn chạy bọn chúng không xong nàng đành phải cầu mong cho chúng chết phứt đi. Anh thầm hỏi cái người phụ nữ kia có phải như thế không? Có phải nàng rất muốn kẻ yêu mình, muốn chiếm đoạt mình, ăn tươi, nuốt sống mình mà mình không yêu chúng phải chết đi không? thường thì người khác không yêu người yêu mình thì họ mặc xác, cũng không ít kẻ biết học cách yêu thương người đang yêu mình. Cả rừng sách dạy con người học cách yêu thương tha nhân hoặc bạn tình chắc là nàng có đọc. Bất hạnh nhất là nơi nàng sống tuổi xuân của người con gái ngắn ngủi lắm. Cô nào theo chồng là bỏ cuộc chơi. Những ai cơ nhỡ hay dang dở, giữa đường gãy gánh thì coi như sang sông đắm đò. Anh chợt nghe lòng rung động khi cảm nhận bằng trực giác là nàng hiền từ và rất dễ bị thương tổn trong tình trường, mà như thế có nghĩa là nàng lãnh đủ trong vụ đắm đò định mệnh.
          Nàng vẫn sống trong một xứ sở khác, nơi đó chưa bao giờ là quê hương của anh. “Cô nàng có yêu quê hương không nhỉ?” Có lần vì hằn học anh đã tự hỏi như thế. Anh thấy rằng lúc này nàng nương náu chốn quê nhà là do lâm bước đường cùng chứ nàng không hề yêu quê mà tìm về. Có tiền chắc nàng đã bay, không Mỹ, cũng Úc, Canada, hoặc giả anh nhầm. Mà anh thì không thích những kẻ dối trá siêu hạng, cứ đem cái mác yêu quê hương, bản quán ra cho người đời xưng tụng.
          Có một thời anh từng muốn làm cỏ cái xứ sở mà giờ đây anh gọi là nơi chôn nhau cắt rốn, cũng chưa lâu lắm, mới mấy mươi năm đây thôi. Vì sao anh biết hơn ai hết. Có kẻ nghĩ đó là vì tham vọng chính trị hoặc vì anh quá độc ác bởi hận thù giai cấp hoặc xung đột ý thức hệ hoặc cuồng tín, vân vân... điều dễ dàng chấp nhận là nền cộng hòa của anh đã sụp đổ, mà một nhà thơ khao khát được nó đội vòng hoa lên đầu và tống tiễn. Nào ngờ rơi thẳng vào xã hội cộng sản, anh phải qua kinh nghiệm tù đày. Có gì đó như là tình trạng tẩu hỏa nơi anh. Ừ! Thì con người dễ oán hận và nóng máu lắm, nóng đến có thể có không ít người cầu mong hoặc chúc dữ rằng sao cho ngày tận thế nhanh đến để thế giới này tan tành tro bụi rồi tiên tri lắm thứ hiểm họa trong đó có hiểm họa loài người sẽ diệt vong. Hỡi ôi! Con người. Khi đã trót sinh làm kiếp con người thì trong cuộc tồn vong biết bao ách nạn ập xuống đầu hắn để rồi hết chịu nổi hắn có thể nổ tung, hắn thành tên khủng bố, kẻ ăn thịt đồng loại, giết người hàng loạt,…
          Anh còn nhớ thời trẻ một người con gái yêu anh rồi phụ bạc. Anh cũng chẳng biết ai cưới được ả. Anh và ả từng thề non hẹn biển, nhưng non thì cao, biển thì rộng còn anh thì thưở ấy chưa danh phận gì. Nhiều năm sau anh mới thức thời rằng: người ta không muốn gả con gái cho anh chẳng qua vì anh nghèo... Vậy là anh thù hận, chán đời và anh bỏ đi.
          Bây giờ thì anh sống ở Mỹ, anh cũng khá nổi tiếng và cứ muốn cho cả thế giới biết là anh rất nghèo. Nàng từng đùa là xem anh như một vệ tinh và rất có thể gặp anh nàng sẽ xoay mòng mòng chỉ vì quá ngưỡng mộ. Nàng từng biết nơi mình có hai con người: một có thể giúp nàng tranh đoạt tài lộc, công danh với thiên hạ bằng mưu ma chước quỷ và con người kia thì sợ đau khổ, tội nợ và cũng đớn hèn nên đã không muốn để con người thứ nhất hành động ở mọi nơi, mọi lúc. Nàng khước từ con người lưỡng diện ở mình. Bằng một mớ tạp nham kinh sách không hiếm thứ được ngụy tạo nàng lập luận rằng: người duy nhất chịu sự cám dỗ của ma quỷ và khước từ được nó mà nàng biết là Chúa Giê Su. Nhưng Giê Su đã rao giảng “hãy yêu thương kẻ thù!” nên mới bị đóng đinh. Người đời có thể yêu thương một con vật kinh tởm bất luận đó là con gì, song yêu thương kẻ thù thì còn lâu. Thật ra sau khi chúa Giê Su chịu khổ nạn trên thập tự ác thì nhân loại bắt đầu xuất hiện một kiểu người tự đóng đinh câu rút dù chẳng cứu chuộc ai kể cả chính mình nhưng nàng không muốn tuẫn nạn kiểu ấy. Nàng không phải tín đồ của Thiên Chúa giáo hay tôn giáo bất kì nào. Nàng cũng không có một thượng đế tính để lớn dậy trong niềm vui sáng tạo. Dù sao thì anh cũng là một cá thể có một từ trường cực mạnh đủ sức nhấn chìm nàng như sóng thần nhấn chìm một chiếc tàu và nàng, nhiều khi bất ngờ về anh đã tự hỏi: anh là gì mà kì lạ vậy? Rất có thể anh chống lưng, trợ thủ gã lưu manh vẫn ám hại nàng.

          Anh từng khoe với nàng anh đang sống hạnh phúc với vợ con. Nàng có thể hình dung một người đàn bà ra vẻ phong lưu lắm vẫn chu đáo với anh từ ly cà phê, bữa điểm tâm đến những cơn ghen tuông vừa đồng bóng vừa đểu cáng. Anh gắng sức kiếm nhiều tiền tôn vinh cái gia đình mà anh thấy càng hoàn hảo càng hạnh phúc. Theo như lời anh kể thì dứt khoát anh không thuộc loại giỏi kiếm tiền, nhưng ở Mỹ mà không có tiền thì đừng mơ về quê nhờ vả bạn bè. Những khi anh không tự xoay sở nổi thì vợ sẽ lo. Chị ta có đủ sức làm cho gia đình giàu sụ vì thói thực dụng, vẻ sành sỏi và thủ đoạn lọc lõi. Muốn gì đi nữa thì anh chẳng bao giờ đi yêu một thiếu phụ nghèo như nàng vì chắc chắn trong khi làm phép so sánh giữa hai người đàn bà anh thấy tài lực nàng chưa bằng cái móng tay lúc nào cũng trau chuốt, đánh bóng, sơn vẽ lòe loẹt,... của vợ anh. Buồn cười là nàng bĩu môi nếu anh bảo vợ rằng anh chỉ kiếm một cô vợ lắm tiền. Rồi nàng không thể không nghĩ về những quan hệ xã hội của anh trong thời hiện tại ở một nơi xa lạ nhưng cũng trên trái đất này thôi. Không hiểu sao nàng cứ hình dung về nếp sinh hoạt của những con người hàng chục năm chưa một lần chạm chân xuống bùn đất mà anh là một trong số ấy. Cái đô thị nơi anh an cư tuy chưa sầm uất nhất thế giới nhưng hẳn nhiên là tráng lệ và sạch. Một bộ phận cư dân ở đó có thể suy đồi, ngập ngụa nhưng không bao giờ làm bẩn tay chân và áo quần bởi đất đai. Họ di chuyển trên xe hơi và đi lại trên những con đường tráng nhựa và điều hiển nhiên họ không biết thế nào là tay lấm chân bùn,... Mỗi khi ra phố hoặc đến các điểm du lịch nàng thích ngắm một cách bất nhã những tay việt kiều trắng trẻo, mập mạp, trí thức, ánh mắt bề trên nhìn cái gì cũng như ban phát từ nước ngoài, đặc biệt từ Mỹ về. Đám đàn bà trong số ấy thì quá chảnh nên nàng không đến xỉa đến họ. Đàn ông có sức hấp dẫn hơn. Bọn gái điếm và ma cô vẫn thích cua mấy tay việt kiều trắng sạch hoặc cố tình để cho họ chú ý tới mình, dụ dỗ mình. Thôi thì đủ mọi hạng người xúm vào làm tiền những quí ông, quí bà, quí cô, quí cậu. Ngày xưa chắc anh lấy vợ cũng theo cung cách mấy tay Việt Kiều và cái người đàn bà vớ được anh hẳn làm cho toàn gia hãnh diện với ý nghĩ theo anh qua Mỹ thì gia đình và bà con tha hồ nhận tiền đô từ Mỹ gửi về xài. Mà cũng có khả năng chị vợ gặp anh ở Mỹ và mê tít cái con người ngang tàng, coi trời bằng vung để rồi bỏ chồng chạy theo anh với hy vọng một ngày nào đó thời cuộc đổi thay, chị cùng anh về nước cũng ngôi mệnh phụ đường đường như ai. Có một nghịch lý là tất cả mọi người ở đây, thân cũng như thù với nàng chẳng ai chịu để cho những người như anh chị áo gấm về làng tiếm ngôi hoặc giành ghế, mà cũng có thể hoàn toàn không phải như thế. Sao mà nàng cứ hay tưởng tượng?

          Một ngày không việc, buổi chiều nàng cùng với mấy vị giáo sư trong hội đồng thẩm định các tác phẩm nghệ thuật và nhóm viên chức của trung tâm văn hóa ngồi tại quán cà phê lớn nhất mới được mở nơi thị trấn quê nhà và nàng chợt tưởng tượng ra những con người như anh. Họ đã phải trắng tay trong cuộc cuộc chơi máu lửa mới có thể viết những câu thơ khiến nàng nát con tim khi đọc. “nhưng tôi không bao giờ đi cùng con đường với anh. Tôi chỉ là một lối nhỏ nhưng nó là duy nhất, nó hình thành muộn màng và cũng có thể bị xóa nhòa. Anh phát lộ cái gì ở phía bên kia?” Mọi thứ chỗ anh chắc không nhếch nhác như chỗ nàng. Ngay như cái quán nước này đây, không biết cố tình hay sơ ý mà chủ nhân đã chọn mua một thửa đất tiếp giáp đồng trũng để xây dựng và rồi rác rến cứ sục, cứ bắn tận ly cà phê của khách khi đất dưới đồng được cày xới. Mấy vị giáo sư ở Hà Nội xem ra rất muốn khó dễ với cái trung tâm được duy trì chỉ bằng nguồn tài trợ của một chủ tiệm vàng. Bất chợt nàng thấy mình bị bỏ quên và gọi anh bạn thợ điêu khắc đang thực hiện một tác phẩm để đời tham dự đại lễ Thăng Long Ngàn Năm Văn Hiến và chỉ cho anh xem những gốc rạ choài ra sau luống cày. Nàng bảo anh thử tạo bề mặt tượng đồng bào thô ráp như thế được không? Anh cười: ý tưởng hay nhưng đồng bào anh phải phơi mưa, dầm nắng, dãi dầu, quăng quật giữa lũ cuồng, bão tố nên chi mọi thứ phải na ná bức thành đồng hoặc đá vọng phu. Ruộng đất cho dẫu trơ gan cùng tuế nguyệt vẫn không thể thay thế bất kỳ chất liệu nào bền hơn nó được. Nghe vậy nàng đùa với anh thợ điêu khắc rằng anh cứ lấy đồng đen mà tạc tượng. Anh bảo nàng cứ kiếm tiền in thơ, việc làm tượng đồng bào là do nhóm anh thực hiện với chất liệu từ gỗ quí. Nàng bảo quá muộn để nàng đi học điêu khắc, nếu sớm theo nghề này nàng chẳng thua Điềm Phùng Thị. Anh làm ra vẻ bâng quơ: Điềm Phùng Thị gần bốn mươi tuổi mới học điêu khắc, còn anh học từ năm mười bốn tuổi vậy mà đến giờ gần bốn mươi rồi nhưng chẳng ai muốn nghe tên tuổi anh.
          Nàng chẳng thấy có gì là thật trong việc nàng tham gia vào cái trung tâm này, cũng như nàng là đồng sự của tay điêu khắc. Nhưng nàng tin chắc lần này anh ta thành công. Một lần ông Tổng biên tập bảo nàng sưu tầm 1000 bài thơ để làm sách kỉ niệm đại lễ. Mới tìm được gần 500 bài thì ông lên cơn đau tim và chết đột ngột. Chủ tiệm vàng giờ là Giám đốc trung tâm bảo nàng stop vì đã có nơi xuất bản loại sách như thế rồi. Nàng bực tức vì mất công. Có người bảo nàng cứ giữ chừng ấy bài thơ và tự bỏ tiền túi xuất bản vì trung tâm không có kinh phí in chứ không phải việc làm sách trùng lặp ý tưởng nơi khác. Nàng tiu ngỉu vì kiếm vài mươi triệu để in sách là việc nan giải, giữ chỗ thơ thì thừa. Ông chủ tiệm kim hoàn an ủi nàng bằng cách khích lệ nàng viết bài giới thiệu về tác phẩm Thiên long Việt đồ. Ông ta đàng hoàng trình bày ý tưởng xây dựng bức phù điêu đồ hình đất nước từ 1000 con rồng bằng vàng với kinh phí hàng tỉ đồng để trưng bày tại đại lễ. Nàng biết ý tưởng này chưa đụng hàng vì khó mà có nổi một gia tài để chơi bạo.
          Chưa bao giờ nàng nhìn kỹ cái người đàn ông từ nơi khác đến lập nghiệp rồi trở nên giàu nhất ở cái thị trấn quê nàng dù nàng biết ông ta mấy mươi năm nay. Nhà nàng chỉ cách trung tâm thị trấn một ki lô mét vậy mà vài đổi thay kể cả việc mở cái quán cà phê lớn nhất này nàng cũng mới biết mấy tuần nay thôi. Còn ông chủ tiệm kim hoàn thì thông thuộc khắp các hang cùng ngõ hẻm kể cả những xóm nhà lều bẩn thỉu của dân đào đãi vàng tận thượng nguồn con sông. Một lần ông ta kể rằng, ngày xưa ông ta rất muốn ra nước ngoài. Ông từng thi đỗ đại học nhưng vì lý lịch xấu nên không được nhập học. Mấy thằng bạn cùng cảnh ngộ bất mãn gom hết tài sản để vượt biên. Họ rủ rê ông tham gia và khi biết ông không có đủ vàng một trong số thân hữu đã chia sẽ cho ông một ít gia tài của mình. Thế nhưng, dù thuộc diện người gốc Hoa được tự do ra đi có trật tự ông vẫn sợ, linh tính chết chóc thì đúng hơn. Hình như chuyến đi ấy thân hữu ông gặp bão hay cướp biển gì đó và tàu đắm chết cả hay sao đó mà gần ba mươi năm rồi ông vẫn không tin tức. Ông ta cười buồn: “chỗ vàng bạn hữu cho là toàn bộ vốn liếng để tôi mở cơ sở kinh doanh này đấy. Tôi học nghề kim hoàn và về đây mở tiệm vì thấy đất này con người hiền lành và cũng dễ làm ăn”.
          Nàng nghĩ về anh chàng quản lý nhà sách trên mạng tự hỏi nếu anh cũng làm ra nhiều vàng như ông chủ tiệm kim hoàn từ những gì anh đọc suốt đời. Hình như ngày trước anh cũng đi vượt biên chứ không phải xuất cảnh. Anh nói anh nghèo xơ xác và nàng tin, tin chỉ vì nàng biết những gì anh làm chỉ đưa đến sự sung sướng trong đổ nát. Trừ phi anh có tài phù phép ra tiền, còn không, anh mà giàu thì chỉ nhờ vợ thôi.

          Tư phôn cho nàng bảo Tư nhắn lại bao giờ anh về Tư mời anh đến chỗ Tư chơi. Cứ như thơ phú của anh thì Việt kiều Mỹ phải là khách vip và một khi về nước họ sẽ ban ân sũng cho con dân Việt Nam từ Bắc chí Nam. Đồng bào tha hồ mà nhờ ơn mưa móc. Anh quen Tư trong dịp Tư tham quan nước Mỹ cùng đoàn nhà báo cao cấp. Anh nhìn nhận Tư thế nào mà bảo sẽ đến chỗ Tư học hỏi thêm thuật xử thế. Anh từng viết thư cho nàng bảo có biết một nhà báo tên Tư đang công tác đâu đó gần khu vực nàng sinh sống. Nàng sửng sốt vì vợ chồng Tư vốn cùng học chung với nàng tại học viện văn hóa quốc gia ngày trước nhưng họ lớn tuổi hơn nàng nhiều, là bậc đàn anh, đàn chị của nàng. Anh khuyên nàng chịu khó đến để Tư dạy thêm điều nọ, điều kia. Phải chăng bao nhiêu năm qua mãi mưu sinh nơi đồng chua, nước mặn, chống chịu mưa bão, lũ lụt và hạn hán, kiến thức rơi rụng đến mức nàng mà không học trở lại thì sẽ không được tích sự gì. Nàng đã tìm gặp Tư và hỏi thăm về anh nhưng cuối cùng đành thất vọng vì Tư bảo không liên lạc với anh và hơn cả thế, Tư còn dạy nàng rằng: sự thức thời và thực dụng của y đã khiến Tấn rất nể phục và rồi Tư khuyên nàng nên cày xới trên cánh đồng của mình bởi không bao giờ nàng xu thời được như y, nàng khó mà vừa tán dương một vị thủ tướng vừa khóc cùng dân đen mà không thấy mình xấu hổ. Riêng nàng hiểu là Tư khéo chạy chọt, luồn lách, lựa gió bẻ măng. Bản thân nàng một lần nữa đã giả định viễn cảnh một ngày kia bộ ba: Anh – Tư – nàng cùng hội ngộ trên một dòng sông.
         
ĐOẠN KẾT
...Nhân dịp về Việt Nam cưới vợ cho con trai Tấn chủ động tìm gặp và rủ nàng đến chỗ Tư. Nàng không thay đổi mấy sau nhiều năm kể từ lúc quen anh và nàng thì thấy rõ là thời gian đã làm cho lòng tin yêu của nàng chuyển dịch về một thế giới xa xôi, và chỉ hiện diện đâu đó trong tâm tưởng nàng như là hoài niệm. Thế nhưng trong trí nhớ của anh thì bao yêu thương ở nàng là chốn đi về của sự quên lãng dù rằng ký ức anh lưu trữ những lời dịu dàng xuất phát từ đáy lòng nàng đã trở thành những sáng tạo đẹp nhất của ngày hôm qua. Có lần vì giận anh nàng buông ra những lời cộc cằn, cay đắng nhưng nàng quên bẵng và anh cũng không để bụng. Tư chế giễu anh là nàng chẳng bao giờ nhớ nổi những gì xảy ra trong quá khứ. Gợi lại những chuyện buồn vui hoặc không đâu vào đâu là điều chẳng nên chút nào, nó chỉ cho mỗi người một dự cảm chứ không phải trải nghiệm sống thực sự. Mà điều này thường chỉ đem đến nỗi lo âu tuy mơ hồ giữa những kẻ nặng nghĩa tình với nhau.
          Anh không thích cách võ đoán của Tư. Rõ ràng Tư ngờ vực họ. Lẽ ra y phải hiểu anh về đây đâu phải để gặp nàng. Anh bỏ ra số tiền khổng lồ bay từ Mỹ về cái vùng quê này. Tư hỏi anh có phải vì quá yêu nàng không? Câu hỏi này xem ra ngu ngốc nhất vì lẽ anh biết giữa anh và nàng chỉ là thầy trò. “Vậy tại sao lại đến chỗ nàng. Vì chán vợ ư?” Tư lại hỏi. Y không quên đau đớn rằng: y nghi ngờ vợ nhiều lần ngoại tình nhưng không muốn li dị vì lẽ bản thân y từng tìm đến với nhiều người đàn bà và thấy họ không thay thế vợ mình được nên cuối cùng đành chấp nhận cái sự thể ông ăn chả bà ăn nem và coi đó như là cách mỗi người tự làm khác mình...
-        Tôi từng đau đến tưởng chừng nát cả người ra như sứa biển khi yêu – Tư nói điều này với Tấn và nàng vào cái lúc cả ba đang du ngoạn trên thuyền - có gì đó như là lời buộc tội khi nàng kể Tư hay rằng Tấn đã biến nàng thành vật hiến tế cho gã lưu manh vô học, vô đạo mà Tấn cực kì ưa thích – lạ điều là hắn cũng đến chỗ Tư, hắn muốn hạ sát nàng để tranh đoạt tình yêu, hắn yêu thương tất cả những người nàng quen biết ở Mỹ  và có vai vế trong xã hội - Thứ  tình người này kịch phát con người hắn thành khối thuốc độc. Té ra Tấn dạy hắn sống sao cho tốt đẹp và thường xuyên giúp đỡ người đời, riêng với nàng thì không cần -  Hắn đã làm theo lời Tấn theo cách của hắn là lợi dụng tất cả những quan hệ xã hội của nàng – biến bất cứ ai nàng biết thành kẻ thù của nàng, mượn tay họ tru diệt nàng. Một con người có hiểu biết rốt ráo về cuộc đời như Tấn hẳn nhiên là đủ sức giúp nàng thành đạt trong mơ ước cỏn con ở mọi độ tuổi, nàng nào ngờ anh thiếu thực tế đến mức tưởng trong sát na cảm hóa nổi một ác quỉ thành bồ tát để nàng yêu thương hắn. Tấn vẫn điềm nhiên từ xa điều khiển gã lưu manh theo cái cách mà anh nghĩ rằng tốt đẹp nhất. Lại còn dạy nàng thương người như thể thương thân(!). Mà sao nàng thấy  anh cũng hội đủ sự tầm thường của mọi gã đàn ông.
           Anh thấy khó chịu về Tư nhất là khi bắt buộc phải giãi bày:
-        Đến hôm nay tôi mới về vì lẽ, tôi nghĩ rằng chậm năm mười năm thì nàng sẽ lớn hoặc già hơn thôi chứ chẳng vấn đề gì, làm người đàn bà trưởng thành nàng sẽ nhìn mọi quan hệ một cách tỉnh táo. Bởi vì tất cả chúng ta đều sống trong chuỗi những sự đời và song hành với những người khác cũng như cùng chung hưởng món quà tặng vĩnh cửu là thời gian. Tôi thấy không cần thiết phải giả bộ như những tay Việt kiều khác là cho nàng biết tôi mất vợ hoặc không có vợ. Ở Mỹ, anh có thể mời vợ của người khác mà anh tình cờ quen biết về nhà để yêu nếu cô ta đồng ý. Tôi nhiều lần phát hiện ra vợ mình rất thích những vụ lăng nhăng và bị mời mọc kiểu này. Tôi không thấy thiếu vắng  vì thỉnh thoảng vẫn đưa đón các cô gái độc thân ở sở làm. Có cô gắn bó với tôi hàng năm trời mới dứt tình ra đi. Cứ mỗi mất mát cũng buồn lắm, đau lắm nhưng dần rồi cũng chấp nhận được mọi đổ vỡ.
          Tư rót thêm rượu vào ly  và xa xôi về sự chênh lệch tuổi tác giữa anh và nàng. Anh không thấy thế làm điều vì biết là nàng nhỏ hơn anh đến hai mươi tuổi, nhưng dù nàng nhỏ hơn hai hoặc hai mươi hay năm mươi tuổi thì họ cũng chẳng trẻ hơn hoặc già hơn bao nhiêu trước thời gian. Anh đã đến cái tuổi mãn chiều xế bóng và thấy đời vô thường lắm. Người con gái kia ngày trước yêu anh như yêu mọi gã đàn ông thì hẳn là nàng có thể lấy một tấm chồng rồi sum vầy vui vẻ nhưng nàng đã không. Nàng tìm kiếm một điều gì khác lạ với cái cuộc sống bần hàn, khốn đốn và cô đơn chốn đầm lầy của nàng. Làm sao anh có thể cho nàng hiểu dòng đời vẫn xuôi trôi như nước trên sông mà mỗi người thì không ngừng thay đổi, không phải là nàng, hay anh hay ai đó bị thay thế bởi một kẻ khác mà là bản thân mỗi người tại mọi thời điểm đã biến thành người khác mới hơn, lớn hơn, hoặc già hơn.
          Họ ngồi trên thuyền uống rượu. Trong lặng im hốt nhiên Tư như chợt nhớ ra điều gì đó và y nói:
-        Suy cho cùng thì có gặp nàng hay không cũng thế phải không ông Tấn? Tôi nhớ ngày xưa có một nữ thi sĩ đất Hà thành yêu tôi. Mối tình ấy đẹp đến nỗi tôi cứ mơ ngày kia đưa nàng về ra mắt họ mạc và sẽ làm bà con lóa mắt bởi vẻ đẹp của nàng, chẳng là lúc ấy tôi đang theo học tại học viện văn hóa, đi học theo diện sĩ quan quân đội phục viên nên lúc này tôi cũng khá lớn tuổi. Người tôi yêu còn trẻ trung, thanh lịch lắm, bao giờ tôi cũng sợ mình thể hiện cái sự thô kệch của thằng lính quê khiến nàng dị ứng và tôi nâng niu nàng như nâng niu con chim cảnh. Ngày nọ, tôi bắt gặp nàng và ông hiệu trưởng đáng tuổi bố nàng hôn nhau. Khi tôi hỏi thì nàng nhấm nhẳng:“thầy muốn vậy chứ em đâu muốn”! Tôi chỉ có thể xáng cho nàng một cái tát tóe lửa và đi cưới vợ.
          Y suy nghĩ một chút rồi chợt cười buồn:
-        Nếu sống trong tâm thức rằng đêm nay ngủ có thể ngày mai mình sẽ chết đi và như thế thì tìm lại một tình yêu đã mất phỏng có ích gì? Ấy vậy mà anh Tấn ạ! lúc nào tôi cũng đau đáu một điều là nên một lần tìm gặp lại cô ấy. Tôi thiết tưởng đó là lời xin lỗi muộn màng. Mấy mươi năm rồi nhưng tôi chắc thương tích trong lòng cô ấy vẫn còn nguyên cũng như sự hối hận vẫn luôn giày vò tôi mỗi khi tôi nhớ lại cái tát của mình.
          Khó ai biết vì sao lúc đó nàng vờ như không nghe Tư nói chuyện với anh và đăm đăm nhìn bầy vịt trời bơi ngược dòng. Giá mà Tấn biết nàng rất ghét thói vũ phu của Tư. Từ lâu nàng biết y hay đánh vợ chỉ vì ghen.
          Anh nhìn nàng hồi lâu rồi bảo Tư:
-        Mỗi chúng ta ai cũng có vài ba hoặc hàng loạt cuộc tình trước khi lấy vợ còn nàng thì sao. Nàng từng là hoa đã có chủ. Chồng nàng chẳng muốn gì hơn được một góa phụ ở Mỹ bảo lãnh theo diện kết hôn, mà chồng quá cố của chị ta lại là bạn nàng. Sau khi đã lãnh cảm trước cái sự khả ố và vô nghĩa của những người đàn ông kết hợp với nàng trên danh nghĩa tình nhân hay tình vợ chồng, rồi bội bạc, cuối cùng nàng chỉ muốn tựa vào một kẻ như mình sao được. Đã có lúc mình muốn gã lưu manh mà nàng kinh tởm cưới nàng.
          Nàng giật mình và len lén nhìn Tấn. Đâu đó là bóng ma của gã lưu manh vẫn rình rập.
           Ráng đỏ chiều tà nhuộm hồng sóng nước trên sông. Thực vật phù du vật vờ theo dòng chảy. Tư uống như không biết say. Tấn ngồi nhìn những bức tranh hư ảo không ngừng thay hình đổi dạng từ đám mây nổi phía chân trời. Anh đã có dấu hiệu của một ông già mà nàng thoáng nhìn chỉ thấy trẻ hơn anh chút xíu.
                             LTT

                    MỘT CHUYỆN TÌNH Ở HUẾ
                                
          Châu gặp anh ta ở Huế vào năm mười chín tuổi. Thưở ấy Châu chưa có một mảnh tình vắt nhưng cũng nếm đủ dư vị chua chát, đắng cay ở đời. Châu chẳng thể nào nhớ nỗi mình đã sống chuỗi ngày sinh viên sư phạm thế nào, một điều đặc biệt là Châu có rất nhiều bạn nhưng không thân thiết lắm. Nỗi thất vọng giảng đường cùng với cảnh khó nghèo buộc Châu thu mình lại như con ốc sên. Có nhiều điều Châu không hiểu khi đang mười chín, trong đó có cả cái chuyện là tại sao người ta như thấy mất một phần thân thể khi bị phản bội hoặc dối lừa. Còn nhớ có lần Châu tranh luận với Yến Linh về tình yêu. Yến Linh chưa một lần yêu nhưng nó nhìn tình yêu qua tro tàn cuộc tình của chị gái. Linh hay nhắc đến người đàn ông mà chị nó từng yêu. Châu đoán rằng Linh rất tôn thờ người đó. Rồi Châu cũng gặp người đàn ông mà Yến Linh luôn nhắc – con người mà từ bao tiếc nuối ăn năn sau những cơn cớ khủng khiếp của tình yêu và tình huống đau khổ của hôn nhân, người chị của Linh tái tạo lại thành một vị thánh, dù đã có lúc dưới mắt chị ta, anh chàng chỉ là một khối vô nghĩa. Còn Yến Linh thì khỏi phải nói: tuy không có năng khiếu hội họa nhưng nó cũng vẽ thành công một chân dung thần ái tình hoàn hảo nhất. Châu đã cười chị em họ, nhất là khi Châu biết chắc rằng người đàn ông kia ở không xa nhà Châu mấy, chẳng qua anh ta lớn tuổi hơn Châu nhiều, từng là bạn của thầy dạy văn lớp Châu thời trung học, nhưng không mô phạm như thầy, anh ta ăn chơi và rượu chè ngập ngụa. Thầy của Châu bảo: văn nghệ sĩ là như thế. Thuở đó, Châu ngây thơ, thầy nói gì, Châu hay vậy. Sau này, do sự đưa đẩy của dòng đời, cùng với thiên tư và như một quy định của định mệnh. Châu trở thành một nghệ sĩ đích thực. Cố gắng duy nhất của Châu trong tư cách một thi sĩ là thanh bạch đến sơ sài. Nhờ đó, chưa bao giờ Châu gợi cho người khác cái ý nghĩ cô cũng hư đốn bê bối như đa số dân văn chương. Nhưng đó là bây giờ, hồi mười chín tuổi, Châu tinh khiết như giọt sương ban mai và các cô gái vào tuổi mười chín đa số đều như thế.
          Châu nhớ cái lần đầu chạm mặt anh ta: buổi chiều nọ, người đàn ông bước ra từ những câu chuyện mà Yến Linh thường kể và gõ cửa phòng hỏi Yến Linh. Châu và Linh ở chung phòng nơi Ký túc xá sinh viên sư phạm. Người đàn ông thành khách của cả phòng và từ lúc đó Châu trở thành chỗ quen biết với anh ta. Mối quan hệ của anh ta và Châu mấy năm sau đã trở thành một bằng chứng phi lý của ngộ nhận yêu đương mà không phải ai cũng kinh nghiệm trong đời.
          Lần ấy Yến Linh đã giới thiệu người đàn ông một cách đầy kiêu hãnh với bạn bè cả phòng. Đám nữ sinh mở to đôi mắt chiêm ngưỡng người hùng, bởi chăng, cả lũ đều biết trước chúng hơn mười năm, anh ta đã học, đã xây dựng tập san của trường, sáng tác của anh ta từ tranh đến nhạc, thơ, văn xuôi,... đầy khắp các tập san và cô giáo trưởng khoa đã tán dương rằng: trong suốt 15 năm qua, toàn khoa chưa có ai xuất sắc bằng người đàn ông đó. Không hiểu sao Châu vẫn thờ ơ dù biết mình đâu dám coi thường một người nổi tiếng. Ấn tượng của Châu vào lúc ban đầu là anh ta chẳng có gì liên quan đến con ngươi viết các tác phẩm dành cho sinh viên mà Châu từng đọc, anh ta quá gàn.
          Yến Linh đã trách cứ Châu rất nhiều khi anh ta có thái độ hỏi han ân cần vậy mà Châu cứ như bận tâm chuyện gì đâu đâu và trả lời nhát gừng. Rồi Châu cũng chú ý đến anh ta nhưng trong cuộc gặp gỡ khác, hơn một năm sau đó tại Hà Nội. Lần này cả hai đều tham dự Đại hội những nhà văn trẻ. Anh ta thấy Châu và đến bắt chuyện, trong suốt kỳ đại hội anh ta đeo dính Châu nửa bước không rời. Khi mọi người tụ tập đông vui, anh ta đề nghị Châu đọc thơ nhưng Châu chỉ ký tặng anh ta tập thơ mỏng đầu tay của mình.
          Người đàn ông nhận xét:
-        Trong em quá nhiều u uẩn, mất hết sự hồn nhiên. Em viết như khóc, đọc càng nao lòng. Đôi chút khinh bạc không giúp em thắng vượt được yếu đuối, đa sầu. Chỗ yếu của em là khuynh hướng yêu thương, ước muốn ban phát, vị tha. Hơn thế nữa là nhu cầu bao dung, dâng hiến không vị lợi. Trong khi đời sống thì đầy tráo trở, cạm bẫy. Người đời thì ích kỷ, tham lam. Em trắng tay, không chỗ ẩn náu, tâm hồn dễ tổn thương. Em chỉ có thể sống bằng đau đớn.
          Châu giật mình. Không hẳn người đàn ông thấu được tâm can Châu. Điều lạ là từ trước đến giờ chưa ai nói với Châu như vậy. Cô mới hai mươi tuổi, những điều cô viết mới chỉ là dự phóng. Anh ta quá cáo già, hoặc giả anh ta đánh lừa. Châu tìm thấy ở người đàn ông một cuộc tình đầy oan nghiệt. Bao giờ cũng bắt đầu từ sự dại dột đầu đời.
          Hắn nhìn vào đồ thị biểu diễn những bước thăng trầm đời mình: một hình sin với nhiều đỉnh đáy so le. Là thằng bé mồ côi cha, có mẹ cũng như không – mẹ hắn tái giá sau khi cha hắn qua đời không lâu – bao thương tích suốt chuỗi ngày bỏ nhà đi hoang đã tạc lên mặt hắn nét phong trần hoang dã khi đang còn thơ trẻ. Rất nhiều thiếu nữ yêu hắn, định mệnh khiến xui hắn chọn Mai – một nữ sinh khoa văn học dưới hắn vài lớp. Mối tình ấy chẳng có gì đặc biệt ngoài trừ những cuộc cãi vã, hờn giận như cơm bữa bởi hắn ưa đàn đúm, bù khú còn Mai thì chỉ thích được chiều chuộng, cưng hư. Hắn vào đại học khi tuổi tác đã ngang bằng các giảng viên. Tình yêu hắn dành cho Mai từa tựa như tình thầy trò. Vốn hiểu giá trị của tri thức nên hắn tự học cũng ghê lắm. Khi Mai đưa hắn về giới thiệu với gia đình, hắn thấy nhà Mai cũng thường thường như nhà hắn. Điều hắn không ngờ là cha của Mai nhìn hắn lắc đầu. Thì ra ông hãnh diện vì con gái ông hơn hắn là còn cha. Ông ta biết Mai còn một người tình khác. Có chút gì đó thật khôi hài trong mọi quan hệ của cô con gái mà người cha không tiện nói ra, chí ít ông cũng cho như thế là khôn ngoan giữa thời buổi ấy. Gã kia không học vấn bằng hắn nhưng gã là cán bộ nhà nước. Vào cái thời bao cấp, ở quê làm ruộng đất chật người đông trong các hợp tác xã cơ cực lắm cho nên, một cán bộ nhà nước xem ra phong lưu và đáng giá, lại nữa, nhà anh ta và nhà Mai khá gần, trong khi nhà hắn cách trở đường trường, đèo truông đầm phá một lần đi về là hiểm nguy khôn lường. Hắn không đủ tinh ý để sớm hiểu cái kiểu cha của Mai loanh quoanh vấn đề cung mạng tử vi, soi đi soi lại năm sinh tháng đẻ của hai đứa rồi cho rằng hắn và Mai không mấy hợp nhau, ông còn bảo nếu thật yêu thì cưới lập tức.
          Hắn chưa có công ăn việc làm ổn định, Mai vừa mới ra trường, họ kiếm đâu ra tiền để lo đám cưới cũng như chi phí cho cuộc sống lứa đôi sau hôn nhân. Người cha biết điểm yếu của hắn, ông nhắc khéo là hắn không nên tìm gặp Mai khi chưa nên sự nghiệp gì.
          Đó là những ngày buồn nhất trong đời, không phải hắn quá yêu Mai, chẳng qua bây giờ những cô bạn sinh viên từng rất yêu hắn và có nhiều điểm vượt trội hơn Mai đã ra trường và ai cũng lo ổn định một chỗ làm, một mái ấm. Hắn đã yêu Mai gần năm năm. Thời kì đầu Mai ảo tưởng hắn là một người xuất chúng sau này sẽ nên danh phận khi nhà trường giữ hắn lại làm giảng viên và gửi hắn theo học chương trình sau đại học. Sau, chỉ vì lý lịch người khác tốt hơn nên được chọn, hắn bị loại và trường trả hắn về lại địa phương. Hắn cảm thấy hằn học mà chẳng làm gì được, Mai quyết định tiến tới hôn nhân với người tình dự bị. Hắn từng thề nguyền với Mai rằng: Mai bỏ hắn đi lấy chồng, hắn sẽ không bao giờ lấy vợ. Bi kịch của tình yêu bắt đầu từ lúc hắn quay về quê, gõ cửa xin việc nhiều nơi nhưng không đâu nhận. Hắn theo một người bạn lên núi nổ mìn phá đá đem bán. Thuở ấy đói thê thảm và hắn chỉ có thể kiếm chút ít tiền bằng hình thức lao động kinh khủng này. Một năm sau hắn mới tìm gặp lại Mai. Hắn không tin khi Mai cho hắn biết đã lấy chồng, trước đó mấy tháng Mai viết thư nói lời chia tay hắn, còn bảo hắn chỉ là kẻ thất nghiệp nên Mai không thể yêu và chờ đợi. Tự ái, hắn im lặng. Khi Mai thấy mình quá đáng, Mai đã viết thư xin lỗi và van hắn nghĩ thế nào về Mai cũng nên hồi âm. Hắn không viết gì. Khi hắn có chút vốn tàm tạm và tính chuyện làm lành với người yêu thì ván đã đóng thuyền. Mai kể hắn nghe trong đêm hợp hôn chồng Mai đã vò xé Mai đến nát nhàu vì cô đã thất tiết trước khi về nhà chồng. Hắn như chết cả con người. Mai điên dại và không chịu về nhà chồng sau khi họ gặp lại. Mai đã theo hắn về nhà người bạn cũ gần trường xưa, mặc cho hắn xé nát áo quần quặp cứng và gầm gừ như một con thú. Cha mẹ Mai khi vỡ lẽ mình gả đứa con gái rượu cho một thằng vũ phu mà cứ tưởng là người đức độ thì quá muộn. Mai chán chồng muốn bỏ về nhà cha mẹ, chồng Mai dọa tự sát. Nhìn Mai nhếch nhác, hắn không khỏi động tâm.
Chuyện tưởng kết thúc ở ngoại ô. Một buổi chiều Mai đến gặp hắn theo hẹn. Hắn chỉ nói với Mai ngắn gọn:
-                     Đi với anh!
          Mai trả lời hắn là không thể. Mai đã có thai với chồng. Mai không muốn phá thai, càng không muốn hắn lãnh món nợ này. Đêm ấy hắn dìu Mai về ngủ với chồng. Cố gắng lắm hắn mới chống nổi niềm ham muốn tìm gặp Mai. Giờ đây Mai như nô lệ của hắn. Bao giờ gặp nhau Mai cũng khóc như mưa gió. Cô bỏ bê mọi thứ theo hắn đến một nơi chỉ có riêng 2 người. Hắn biết gặp Mai là hèn mà không gặp cũng hèn.
          Hơn hai mươi năm hắn tàn phá trong các cuộc rượu. Hình ảnh Mai cứ như bóng ma ám ảnh hắn. Nhiều phụ nữ đã đi qua đời hắn trong đó có cô bạn láng giềng đã kịp sinh một đứa con nhưng không ai kéo nổi hắn ra khỏi quá khứ tội tình. Hắn khinh Mai nhưng không đủ sức khinh mình khi bản thân sa lầy vào một cuộc tình trớ trêu mà người đàn bà của đời hắn đã có con với kẻ cưới chị ta làm vợ nhưng lúc nào gặp hắn cũng bảo không biết trong hai người đàn ông ai mới thật là chồng của mình. Hắn căm thù cái người hắn yêu và biết thừa sự quỷ quái trong cái gọi là tình yêu đích thực nhưng cố vớt vát và tự an ủi mình chỉ là chơi thôi. Nào ngờ ai cuối cùng cũng kiệt sức trong cuộc chơi dài. Gần năm mươi tuổi, hắn đánh mất dần vẻ gai góc của một thằng người bất cần. Hắn bắt đầu nghĩ đến cái chết. Một chẩn đoán sai lầm của bác sĩ rằng hắn mắc phải căn bệnh ung thư ác tính khiến hắn toan kết thúc đời mình thì bỗng một hồi chuông vang lên. Chính người vợ đáng tuổi con hắn đã lầm lạc kéo hồi chuông định mệnh này, cùng với đứa con vô thừa nhận khi hãy còn trong bụng mẹ và người đàn bà hàng xóm bất hạnh đã chắt chiu giọt máu hắn để lại lúc mới tượng hình lúc hắn hứng chí mà ăn nằm với chị ta. Vâng! đứa con vì không muốn làm một đứa trẻ không cha đã túc trực bênh giường bệnh của hắn hàng tháng trời chỉ để được hắn gọi tiếng con trong niềm ăn năn muộn màng. Thế nhưng, ngay cả khi bị đập một đòn dữ dội theo đúng nghĩa “có vay, có trả” bởi sự cố cô vợ trẻ giàu có hắn cưới ở cái tuổi tri thiên mệnh phát hiện ra hắn vẫn đi ngang về tắt với người tình xưa đành ẵm con về quê xa tít tắp để rồi hắn vẫn bám víu vào ảo ảnh cuộc tình Mai. Khi vắng vợ, thiếu con, buồn lòng, hắn trở lại Huế đưa đón Mai đến các nhà nghỉ, khu an dưỡng. Giờ đây hắn đã thành đạt và rộng đường đến nơi hẹn hò. Người đàn bà đến tuổi hồi xuân đầy ham hố dù chị ta nheo nhóc cùng đàn con hờn trách hắn rằng: “không biết còn ai yêu mình nữa đây?” Hắn mới nổi sùng bảo chị ta đừng để hắn phải khinh chị ta nhiều hơn nữa. Mai đanh đá rằng hắn đã làm cho Mai suốt đời không biết thế nào là hạnh phúc gia đình. Hắn chửi Mai làm cho hắn ghê tởm cả những gì Mai nói với hắn ngày xưa, khi hai đứa chết trong đói nghèo và duyên phận bẽ bàng, nào là một người con gái khác từng yêu hắn, và hắn thực sự muốn cưới nàng làm vợ - không phải vợ hắn bây giờ đâu – thế nhưng phát hiện ra mối tình nhập nhằng của hắn với Mai, nàng đã bỏ đi lấy chồng. Nàng không có hạnh phúc vì hắn đã trả thù bằng cách gieo rắc những điều tiếng mập mờ nhằm đánh vào sĩ diện của anh chồng trẻ thiếu kinh nghiệm và chưa từng biết mọi hiểm hóc của lòng người. Thằng con trai bất hạnh vì không biết mình hạnh phúc đã làm cô vợ trẻ chịu hết nỗi bèn bỏ nhau, nên suốt đời hắn đem nàng ra bêu riếu. Hắn tưởng nàng sẽ tìm đến hắn, van xin hắn như Mai ngày xưa nhưng tuyệt không. Bao nhiêu năm qua hắn biết nàng trầm luân trong biển khổ nhưng nàng cũng sòng phẳng với hắn đến mức có lần bảo thẳng không hiểu sao nàng yêu phải một kẻ bỉ ổi như hắn. 
          Mai bảo bây giờ chị ta và hắn đi bất cứ nơi đâu làm lại từ đầu cũng không quá muộn. Con cái chị ta đã lớn chúng hiểu mẹ hơn. Hắn nghĩ đến chuyện dỗ dành làm lành với cô vợ trẻ và phải hết sức bí mật chung chạ với Mai. Con đèo Hải Vân ngày xưa là chướng ngại trên hành trình đến điểm hẹn với Mai thì giờ đây những phút chui qua đường hầm trên đường ra Huế làm hắn sung sướng đến điên dại. Mối tình gần 30 năm của hắn được bù đắp muộn màng. Chồng Mai đã ra một ông già tự mãn. Mai vẫn cứ phây phây đem đến cho hắn cơn khát thèm đến u mê. Nhưng hắn hãnh diện đó là tình yêu và chẳng có gì đẹp hơn đoạn kết có hậu của cuộc tình khùng điên này. 

          “...Thời gian chảy đến đá cũng phải mòn nhưng tình yêu thì vững bền mãi mãi – người đàn ông nói với Châu câu đó khi Châu đem lòng yêu anh ta bằng tất cả sự nông nỗi lẫn ngông cuồng – tình yêu thì muôn thưở vẫn là tình yêu: mãi mãi đôi lứa yêu nhau để rồi chung tình hoặc bội bạc, tha thứ hoặc hận thù, nhưng bao giờ người trong cuộc cũng hạnh phúc khi sum họp và đau khổ khi li tan....” Châu đã học lý thuyết tình yêu như thế đấy. Ngày ấy Châu có hiểu bao nhiêu điều anh ta nói đâu. Châu chỉ cảm thấy thương mến anh ta một cách đầy mù lòa để rồi phiền muộn, khổ tâm khi phải chuyển hóa cả một quá khứ tối tăm của anh ta thành của mình. Có lẽ do lãnh đủ từ cuộc tình đó mà Châu trở nên thất thường và đáng ghét. Chỉ có điều Châu không sao hiểu nỗi người tình của chị gái Yến Linh và người Châu yêu lần đầu lại là một? Yến Linh theo lẽ thường đã phản đối chị gái nhưng vẫn thèm muốn nghĩa tình của anh ta. Họ không muốn mất nhau vĩnh viễn nên họ làm Châu khinh ghét. Ở đời có nhiều điều vô lý nhưng lại diễn ra theo một sự xếp đặt bí ẩn, chẳng hạn như câu chuyện tình này. Châu chưa gặp chị của Yến Linh bao giờ. Sau ngày rời trường Sư Phạm Huế, Châu chưa một lần gặp lại Linh. Châu đã sống những đêm trường tình yêu mà không biết. Tình cờ Châu phát hiện người yêu cũng vậy. Đứa con đầu lòng của chị gái Yến Linh là kết quả của những giờ phút nhẹ dạ: chị ta đã trao thân cho một thầy giáo đã có vợ nhưng phải lòng cô học trò. Khi biết mình có thai mà người yêu thì mấy tháng ròng không một lời nhắn nhe, chị đành phải chọn đức ông chồng sau này làm vật hiến sinh cho hôn nhân bởi anh ta đã trồng cây si gần chục năm ròng rã.
          Những bi kịch đôi lứa loại này ít xuất hiện trong mọi thời. Cái đáng nói ở đây là khi yêu người ta thường mù quáng và không yêu thì tàn nhẫn lắm. Đáng lẽ Châu không nên bước vào đời người đàn ông đó, hoặc đã vào thì ra khỏi cho nhanh. Vậy mà Châu đã dây dưa trong mấy năm. Những năm tháng đó Châu biết mình bị dối lừa nhưng cố tình để người ta lừa. Về sau, Châu hiểu tình yêu sâu xa hơn, Châu biết nếu yêu trở lại, Châu sẽ theo người yêu đến tận cùng. Thế nhưng trong trái tim vốn mềm mại nhưng dễ thương tổn Châu tự đau với những mối tình vô vọng và rồi giờ đây, cô nhận thức được rằng: tình yêu lẫn hạnh phúc là không thật có với Châu. Riêng những kẻ đã yêu quá nhiều hay nhiều lần tổ chức hôn nhân, khi được hỏi về tình yêu hoặc hạnh phúc, câu trả lời thành thật của họ là cái lắc đầu tỏ vẻ mệt mỏi, chán chường. Rồi, như sỏi đá cũng cần có nhau, Châu cũng mong muốn phải dựa vào ai đó để sống. Mọi hướng vọng về hạnh phúc đích thực xem ra còn quá xa vời. Châu không biết với một trái tim không tình yêu, mình có vun bồi được hạnh phúc hay không.
                                          LTT 
                                       SỐNG THỬ

          Chẳng có gì hay ho trong cuộc sống của tôi nếu không muốn nói là quá đỗi thất thường. Tôi đã từng ôm ấp vài ba người đàn bà và không ai chung chạ với tôi quá một năm. Ngày tôi ký tên vào tờ hôn thú, cô ta như không tin vào quyết định của tôi. Không biết từ nguồn cơn nào mà quá nhiều cô nương trong đó có không ít nữ sinh vừa lém lỉnh vừa bạo dạn cứ chủ động tấn công tôi chỉ vì tôi là một trong những người mai sau thừa kế ngân hàng của ông bố đang đến hồi sa sút, nguy cơ phá sản. Từ ngày nhập hộ khẩu định cư nơi thành phố biển này tôi được cánh phụ nữ ưu ái thật sự. Có người chế giễu: thằng Quyền có học vấn, có tiền, khá điển trai: vóc dáng cao ráo, gương mặt cứng cỏi, chân tay rắn rỏi và nụ cười rất duyên với chiếc răng khểnh nhòn nhọn như cố chĩa vào thói kiêu kì của một cô nương xinh đẹp, đắt giá và chỉ cần quen biết trong chốc lát, không cần một lời bắt chuyện, một trong những phụ nữ ấy chủ động mời tôi đi đâu đó như dạo phố, uống cà phê hoặc vào siêu thị mua sắm... rồi lên giường, mà tôi, vốn được tiếng là thiếu gia con ngài thống đốc một ngân hàng ngoài Hà Nội, vì quá nhiều đam mê nên luôn bị bè bạn hút về mọi phía để rồi cứ xung đột cãi vã, ẩu đả,... làm bố mẹ hết chịu nổi, cuối cùng các vị cũng thu xếp để tôi chịu mua một căn hộ trong khu chung cư cao cấp mới xây dựng tại miền duyên hải này cùng tài khoản riêng mà ngoài số tiền bố rót vào như rót nước, tôi vung tay quá trán thì vẫn có thể cưới hàng chục cô vợ và sinh hàng đàn con, ung dung suốt đời. Ngoài ra, mẹ tôi (bà mẹ giỏi buôn bán cũng như chụp giựt trên các sàn chứng khoán lại hết mực tự hào về cậu quý tử), mỗi tháng vẫn chuyển hàng chục ngàn usd để tôi tha hồ tiêu xài. Mẹ chỉ sợ tôi nghiện ma túy và cờ bác, tôi từng hứa với mẹ bản thân tôi hoàn toàn dị ứng với nàng tiên nâu cũng như bác thằng bần...
          Tôi đã rất buồn cười khi nghe một em thỏ thẻ những gì người khác nói về mình. Không mấy ai hiểu tôi không nhầm lẫn khi chọn bục giảng thay vì về công việc ở phòng thống kê của bố. Nó sống lay lắt đến bây giờ là nhờ bố dám nhận mọi trách nhiệm về phần mình: cơn bão lạm phát quét qua, hàng trăm con nợ bỏ trốn, chủ ngân hàng điêu linh nhất nhưng mấy ai lường trước hiểm họa này. Bố muốn tôi tìm một chốn nào đó, an phận trong vai trò của một công chức hoặc một anh giáo quèn vì ông quá sợ cái viễn cảnh bi đát. Cả nhà tôi đều biết vào những thời kỳ ổn định hơn, tôi có thể yên tâm làm bất kỳ điều gì sau đó thì thay ông ra gánh vác cơ nghiệp, nhưng trong buổi này, với năng lực hạn chế, tôi chẳng nên chung lưng đấu cật với bố. Đúng hơn bố tôi lo âu cả bố lẫn con cùng chết chìm. Tôi tạm hài lòng khi xin được chân giảng viên ở trường đại học. Tôi thật sự yêu nghề. Tại trường, tôi với vai trò giảng viên bộ môn Xử lý số liệu thống kê bằng máy tính, và đồng lương được tính theo giờ nhìn chung đáng để cho giới trí thức thành phố mong ước nhưng còn lâu mới sống nổi từ nó nếu tôi không kiếm thêm từ tiền bán bản quyền các bộ ảnh nghệ thuật. Tôi vẫn lên lớp theo lịch vào các buổi trong tuần. Sẽ không có gì đáng nói nếu hàng ngày tôi không khám phá ra bên ngoài những số liệu cùng bảng thống kê và những cô cậu sinh viên lúc nào cũng căng thẳng, máy móc và tranh nhau từng phẩy điểm số ở bảng thành tích học tập, tôi còn thú vui khác là rong ruổi đó đây để tiêu phí từng thước phim mong có được những bức ảnh ưng ý nhất, mà hình như tác phong nhà giáo làm cho tôi trở nên mô phạm và không thích sống hết mình, chơi hết mình, làm việc hết mình như cánh thanh niên cùng tuổi ở Hà Nội ngày nào. Đến năm ba mươi tuổi, tôi vẫn chưa từng say đắm một người đàn bà và cảm nhận niềm háo hức trước một tấm thân. Không hiểu vì sao trước giờ rất nhiều phụ nữ thân cận nhưng chẳng ai làm cho tôi bừng dậy một niềm đam mê. Hồi nhỏ tôi vẫn thường nghe bố nêu ra bốn cái sướng nhất trần đời khi làm người đàn ông: ăn Tàu, ngủ Tây, cưới vợ Nhật Bản, chết Việt Nam. Bố mẹ tôi thích đùa: chết thì không nên thử, còn ba món kia nếu chưa, mình hãy thử xem. Nhà tôi thuở ấy đủ tiền để đưa nhau đến các hội quán học đòi lối ăn uống kiểu giới nhà giàu Trung Hoa đâu vài lần. Riêng bố mẹ ngủ theo kiểu người nước nào thì tôi không dám lén nhìn, các cụ vẫn đùa rằng mai sau, khi có nhiều tiền, tôi cứ sang Nhật mua một oshin nhan sắc chim sa cá lặn về làm vợ.
Bên cạnh nhà tôi là phòng của đôi trai gái thuê trước ngày tôi dọn đến chưa lâu. Hiếm khi tôi trông thấy cô ta. Trước khi tôi thức dậy cô ta đã đi làm và hôm nào cũng về nhà lúc không giờ (là thời điểm tôi đang cuộn tròn trên giường). Tôi biết gã đàn ông là nhờ vào các ngày thứ bảy, chủ nhật gã luôn có mặt ở nhà, thỉnh thỏang gã tiếp rượu các cô ăn mặc mát mẻ mà hễ ai hỏi là gã buông một câu cộc lốc: gái ghẹ thời a còng! Cũng nói thêm trong khu nhà này không ai tai quái như họ. Những cuộc cãi vã liên miên của hai người khiến hàng xóm cứ thấy tốt nhất là mỗi khi họ lời qua tiếng lại mình cứ khóa trái cửa phòng và bưng tai bịt mắt để khỏi phải nghe những điều tiếng kinh khủng nhất mà họ dành cho nhau. Một đêm tôi nghe cô ta mãi gọi cửa nhưng gã không mở. Thế là sau mấy tiếng đồng hồ vừa tru tréo tên người đàn ông, vừa gào thét chửi bới, cuối cùng cô ta cũng thôi tra tấn tôi đến phải mất ngủ vì có lẽ gã kịp sửa soạn đi ăn sáng. Một chị thuê nhà phía bên trái than thở với tôi rằng bọn họ có học là thế mà sao trong những cuộc cãi nhau trở nên hỗn ẩu như đám lưu manh vô học. “Chị cũng có học phải không?” Tôi hỏi vì biết chị sẽ hãnh diện. Chị bảo: “Tôi cũng như cậu!” Tôi rút về phòng vì nhớ cái cảnh đêm kia, chị ta đã ngả ngớn trên ô tô của sếp chị đậu dưới lề đường. Anh chồng đang công tác đâu tận Đà Nẵng. Dù vợ trí thức hay không trí thức thì anh chồng vẫn bị cắm sừng và bà vợ xem ra rất mong chồng thường xuyên công tác tỉnh xa dù thỉnh thoảng chị alo cho chồng: “mình ơi! Em nhớ  mình đến điên dại...”
Tôi bắt đầu chán những trò check mail với đám bạn gái thân thiết Hà Nội. Câu hỏi: bao giờ cậu về? làm tôi thấy ớn. Hồi xưa tôi khá hào hiệp với họ. Tôi được họ yêu quý. Tôi bỏ đi khi biết rằng từ nay mình sẽ không rủng rỉnh tiền bao trọn các cuộc vui. Cũng may chỗ hiện tại của tôi không đến nỗi nhưng rủi cho tôi là đôi trai gái bên cạnh không mấy biết điều.
Tôi đã nhiều lần chứng kiến cảnh sát phạt, đâm chém, thanh tóan nhau trên phố, bản thân tôi từng đánh lộn và đua xe, có lần đi bão tôi bị nạn phải vào bệnh viện, lần duy nhất ấy chưa phải cưa chân, đó cũng là năm tôi phải bỏ dở trường nghệ thuật. Vậy nhưng chưa bao giờ tôi thật sự biết có những người như đôi trai gái phòng kề cận. Họ thù hận nhau đến mức chỉ thích bóc mẽ mặt trái của người kia cho hàng xóm láng giềng cười:
-        Này! Tôi nói cho mà biết. Cô muốn lang chạ với đủ hạng đàn ông thì cứ việc. Nhưng từ nay tôi cấm cô về gọi cửa sau nửa đêm. Nếu những thằng ăn nằm với cô phải về với vợ trước sáng mai còn cô chẳng thể về sớm hơn thì cứ việc ra cống rãnh mà ngủ!
          Cô vợ gào lên nghe phát long óc:
-        Đồ khốn nạn! Tháng nào tôi cũng phải nhận việc cả hai ca nên làm khuya về muộn. Tôi phải nai lưng mới kiếm đủ trả tiền thuê nhà cho anh ăn ở đấy. Không có tôi thì anh giỏi lắm là ra nhà thổ ngủ chung với mấy con đĩ ngày nào cũng đến nhà tôi đổ bệnh vào anh! Tại sao tôi lại dây vào một thằng ăn tàn phá hoại đến như thế hả trời? Anh nhìn coi: lương tháng của anh có đủ anh tiêu không? Anh moi móc, đem bán cả giày dép, bóp ví của tôi. Tốt nhất từ nay anh đi tìm chỗ khác mà ở. Nhà này của tôi. Anh không có quyền hành gì đừng có hòng cấm cửa…
          Tôi không biết gã nghĩ gì khi bị cô ta xua đuổi ra khỏi nhà, và nếu đúng cô ta thuê ngôi nhà này bằng chính tiền cô ta làm ra và ỷ như thế ngang nhiên đi sớm về muộn thì gã không có lòng tự trọng hay sao mà vẫn tiếp tục chung sống. Cô ta nữa, cô nợ gã thứ gì kia chứ? tại sao cô không bỏ quách gã và tìm thuê một căn phòng khác? Hành hạ nhau bằng những lời thô bỉ thì quá khủng khiếp nhưng họ không thôi hành nhau.
          Tôi thử hình dung một ngày mình cưới vợ: cô nàng tôi yêu phải khiến cho đàn ông cả thế giới này ghen tỵ với tôi. Lần ấy tôi trông thấy một thiếu nữ Nhật Bản đang tạo dáng trước hàng trăm ống kính. Cô vừa đăng quang hoa hậu biển. Khi xem video clip: “Thiếu nữ Nhật xinh đẹp một mình trên biển” tôi chợt đem lòng yêu. Tôi nghĩ về cặp trai gái cạnh nhà. Tôi không biết có thật cô ta phải làm việc hai ca trong ngày kể cả ngày chủ nhật và ngày lễ không? Nếu đúng như thế thì sẽ kiệt sức và chẳng mấy chốc sẽ chết vì thằng đàn ông khốn nạn không ai bằng. Cô có ngã bệnh cũng chẳng ma nào đếm xỉa. Cứ cung cách gã thì cô là một thứ nô lệ trá hình. Tôi phát lộn mửa khi nghe mấy người đàn ông trong khu chung cư bảo rằng, trong khi cô ta vắng nhà buổi tối, hắn nằm ườn xem phim sex và chỉ mong cô ta sớm về để hành lạc vì lúc này bản năng trong hắn trỗi dậy, chỉ khi thấy phải chờ quá lâu hắn mới điên để rồi, bốc máu, chỉ cần nghe có người bấm chuông là trút xuống đầu cô ta những từ bẩn thỉu: “mà con gái miền Tây xuống tận dưới này sống thử. Hình như cũng xong đại học và làm việc hai ba nơi, nhan sắc thì đủ cho đàn ông trong khu chung cư ngơ ngẩn nhìn kia đấy”. Tôi không thích tham gia đàm tiếu điều kia, tiếng nọ. Để dịu bớt đầu óc tôi tìm hình ảnh người đẹp Nhật và bao giờ tôi cũng mơ thấy mình nắm tay nàng chạy trên bãi biển trước mỗi bình minh.
Hồi theo học ngành nhiếp ảnh, tôi thích dạo qua các ký túc xá nữ để tìm chụp những gương mặt thật cá biệt. Tôi học dở năm thứ hai và bỏ: một phần vì nghề này chỉ hợp với những tay chơi thượng hạng, bên cạnh những học phần bừa bộn cùng với hàng lô hàng lốc những bài giảng về các trường phái, trào lưu hầm bà lằng và sự ngái ngủ của các giảng viên khiến tôi khoái các buổi chuồn giờ đi chơi với cánh sinh viên nội trú. Hồi đó tôi chưa đến hai mươi tuổi, tôi đã theo nhóm bạn người miền Nam sang trường văn hóa, ở đó tôi quen Dung.
Lúc đầu tôi gọi Dung bằng chị dù nàng nhỏ hơn tôi một tuổi. Chúng tôi thân với nhau rất nhanh. Tôi thích Dung đứng mẫu để chụp kiểu Cô gái trong bóng tối! Bức ảnh này chụp Dung khác lạ, từng đem lại cho tôi giải thương ảnh nghệ thuật. Ngay từ đầu tôi và Dung xác lập tình cảm của mình rõ ràng và dứt khóat: “chúng ta chỉ là bạn của nhau thôi!”. Dung biết tôi trốn học thường xuyên, có khi cả tháng đến trường nhưng không đến lớp rồi nhờ người khác điểm danh và lang thang khắp các tỉnh miền núi Tây Bắc để nháy hết những cuộn phim mang theo rồi không hài lòng đành tống vào sọt rác.
Tôi bị trường buộc thôi học vì bỏ quá nhiều học phần. Năm sau tôi gạo bài như một cậu học sinh phổ thông để thi trường Ngân hàng. Khi tôi đang học trường mới thì Dung chuẩn bị tác phẩm tốt nghiệp.
-                     Dung làm gì sau khi ra trường?
-                     Có một “ông già” lớn hơn Dung một giáp chờ Dung về làm đám cưới.
-                     Định theo chồng bỏ cuộc chơi hả?
-                     Đó mới là chơi đích thực!
          Hai đứa tôi đã có nhiều buổi tối cùng lũ bạn bá cổ quàng vai ngồi hát đến thâu đêm bên bờ hồ Tây. Vui nhất là có một đêm, Dung rủ tôi về phòng nàng trong ký túc xá sinh viên ngủ lại. Cô nàng biết tôi về nhà khá xa mà ban chiều cả nhóm rủ nhau đi bộ khắp các phố. Chính tôi cũng không có chỗ ngủ lại đêm ấy nên thấy về phòng nàng cũng không vấn đề gì. Chỉ khi bảo vệ trường không cho tôi lên phòng Dung vì quá giờ sinh viên được phép tiếp khách tôi mới nhập cùng mấy thằng con trai ra vỉa hè đánh tá lả đến sáng. Nhiều năm sau tôi thầm hỏi nếu đêm ấy bảo vệ trường cho phép tôi lên phòng Dung thì chúng tôi ngủ với nhau như thế nào. Hồi đó Dung nói với tôi là nàng chưa bao giờ hôn một người đàn ông, Dung cũng chưa hứa hôn với cái người chờ Dung tốt nghiệp, ra trường... nơi quê nhà.
Dung có một gương mặt già trước tuổi nhưng trong nội tâm nàng có con người thứ hai hơi baby nên dễ khiến người khác có cảm tưởng nàng con nít, thiếu sâu sắc, vô tâm thế nhưng chơi với nàng suốt gần ba năm tôi vẫn không thấy tận cùng chỗ thăm thẳm nơi người con gái ấy. Tôi hoang mang rất nhiều khi biết sau này Dung đã không kết hôn với người đàn ông mà nàng hứa hẹn, Dung làm vợ một người nào đó mà tất cả bạn bè của tôi lẫn của nàng đều không ai biết. Tôi đã tìm hỏi những người cùng thời quen biết cả tôi và Dung nhưng chẳng ai biết chồng của Dung mặt mũi thế nào, vậy nhưng Dung lấy chồng là sự thật. Tôi khóc khi tự hỏi làm sao Dung có thể trao tấm thân của mình cho một gã khốn nạn nào đó. Nếu trong Dung có một niềm ham muốn nhục dục thì kẻ chiếm đọat Dung ngay từ đầu là tôi.
 Lần đầu nghe tiếng Dung qua điện thọai và chạnh lòng. Trước đó chúng tôi chưa xài hàng cầm tay này và mất liên lạc. Nàng chia tay chồng đã năm năm. Đó là khi nàng được Phương Vân cho số di động của tôi và gọi. Dung muốn biết tôi có gia đình chưa? Sao chúng tôi chẳng bao giờ là hai kẻ yêu nhau? Không lẽ tôi và Dung suốt đời không tìm thấy người tình của riêng mình?
Lần thứ hai trông thấy em gái Nhật xõa tóc bên bờ biển với đôi mắt mênh mông như hút hết linh hồn mọi tạo vật trong trời đất này cứ khiến tôi thao thức. Tôi mơ cưới được người thiếu nữ ấy làm vợ. Dung hỏi tôi cuối cùng có yêu được ai không? Tôi nói với Dung tôi yêu một hình ảnh tuyệt trần như thế. Tôi lao vào học tiếng Nhật để đọc những tiểu thuyết từ bản nguyên tác Nhật ngữ. Những tác phẩm văn học cổ điển Nhật Bản khiến tôi đau xót khi các cô gái trẻ, đẹp và tinh tế đã không chịu đựng nỗi sự thô tục và tầm thường đã chọn cái chết chứ không thèm tiếp tục cuộc sống nơi thế gian ô trọc. Tôi bắt đầu ủy mị như một kẻ đa sầu và ướt át.
          Ngày xưa Dung từng làm những bài thơ haiku và viết vài truyện cực ngắn theo phong cách văn học Nhật Bản đương đại. Dung đã thành công với vài ba truyện. Về sau nàng bỏ hẳn lối viết này. Cô nàng đọc Kawabata, Tanizaki, Mishima, Akutagawa, Abe Kobo, Murakami Haruki,... lúc đó tôi thấy Dung có cái gì rất khó chịu, nhiều khi nửa năm ròng tôi không đến chỗ Dung vì cảm giác khó chịu đó. Một lần Dung bảo tôi:
-        Hồi mười lăm tuổi Dung đã học ở một ông thầy dạy văn cái điều mà những  giáo sư hàng đầu ở Hà Nội không bao giờ biết hoặc dạy cho Dung biết: thầy trò chúng ta đã mất một nền văn chương, một nền giáo dục, một thể chế xã hội ngang tầm thế giới. Người thầy dũng cảm đó đã bỏ dạy và phải đi làm một tên lơ xe cho cha vợ. Ngay lúc ấy Dung đã biết cuộc sống khó nhọc, khủng kiếp, khốn khổ, cơ cực như thế nào. Dung biết vì đã trải nghiệm suốt từ thơ ấu: bạo lực, khó nghèo, bị áp bức, bóc lột, đày đọa, đầu độc,  bỏ rơi,... ngày đi, đêm tới đem đến cho mình bất an, lo âu, hồ nghi và mọi giá trị mà mình nhận lãnh thật đen tối. Dung đã chết thật sự hồi mười lăm tuổi!
-        Vậy thì ai đã sống, đã chơi, đã chiều theo ý muốn trái khóay của Quyền suốt mấy năm ở Hà Nội mà Quyền nhầm lẫn là nàng Dung baby?
-        Baby đấy! Dung đã già cỗi trong cõi đời này khi còn là một bé gái.
-        Thật kỳ lạ! Các cô gái trẻ Nhật Bản chọn cái chết là để hiến sinh cho tình yêu cái đẹp. Sao Dung không chết luôn ở tuổi hoa niên. 
Dung xem chừng nghĩ ngợi và vẫn cực kỳ khó chịu khi không chịu thay đổi sao cho thật baby:
-        Anh hãy sống trong tình yêu tưởng tượng với những cô gái đẹp tuổi hoa niên, đó là cách giúp anh thóat khỏi tháp ngà và không phải thủ dâm hoặc chơi gái...
          Hồi còn đi học chúng tôi thường hay cãi nhau về phân tranh giữa hai miền Nam và bắc Triều Tiên. Nhóm chúng tôi có Phương Vân là người gốc Thanh Hóa nhưng sinh trưởng ở miền Tây. Có lần Dung cười cợt: “gái miền Tây da trắng mắt trơn, ăn nói ngọt ngào chiều anh tới bến, không đẹp không ăn tiền!” Phương Vân không có tính cách vô tư ruột để ngoài da của con gái miền Tây lại người Thanh Hóa nên anh em Hà Nội chúng tôi trên chọc “khu bốn đuổi ra, khu ba đuổi vào!” – chúng tôi chỉ xác định duy chỉ mình Dung là người miền Nam và sự phân định Bắc Nam đến tận hôm nay như Triều Tiên thì Dung hiện đang sống trong một đất nước khác. “Sự thật dù khắc khe vẫn là sự thật!” Dung không cho rằng mình mất nước nhưng Dung dứt khoát mình đứng ngoài chế độ chính trị này.
          Bọn con trai thấy Dung quá đỗi lạ lùng nhưng vẫn cho rằng đánh gục một cô gái trẻ bằng tình yêu và hết. Tôi hiểu là Dung sẵn sàng chơi luôn dù biết mình chơi mình dại. Thế rồi bất chợt tôi bỗng thích thú đến bốc đồng và lôi Dung đi bơi thuyền trên Hồ Tây hoặc hứng chí là nhờ Dung cầm lái, dông xe khắp Hà Nội giữa trưa hè nắng quái hoặc chiều đông lạnh cắt da, cắt thịt.
          Mà sao khi không cố ý phô bày tính cách baby Dung vẫn dễ chịu nhường kia, mà Dung lại chẳng chịu như baby nên tôi mới khó thương nàng. Cánh văn nghệ sĩ biết Dung ai cũng tỏ ra thích Dung baby. Ấy vậy mà thằng tôi trong một lần đối diện với nàng giữa giấc mơ buồn về tình yêu với người con gái Nhật xinh đẹp bỗng thấy Dung hiện ra với diện mạo khác. Nàng gây một ấn tượng cực kỳ đặc biệt và mãi mãi trong tôi, từ giấc mơ duy nhất ấy tôi chợt hiểu ra rằng nàng như một tấm ảnh xưa cổ mà ở đó, chân dung nàng được chụp theo lối viễn cận: một cô gái trẻ có cái nhìn mỏi mệt né tránh bạn, xa hơn phía sau lưng nàng là rừng núi mà sự thâm u lẫn hoang tịch, những bí nhiệm và cả những mật ước nếu có với những cổ tự, đã được phong kín và thật sai lầm nếu chiêm ngưỡng, ảnh liệu hoặc vờ ra vẻ đọc thông, thấu triệt, rốt ráo, bởi vì bức ảnh đó mãi ở trong tâm thức, chẳng bao giờ phóng chiếu.
          Tôi ngỡ ngàng trước người phụ nữ thường về giữa đêm khuya vẫn là nguyên nhân những cuộc náo lọan trong khu chung cư nhưng rồi cô ta xuất hiện trên ngưỡng cửa phòng tôi. Đó là một đêm oi bức, trời có giông. Căn hộ tôi ở tràn ngập lũ kiến cánh, mối và bọ rầy. Tôi phải xịt thuốc diệt côn trùng và mở cửa cho thóang. Mãi đến hai giờ sáng tôi vẫn chưa ngủ được. Người phụ nữ ấy bước vào phòng tôi sau thóang lưỡng lự:
-        Tôi thấy cửa phòng anh còn mở, tôi xin vào ngủ nhờ để khỏi gọi cửa hắn nhưng sợ phiền anh dù tôi biết nhà anh luôn còn chỗ và khá rộng.
Tôi nắm tay người đàn bà dắt vào. Cô chưa tới ba mươi và khuôn mặt trắng mịn không son phấn, cặp mắt đa tình, chiếc mũi dọc dừa cùng cái nhìn thẳng thắng trông thật khả ái. Rất tự nhiên cô đi lại bồn rửa mặt, vệ sinh rồi chải tóc, sau đó cô hỏi với ý nếu tôi ngủ trên giừờng thì cô sẽ ngủ nơi ghế salon hoặc ngược lại được không. Tôi bảo cô cứ vào giường nằm, phần tôi đã có một tấm nệm khác. Cô không nói gì chỉ nhẹ nhàng nằm xuống giường và ngủ say sưa. Tôi nhìn cô ngủ chợt thấy trào dâng một niềm thương cảm như vẫn thường có đối với những bé con. Những đêm tiếp theo tôi cố ý để cửa chờ đợi vì biết cô vẫn làm về muộn, tôi thức đọc sách và ngầm cho cô hiểu nếu gã không mở cửa cho cô thì cứ vào phòng tôi mà ngủ, không cần phải la lối, chửi nhau. Cô đã ngủ ở phòng tôi được ba tháng, trong suốt ba tháng ấy, có một sợi dây oan tình cứ đang cháy chậm trong tôi. Rồi dịp tết dương lịch, khi gã nghỉ phép về thăm quê, cô mời tôi sang phòng chơi, đêm đó chúng tôi cùng uống rượu có thức nhắm và nhấp nháp vài ba món do chính cô làm. Chúng tôi nói chuyện thật nhiều và cô trở nên đáng yêu một cách kỳ lạ. Cô đã dìu tôi vào giường và thật dịu dàng, cô dạy tôi cách ve vuốt người đàn bà để họ sung sướng. Cô có những cử chỉ khiến tôi cực kỳ dễ chịu và tôi không thể làm gì khác hơn là ôm ấp tấm thân mềm mại làm tình suốt đêm. Ngày tiếp theo đúng vào chủ nhật nên hai đứa được nghỉ lễ, không bận việc gì và cứ quấn lấy nhau. Tôi không nhắc bất cứ điều gì về gã. Tôi bảo nếu cô đồng ý, tôi sẽ đưa cô đến nơi khác sống. Cô cười khó nhọc và khuyên tôi thôi ý nghĩ dại khờ ấy. Cô cố tình ngủ với tôi để dứt bỏ gã mà thôi. Từ bữa ấy cô không bao giờ ngủ nhờ phòng tôi nửa. Bản thân tôi sau khi thụ hưởng và biết được những khóai cảm xác thân, tôi bắt đầu tìm kiếm bạn tình. Vài ba cô gái đến với tôi thật đơn giản. Họ đẹp và giàu, họ yêu tôi vì biết tôi là con của ông chủ ngân hàng nhưng không ai trong số họ hiểu tình trạng thê thảm của bố vì cú điện thọai nào gọi cho tôi bố cũng tuyệt vọng: “bố không biết nên trốn ra nước ngoài  không đây?”. Tôi phải nói lời chia tay từng em. Tôi cho các em biết người phụ nữ thật sự của lòng tôi phải biết gánh vác giúp tôi tiền bạc. Em nào nghe tôi nói thế cũng giễu cợt ông giáo gàn và bỏ luôn.
          Tôi không mơ thấy Dung lần nào nữa nhưng rồi Dung tìm đến chỗ tôi. Cả hai cùng dạo chơi một ngày dưới những rặng thùy dương xanh mát. Dung đã ngồi giữa bãi biển vẫn còn giữ nguyên vẻ hoang sơ và khỏa thân để tôi chụp những bức ảnh theo ý muốn. Dung trong tư thế con người thuở hồng hoang bỗng tóat lên một vẻ đẹp nguyên thủy khiến tôi bàng hòang. Tôi đã chụp Dung đến cả ngàn kiểu khác nhau. Ngay cả khi Dung quay về với đứa con nhỏ, tôi còn theo đến tận nhà ghi hình hai mẹ con. Khi nghe tôi kể mình làm việc ở Nha Trang, giữa những người miền Nam của Dung, ai cũng ngả về phía mình. Dung bảo thậm chí nàng có một tương lai ít u ám hơn nếu ngày trước nàng ở lại Hà Nội của tôi.
          Bán xong căn hộ ở khu chung cư cao cấp tôi chọn thuê một căn phòng nhỏ ở ngọai ô. Tôi vẫn dạy học nhưng thời gian rảnh tôi lên mạng rao bán những bức ảnh của mình. Vài triệu tiền lãi trong tài khoản hàng tháng là toàn bộ số tiền tôi chu cấp cho bố.
Cô ta gặp tôi vào một chiều ngoại ô lúc tôi bị cô lập trong nỗi đau buồn khi biết bố vỡ nợ và hầu tòa. Sau gần một năm gặp lại cô ta trông có vẻ hiền lành hơn. Bố đã bị lừa gạt và phản bội. Mẹ cũng quay lưng lại bố. Trước đó bố nói với tôi hãy an phận và lo chuyện vợ con là vừa. Bố luôn nhắc tôi đừng dính vào chuyện tiền bạc. Cả đời bố quay vòng giữa tiền và tiền. Ai cũng biết bố giỏi làm ăn. Tôi chưa bằng ngón tay út của bố. Tôi không biết cách làm cho đồng tiền sinh lời. Ngay từ nhỏ tôi chỉ quen tiêu tiền.
Cô ta an ủi và sau này còn chia sẽ với tôi từng đồng. Gã đàn ông cùng cô ta chung sống đã biển thủ công quỹ. Cô ta không biết những chuyện này. Khi gã trốn được ba ngày cảnh sát mới ập đến. Tất cả những gì sắm được bằng tiền cô ta làm ra đều bị niêm phong, thu giữ. Cô ta chẳng còn gì để mất nhưng lại tin tôi là người độ lượng nhất trên đời và ngộ nhận tôi yêu cô ta.
Ban đầu chúng tôi lặp lại tình trạng sống thử mà cô ta từng trải qua. Cô ta cho tôi biết ngày trước gã đã si mê cô ta đến mức bất chấp gia đình phản đối gã đưa cô ta về Nha Trang thuê nhà chung sống. Ban đầu hai người rất hạnh phúc, về sau gã phát hiện ra những bức thư từ Pháp gửi về. Gã càng ngày càng ghen điên cuồng và độc địa. Gã đổ lỗi vì cô mà gã bị gia đình chối bỏ. Cô ta còn kể hồi chưa theo gã cô đã trải qua mối tình đầu với người bạn trai chung lớp từ thuở nhỏ. Anh chàng đi thực tập sinh rồi không về nữa.
-        Mà em cũng biết là anh ấy sa cơ, lỡ vận sao đó. Thời buổi này khủng hỏang kinh tế tòan cầu, anh ấy gặp đủ khó khăn nơi xứ người. Anh ấy viết thư cho em bảo đừng chờ anh ấy nữa. Ngày xưa em đính hôn với anh ấy. Thế nhưng anh ấy cho biết hiện tại anh hết sức lao đao. Anh ấy không muốn về và dù sống chết gì anh cũng ở lại nước bạn.
Tôi muốn nói với cả thế giới rằng chuyện em đính hôn với người yêu đầu tiên không đáng để em phải chịu một cuộc sống địa ngục với gã. Em từng rất đanh đá, ngoa ngoắt nhưng bấy nhiêu đó chẳng ăn nhằm gì. Tôi không yêu Dung nhưng biết là Dung không hạnh phúc khi lấy chồng. Em là người con gái biết đem đến cho người đàn ông như tôi niềm sung sướng tột đỉnh trong thú vui ân ái. Rượu ngon cái cặn cũng ngon! Tôi không bao giờ nói em biết điều ấy.
          Dung thấy tôi kết hôn với em đã cười chê tôi là anh chàng mơ mộng thiếu may mắn. Cứ theo giọng Dung thì con gái miền Tây ở miền Trung chả ra gì. Dù vậy người đàn bà của tôi cô ta sắp sinh con và tôi không muốn ai xúc phạm cô ấy.
                             LTT
             
                  LỜI CẦU AN CHO BA MẸ
                                    
          “Buồn lắm hả ta ơi!” Câu hỏi vang lên trong đầu liên miên thành một điệp ngữ vô nghĩa suốt mấy ngày nay Chi phải nghe. “Chạy về đi! Về bên mẹ, sà vào lòng mẹ, nghe mẹ la rầy, mắng mỏ, trách cứ hoặc than phiền điều gì đó cũng được hơn là ngồi ở đây, trong căn phòng trọ vắng vẻ và có đôi chút u ám này”.
Chi nhìn những vần thơ mới viết trong đêm qua: Lời cầu an cho ba mẹ. Chi tin vào sức thần của đức tin và nguyện cầu. Chi mơ ước ba mẹ sẽ sống lâu, rất lâu, ít nhất cũng phải vài mươi năm nữa và lúc nào cũng khỏe mạnh. Chi muốn kiếm đủ tiền xây gian nhà nhỏ làm chốn an cư cho mình. Toại nguyện Chi sẽ đón ba mẹ về chung sống. Nếu ba mẹ thoái thác vì đã có nhà cửa rồi Chi sẽ nhõng nhẽo rằng: “Ba mẹ về ở với con đi. Đất ruộng ba mẹ có chút ít đó để con thuê người làm mỗi khi sang mùa vụ. Nhà con có gác cao để tránh lụt. Hiện nay con kiếm được chút ít tiền. Con lo được cái ăn, cái ở cho cả nhà. Suốt đời con chỉ mong làm được bấy nhiêu thôi. Mẹ xem nè! Con vừa sắm được bếp ga, nồi cơm điện, máy quạt… Cứ nhìn mẹ lọ mọ bên bếp lửa liu hiu đầy tro than và những lúc thiếu củi đun phải đun rạ khô tro bụi cay sè mắt mà con xót. Có tiền con sẽ hiếu thảo như ai! Mẹ ở với con sẽ đỡ vất vả. Con chỉ mong ba mẹ đừng rên than những lúc đau ốm, con biết xoa bóp, cạo gió, giác hơi để mẹ bớt đau! Con chỉ xin ba mẹ một điều thôi: đừng kêu khổ, trối chết bé con nó sợ...”
Mẹ cười:
-      Nó lớn rồi còn gì?
          Con giật mình:
-        Nó lớn thật rồi. Vậy mà trong mắt con bao giờ nó cũng như một đứa trẻ sơ sinh. Mỗi khi có ai đó bắt nạt nó là con bảo: “đừng chọc em!” Nghe vậy mọi người cười.
          Mẹ lắc đầu:
-        Con lúc nào cũng như con nít mà nó thì lớn như dưa!

          Chi nhìn thật nhanh ba mẹ rồi nhìn đống bát chén ngổn ngang giữa nhà. Đã nửa tháng nay mẹ đau tay nên không lau quét nhà cửa được. Ngước mắt nhìn lên bàn thờ Chi oải cả người: lư hương, bình bát, tượng phật… bị đập phá tan hoang, từ bàn thờ ra ngoài sân, chén bát vỡ nát, xoang chảo bừa bộn, méo mó.
          Ông Mãnh lại quậy hả mẹ!
-        Ừ! giọng mẹ chẳng biểu hiện gì nhưng mặt tối sầm lại – Hắn thấy cúng tết Đoan Ngọ, hắn đập phá, không cho cúng.
          Chi chẳng biết nói gì. Ba Chi thể hiện nỗi khổ đau qua cái thế ngồi rũ rượi khiến Chi nhìn tưởng đứt ruột. Chi biết mẹ còn tiếc chỗ đồ ăn thức cúng vương vãi khắp nhà đã mấy ngày chẳng ai thèm dọn dẹp. Tại sao ông Mãnh đập phá? Chẳng sao hết! Thích thì đập, đạp đổ, đốt, xé nát mọi thứ. Đó là thói quen độc ác mà ông con trai thường lặp đi lặp lại hành hạ ba mẹ. Chi biết nói gì đây? Chi từng theo mẹ lên chùa. Mẹ ghi danh cầu an cho toàn gia, cầu an cho ông con trai bất hiếu. Chi dự lễ cầu an với mẹ và biết lời nguyện cầu này cũng như ước mơ có một ngôi nhà để đón ba mẹ về chung sống vẫn hãy còn là ước nguyện. Bao giờ Chi trúng số độc đắc thì tất có tiền làm nhà thôi.   Anh chàng rể giàu sụ của bà cô ruột Chi hỏi:
-        Có bao giờ em mua vé số để hy vọng trúng độc đắc không?
          Chi ngệch mặt và điều này tố cáo với anh rằng Chi chẳng biết chơi vé số là gì. Anh cười chế giễu: “ngay cả mơ trúng số cô cũng không mơ nổi đấy!” Thế là Chi quạu:
-        Anh giàu như vậy nhưng chắc chắn anh chưa từng chơi vé số bao giờ. Tui thì dù có nghèo kiết xác cũng đếch chơi!
-        Thử chơi đi Chi ơi! Anh không chơi vé số nhưng anh khuyên Chi nên chơi. Mỗi tháng một vé thôi. Trúng độc đắc một vé cũng được khối tiền.
Mẹ vẫn ân cần mỗi lần Chi về nhà, còn ba lúc nào thấy Chi về cũng nhắc: “cơm còn, ăn đi con!”. Chi ăn thứ gì cũng lên cân nhưng không ăn thì sợ ba mẹ buồn, vậy là Chi nhai, Chi nuốt trộng mọi thứ để ba mẹ hài lòng và cứ tấm tắc khen ngon.
Chi không dám nói với ba mẹ là công việc hiện nay tệ hại hết sức. Đúng hơn là trước giờ công việc của Chi cứ tệ hại như thế. Phải qua hàng chục chỗ làm, chưa chỗ nào trụ quá một năm. Nửa tháng qua Chi bị một căn bệnh kì lạ. Thậm chí Chi thấy cái chết lơ lửng treo trên đầu. Chỉ khi quá lo âu, bất an, chạy về với con gái trối chết, bé nói rằng: “con không tin má sắp chết! Má đợi con lớn, con học nghề y, chữa bệnh cho má.”

          Những buổi sáng nắng nóng như đổ lửa khiến ba Chi tám mươi lăm tuổi gập người thở dốc, mắt tóe nắng ai thấy cũng chạnh lòng. Ngày hè, công việc không nhiều nhưng cái nắng hè thiêu đốt này ai không phải làm gì vẫn lo chạy nắng. Chi nhìn ba mà cháy ruột gan, từ hôm ở bệnh viện về đến nay cô không biết phải làm gì để ba yên tâm, nhà nghèo, không tìm được công ăn việc làm lấy gì mà sống, nhà ở quê, vô công rỗi nghề thiên hạ nhìn vào dèm pha, Chi không còn trẻ nên việc vác hồ sơ đi gõ cửa các cơ quan trở nên chướng nghịch, bán buôn càng không quen, lại nửa, biến chứng từ ca mổ khối u làm cô nặng tai nghe khó, giao tiếp khó, làm ăn khó nên cái nghèo đeo bám dai nhách.
          Mấy năm nay thím Phù ít về nhà chơi, chẳng bù với ngày chú Phù mới mất, dạo ấy thím hay qua nhà Chi than phiền đủ thứ chuyện trên đời, chuyện từ cái chết của chú Phù mà ra, cứ như thím nói thì chú Phù đang làm đất trồng rau ngoài vườn, chú kêu mệt rồi vào giường nằm, chú nằm ngủ, cứ thế chú ngủ giấc ngủ ngàn năm, bỏ mẹ con thím. Buồn thì cứ tỉ tê vậy rồi thím cũng quen dần với mất mát, ít ghé nhà Chi hơn, mà ghé sao được, thím đã vào sống hẳn trong chùa với cậu Út xuất gia hơn chục năm nay.
          Cuộc sống vẫn trôi đi bình lặng nhưng tuổi già xồng xộc tới, nhìn thím Phù tóc bạc phơ, nhìn ba vóc hạc da mồi mà đau xót, ngày tháng cứ tuần tự trôi đi, những ông già bà cả cứ như trái chín cây e sợ gió lay rụng.
          Thường, chẳng có điều gì để phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần, cũng chẳng có việc gì đến kì công trong cái gia đình và họ hàng nhà Chi. Nhà nông cực lắm nhưng ai cũng biết cày cuốc mưu sinh. Cái vụ cậu Út nhà thím Phù xuất gia xem như hành động khác thường nhưng có khác thường bao nhiêu cũng không thành vấn đề khi mà cậu đã trải qua những cuộc thử lửa hồi học nghề lái xe ô tô và vào lính, cậu hình như vay đủ gian nan nhưng không thành anh hùng để lãnh nợ đời. Cậu đi tu thế là xong.
          Chuyện cô gái trẻ yêu cậu Út bị đau đau tim chết khi mới hai mươi thường về ám ảnh cậu Út chỉ riêng cậu biết, có lần cậu kể trong lúc ngồi sau tay lái xe ô tô, đang bon bon cô gái ấy không biết ở đâu xuất hiện ngã vào lòng cậu. Chuyện cậu đi tu có liên quan đến cô nàng không chính cậu cũng ái ngại, không muốn nói khi được hỏi. Chuyện đời mà! Cậu hay mập mờ như vậy nhưng có thế nào giờ đây cậu cũng đã thành đại đức trụ trì một ngôi chùa to và cậu chỉ dạy người đời niệm A di đà Phật trong bất kì hoàn cảnh nào.
          Thường người ta biết “tu là cội phúc” vậy nên thím Phù vào chùa sống bên cạnh cậu Út là phúc thì việc Chi chưa có duyên xuất gia gặp đủ mọi vận hạn xui xẻo quả là dây oan. Bao giờ cô cũng cười khi người khác tỏ thái độ thương hại, cô hay bảo “không may thôi mà” đâu chỉ không may, mọi thứ dây oan đến thành nỗi bất hạnh và cô sống với những bất hạnh mà không ai ngoài cô gánh nỗi.
 Hơn hai mươi năm trước, Chi vào đại học, cô những tưởng mình sẽ có được sự nghiệp, công danh. Oái oăm, tai họa sống chung với cô và dù có nghèo đến cỡ nào cô cũng vẫn là một nhà thơ kì lạ.
Chi cũng ngạc nhiên không hiểu sao những người phía nhà chồng không hề thấy Chi đang trong trạng thái nổi giận. Họ hỏi Chi những điều Chi không thích trả lời. Xem chừng họ tin rằng Chi sẽ xấu hổ khi bị một con điếm giành chồng.
Chi có tỏ ý cho bà chị chồng hiểu rằng: Chi rất muốn về sống cùng chị. Chi thích phụ giúp với chị dựng thêm dãy chuồng trại nuôi gà công nghiệp như thằng rể chị đang làm nhưng chị lại hiểu là Chi đùa giỡn. Chị và những người ở quê chồng Chi lâu nay bảo rằng Chi ghét xứ chồng lắm, mà yêu sao nỗi chốn khỉ ho cò gáy. Đàn bà làm ruộng và vào vào núi đốt than, đốn củi đem bán, đàn ông cũng đi củi, bứt mây, chặt đót, lấy gỗ, ngậm ngải tìm trầm. Chi lại đang lo lắng vì một điều chỉ riêng Chi hiểu. Chi nói với chị chồng:
-        Giúp em nuôi bé Du nhé! Dù mai sau có thế nào chị cũng dạy bé hiểu rằng: ở đời này mà không làm gì có ích thì cuộc sống sẽ quá đỗi vô nghĩa.
          Chị không biết nói gì với Chi ngoài việc cứ hỏi những điều ngớ ngẩn lần nào cũng như lần nào! Chi tự hỏi chị có biết ông Mãnh đã trở thành trùm khủng bố trong nhà Chi từ khi Chi hãy còn là đứa trẻ nhỏ hơn bé Du hiện nay không? Rằng Chi sợ ông ấy bạo lực trẻ em nên thay vì để nó sống bên nhà ngọai Chi đã gửi nó cho chị. Thế nhưng Chi thấy là mình không muốn nói bất cứ điều gì về ông Mãnh lúc này.           Chợt Chi kể với chị về tên Khương:
-        Hắn tìm mọi cách bủa vây cuộc sống của em! Lần này về thăm bé Du, hắn bảo một con điếm bám theo. Thời buổi này gái điếm lái ô tô đến một vùng sơn cước vênh vênh váo váo. Làm như một quí bà chiếu cố đến dân tình mà đủ nam, phụ, lão. ấu… xúm lại nhìn ả sướng mê tơi.
          Mọi chuyện từ gã lưu manh tên Khương mà ra. Nhưng lúc này đây nhắc đến hắn kể cũng vô ích vì hắn đã đứng ngoài cuộc. Chắc chắn là Chi không sao bắn vỡ sọ hắn nổi. Hắn dùng mưu chước gì mà hại cô đến tận mạt, huynh đệ tương tàn? Thực tế có lẽ dễ dàng đến khó ngờ nhất là trường hợp Chi hoàn toàn không có khả năng tự vệ. Thứ nữa con người nào cũng mang mầm ác. Gặp phải hạng ác quỷ này tưới vào lòng họ tội ác, hạt mầm ác có cơ hội sinh trưởng, phát triển. Chi phải tự hiểu cô điên đầu từ lúc những kẻ a dua theo tên Khương tấn công cô, hễ cô đến đâu là chúng theo đó, nhưng chỉ thế thôi còn được, đằng này chúng xúi dục những người phụ trách nơi cô xin vào làm sa thải cô, rồi chúng đuổi theo mãi tiếp tục trò bỉ ổi này. “Văn chương vô mệnh” mà thằng Khương ngu dốt lại đọc những gì cô viết rồi ghen ghét, oán hờn. Vận mệnh cô lại chẳng ra gì, có cơ chết yểu. Thói đời “trâu buộc ghét trâu ăn” hắn sục sạo, moi móc, đòi hỏi bất cứ ai quen biết Chi phải cho hắn xem những gì Chi viết. Hắn nuốt thơ, văn của cô như quỷ đói nuốt cơm, như đỉa phải vôi. Càng nuốt vào hắn càng âm độc, biến dạng méo mó như quái thai.
          Bây giờ bình tĩnh mà nói thì Chi có thể vẫn làm thơ nhưng thơ cô trở nên đau xót và căm phẫn, có lẽ cô không nên làm thơ thì hơn, nhưng viết gì đây, viết về mẹ già hay bản thân cô, con gái của một ông lão tám lăm tuổi, cái tuổi gần đất xa trời, mỗi độ thím Phù về ghé thăm ba là y như rằng họ nói chuyện với nhau theo cách của người thân lâu ngày gặp gỡ, trong chuyện của họ có gió, có mưa, nhưng không bao giờ có nắng cháy mặt dù cái nắng như đổ lửa mới là điều kinh khủng.
          Chi lẽ đương nhiên là chọn một nơi mát mẻ, ngồi viết. Cô muốn kể câu chuyện về ba và thím Phù, về khu vườn ngày càng ngập cỏ dại và cô biết ba không còn khỏe mà cuốc dọn để trồng rau, trồng bí, trỉa bắp, trỉa đậu như xưa, cô không thay ba thì không còn ai làm những việc này nữa.
          Ba chỉ cười một cách đờ đẫn khi suốt đời cất đầu không nổi dưới tội ác của hai ông con trai. Cái cười của Ba chỉ tỏ thái độ mình chưa chết trước hai thằng con độc ác, còn ai chết mặc kệ.
          Bà chị chồng thấy buồn cười vụ con điếm. Chưa bao giờ chị biết trên xứ Việt Nam hạng đàn bà này thao túng đủ giới đàn ông. Thằng em chồng còn chạy theo ả xuống tận Đà Nẵng. Gái điếm vào núi trở thành sự kiện vui vẻ nhất xóm núi dù là ả theo Chi để chơi trò giành chồng cướp vợ mà bọn Khương dạy ả!
Chi ước gì ngay lúc đó bà chị chồng và những người trong nhà chồng hiểu biết một chút mà đi tìm quý ông chồng ăn hại của Chi. Y suốt đời lưu linh lạc địa. Cô muốn nói rằng: “Tình yêu chắc là thiêng liêng!”. Một khi lòng người buốt lạnh thì không có chỗ cho tình yêu nhen nhóm. Hồi trước quý ông chồng không bao giờ nghĩ rằng cô vợ trẻ, mới sinh con đầu lòng dám bỏ ông chỉ vì những lời nói độc như lá ngón mà ông đút vào miệng vợ. Ông ta không có tiền mà vợ đau nặng, rất cần số tiền khổng lồ chữa trị. Gánh vác trách nhiệm không nổi thì thôi, đằng này y trở nên tàn nhẫn. Y tiếc đã không kiếm một cô vợ giàu. Chi chua chát trong suốt mười năm qua khi hiểu ra rằng “dao chém có ngày lành thương tích, lời nói theo nhau hận suốt đời”.
-        Em đang bệnh nên ở lại ít ngày? Chị chồng Chi nói thế khi Chi chuẩn bị quay về.
-        Em về xem làm được gì thì làm chị ạ! Dù có thế nào em cũng cố gắng làm việc bằng năng lượng của mình. Chị thấy là em sức yếu, mệt mỏi như thế này. Chút sức lực vốn có không đủ để em làm việc nhưng không ai cho mình sức khỏe.
          Bà chị chồng nhìn Chi:
-        Lúc nãy chị lên thắp hương cha. Chị đã khấn vái cầu xin cha sống khôn thác thiêng, phù hộ cho em!
Chi thầm cám ơn chị. Cha chồng Chi mất đã lâu. Hồi mới cưới Chi 25 tuổi, ương bướng và dại dột trong mắt những người thuộc gia đình chồng. Ông thương Chi nhất, ông biết Chi sẽ khổ khi lấy phải thằng con trai của ông nhưng ông không lường được Chi khổ bởi những cảnh ngộ nào. Ông mất trước khi cô sinh bé Du, không kịp biết là vợ chồng cô bỏ nhau.

Mẹ vẫn chờ để thấy Chi làm được điều gì đó. Có lúc Chi tự hỏi: mẹ sẽ nghĩ gì nếu Chi bỗng lấy được một người chồng lý tưởng trong mắt mẹ: không phải cái người từng có con với Chi nhưng không muốn tiếp tục làm rể nhà mẹ đâu mà đó là người đàn ông Chi yêu thật sự. Mẹ chưa biết Chi yêu như thế nào nhưng Chi chưa gặp ai thương yêu Chi như ba thương yêu mẹ. Suốt đời Chi hướng vọng một cuộc hôn nhân như cuộc hôn nhân giữa ba mẹ và cho đến giờ Chi vẫn chưa tìm thấy, có lẽ chẳng bao giờ tìm thấy. Chi không biết cái người đàn ông Chi từng gọi là chồng có tìm thấy cái nửa của mình như y mong muốn và tìm kiếm sau đổ vỡ giữa Chi và y không?
Chi muốn nói với ba mẹ rằng: hạnh phúc của Chi sẽ là lời cầu an mầu nhiệm nhất đối với ba mẹ. Trong hạnh phúc, niềm an lạc của Chi sẽ tràn ngập đời sống nhưng cả hai đấng sinh thành nên Chi không bao giờ hiểu được những lời lẽ ấy, đơn giản là Chi từng ngộ nhận về hạnh phúc. Mỗi ngày Chi ước được về bên ba mẹ, mua một chút gì đó xào nấu, bưng bê đặt trên mâm. Ba mẹ ngồi vào và cả nhà thưởng thức chỗ thức ăn đạm bạc đã là niềm vui, nhưng mấy lần Chi làm được như thế. Chi vẫn mãi bất ổn. Mỗi thời khắc trôi đi lại đối mặt với bao lo âu thường trực và điều Chi mong muốn nhất vẫn là làm sao để có một lời cầu an đích thực cho ba già mẹ yếu an vui trong những năm tháng còn lại của đời người. Chi không muốn nói về ông Mãnh – anh trai Chi – không bao giờ muốn nói nữa. Ông ấy vẫn còn đó, ngày ba bận chờ mẹ Chi cơm nước lên mâm lên bát là ngồi vào đánh chén cho căng bụng, cơm không lành canh không ngọt là chê bai, đập đổ, không quên đày đọa tinh thần ba mẹ bằng những cách mà chỉ ông nghĩ ra.
Mỗi ngày sống là uống bao cay đắng vào người nhưng ba mẹ Chi vẫn tràn trề niềm ham sống, bởi cuộc sống đâu chỉ có đắng cay mà còn tràn đầy mật ngọt nhưng không phải ai cũng tận hưởng thứ dưỡng chất tuyệt diệu này. Chi nhớ xưa kia ba mẹ không yêu nhau như bây giờ. Thuở ấy gia đình Chi cơ cực, lầm than và khổ ải lắm. Ba mẹ sấp ngửa nắng mưa đồng trên ruộng dưới để rồi mồ hôi, nước mắt và máu cả đời người thấm vào đất, làm tăng chất màu xanh khắp đồng quê. Ấy vậy mà nhiều lúc Chi co rúm lại khi thấy mẹ và ba cãi vả nhau vì người này không làm được những điều người kia mong muốn. Chỉ khi mẹ trải qua những cơn đau thập tử nhất sinh. Ba bàng hòang nhận ra thiếu mẹ ba sẽ cô đơn lắm, dù con cái còn đó ba vẫn mãi cô đơn. Ba đã chăm sóc mẹ, lo lắng cho mẹ để rồi qua cơn bạo bệnh, tình yêu của mẹ và ba càng sâu bền. Với tình yêu ấy, Chi tin mẹ và ba sẽ chờ đến cái ngày Chi xây được một ngôi nhà cho riêng mình làm chốn nương thân, thôi một kiếp lang thang, nỗi nênh và ba mẹ về bên Chi sẽ tìm thấy niềm an ổn.
                                                   LTT       

       HỎI THẾ GIAN TÌNH LÀ GÌ

Mai Hân còn là một nhà văn tỉnh lẻ, ông có một số truyện ngắn in chung trong các tuyển tập và đăng báo rải rác. Tuy nhiên, vai trò chủ doanh nghiệp của ông mới quyết định kinh tế nuôi sống gia đình. Sau ngày ông qua đời, lục tìm trong sách vở, giấy tờ của ông, anh trai ông đọc thấy một bức thư, cụ không rõ đây là truyện ngắn chưa in của Mai Hân hay là di thư ông để lại. Cụ vốn tin con người có số phận, cụ hiểu chỉ có sự tha thứ mới giải thoát con người khỏi định mệnh. Cụ phải trình làng bức thư của Mai Hân. Cụ đã gửi nó đến Ban biên tập một phòng xuất bản. Bức thư khiến nhiều người bối rối: sự cố chị dâu của Mai Hân chết trước ông ít tuần là có thật. Nhưng nhà văn vẫn có thể căn cứ trên vài tình tiết để sáng tạo nên một câu chuyện.
      
          Ca ca!
          Tôi muốn gọi anh bằng hai tiếng thân thương ấy, đã từ lâu chính tôi đã lãng quên cách gọi đó, tôi chỉ quen nói cộc lốc: ông – tôi. Anh đã điềm nhiên chấp nhận lối xưng hô này như một sự tất nhiên vì hoàn cảnh xã hội, tuổi tác và quan hệ. Chúng ta không còn là những đứa trẻ nhỏ để mà xưng hô như các nhân vật trong sách Tàu, hành xử như Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi mà chúng ta sung sướng khi sắm vai trong các trò chơi. Thời thơ ấu đẹp quá phải không anh?
          Ca ca ơi!
          Uớc gì giờ đây chúng mình được trả về với cái thuở tóc để chỏm. Còn nhớ thuở đó anh thích nghiệp binh đao. Anh muốn có bạn học võ nên chọn tôi và dạy tôi tập luyện, anh chính là người thầy truyền cho tôi đi những đường quyền đầu tiên. Anh đã sung sướng như thế nào khi phát hiện ra thằng bé mồ côi đi ở cho nhà anh có những tố chất hơn người để rồi anh năn nỉ cha già nhận tôi làm con nuôi và cư xử với tôi như anh em ruột. Anh còn nhớ đêm rằm tháng bảy năm tôi lên mười không? Chúng mình đã rủ nhau đến ngôi miễu cổ để thề nguyền lúc nào cũng sống chết có nhau, tôi được anh nhận làm em nuôi như chàng trai nghèo nhận được kho tàng vô giá mà bà tiên nhân hậu và hào phóng ban cho như trong một truyện cổ tích anh đọc và kể tôi nghe. Tôi bao giờ cũng hãnh diện với bọn trẻ cùng làng vì được anh ưu ái.
          Một lần vô tình anh hé lộ điều bí mật của bản thân anh rằng ba mẹ chọn tôi làm con nuôi và anh kết nghĩa huynh đệ với tôi bởi tôi là đứa trẻ nghèo khổ, thật thà, biết mặc cảm thân phận và hơn tất cả, tôi không giống những đứa trẻ khác trong vùng. Bọn này lúc nào cũng gian xảo, ưa hơn thua, bị những ông cha bà mẹ vốn ganh ghét với cảnh đầy đủ của gia đình anh nên thường tìm cách chơi xấu. Các cụ vẫn lo anh kết bạn với chúng nó, chỉ vì cái lợi nhỏ nhoi mà chúng tráo trở hại anh.
          Tôi và anh không biết nhiều lắm về về lời giải trong lá số tử vi mà ông bạn của ba cũng là một nhà chiêm bốc lừng danh đã lấy cho anh. Mọi thứ trong lá số đều dự đoán anh có một tương lai vô cùng tồi tệ. Anh sẽ bị anh em phản, vợ lừa. Ngoài ra, gia tài ba mẹ để lại cho anh sẽ bị kẻ khác chiếm đoạt. Suốt đời anh bị lừa dối.
          Tôi đã buồn nỗi buồn của anh. Tôi tự hứa với chính mình sẽ suốt đời dõi theo những kẻ đồng hội, đồng thuyền, đồng trang đồng lứa, ai trở mặt, xúc phạm, lường gạt anh tôi sẽ thẳng tay trừng phạt. Tôi đã quyết khắc cốt ghi tâm rằng mai sau dù có thế nào, mình cũng đừng vì một miếng lợi danh mà tương tàn.
          Dù thành thật với chính mình đến từng chân tơ kẽ tóc, nhưng lúc này đây, vết thương trên người đang lở loét, hoại tử, cái chết cận kề, tôi không thể giữ im lặng và phải đành thừa nhận với anh tôi là kẻ phản bội người anh cao quý. Tôi lừa dối anh suốt bao nhiêu năm nay. Không ai vô tâm và tin người như anh. Chính vì điều ấy làm tôi xấu hổ, ăn năn. Trước khi về thế giới bên kia mà không tự thú, sám hối cùng anh toàn bộ sự thật thì lương tâm tôi chẳng thể nào thanh thản.
          Với nghĩa cử đẹp đẽ để tạo những phúc lộc cho một kiếp sống vị lai, vì dòng máu ngoại tộc mà anh đã cưu mang duy trì trong suốt bao nhiêu năm nay, tôi cầu xin anh tha thứ. Tôi biết khi anh tha thứ cho tôi, tâm hồn anh cao thượng hơn. .
          Tôi chẳng cần gì cho riêng tôi vào giờ phút này. Những gì tôi đã vật vã, giành giật và gìn giữ được suốt bao nhiêu năm làm kiếp con người giờ đây tôi vui vẻ bỏ lại thế gian này. Tôi bỏ lại thế gian này cả những việc làm đúng và sai. Khối gia tài lớn nhất đời mình tôi cũng bỏ lại. Tôi về thế giới bên kia với đôi bàn tay trắng.
          Ngày hôm qua đứa con gái đầu lòng về thăm nhà và thắp hương mẹ. Cháu nó đến bên tôi và nắm tay tôi trào nước mắt. Cháu than thở rằng suốt thời thơ ấu, cháu được tôi trông nom dạy bảo. Anh đi chinh chiến quanh năm. Đã có lúc cháu nghĩ tôi là ba của cháu. Hình ảnh anh mờ nhạt trong tâm trí con gái. Tôi biết anh từng phiền muộn bởi điều này. Nhưng con gái anh có quyền yêu hoặc ghét ai tùy theo cảm xúc phát sinh từ lòng nó. Chẳng bao giờ anh so bì tại sao con gái yêu quý chú hơn yêu quý chính người cha ruột.
          Anh hãy trầm tư nghe tôi thổ lộ những bí mật tày đình. Tôi không biết nó có làm anh đau khổ không?
… Hơn ba mươi năm trước khi tôi mới hai mươi tuổi còn anh hai mươi ba. Làm gì, ở đâu anh em mình cũng bên nhau. Đám bạn vẫn gọi chúng ta là cặp bài trùng. Hai anh em bao giờ cũng ý hợp tâm đầu và đã bày ra đủ trò chọc giận thiên hạ. Ba mẹ đã hết lời rầy la mình.   Cái ngày ba mẹ tuyên bố sẽ cưới vợ cho anh khiến tôi hốt hoảng. Tôi hình dung một phụ nữ về chung sống trong nhà, giữ rịt lấy anh. Hễ anh đi chơi hoặc nhậu nhẹt là chị ta đá thúng đụng nia, mặt sưng mày sỉa. Tôi cần gì ở anh đến gọi là chị dâu giở quẻ chửi chó, mắng mèo đuổi khéo để tôi cút cho nhanh... thế là tôi buồn, bỏ ăn, bỏ chơi. Suốt mấy ngày tôi chỉ sợ mỗi một điều là cô vợ anh sắp cưới cướp mất anh của tôi. Từ nay tình nghĩa anh em coi như kết thúc. Cũng có lúc tôi nghĩ xa xôi đến chuyện hai anh em trong sự tích trầu cau.
          Thấy tôi ngồi lặng và buồn rầu thở dài, anh dỗ dành và hết lời ca ngợi người vợ chưa cưới. Tôi không tin vợ anh có những phẩm chất kỳ diệu, anh rủ tôi cùng đến nhà nàng chơi để tôi biết chắc là anh không khen quá lời.
          Đó là ngày đánh dấu sự phản bội tình huynh đệ cao cả. Ước chi tôi không biết gì về người con gái đó. Thuở ấy nàng mới hai mươi và đẹp đến mức tôi mới nhìn thấy nàng lần đầu đã đắm say ngây ngất.
          Khi tôi hỏi anh có yêu nàng nhiều không anh buâng khuâng. Anh cho tôi biết anh yêu nàng và dùng tất cả sức mạnh mà anh đang có, kể cả sự khá giả của gia đình để chinh phục nàng. Anh tâm sự rằng anh biết rõ là lúc đầu nàng không đồng ý làm vợ anh. Về sau ba mẹ nàng thuyết phục gần như cưỡng ép, nàng đã gật đầu. Người con gái ấy hẳn sẽ có một cuộc sống hạnh phúc với anh trọn đời nếu tôi không can thiệp quá sâu vào cuộc đời nàng.
          Như tôi đã nói với anh là tôi đắm say nàng. Ngay giây phút đầu tiên nhìn thấy cô ta tôi đã yêu. Có gì đó gần như tiền định kết gắn ba chúng ta lại với nhau. Hỡi ôi! Lúc mà tôi nhận ra một tình yêu sét đánh giáng vào lòng mình cũng là lúc anh chuẩn bị xong xuôi cho một cái đám cưới.
          Giá như đó không phải là vợ của anh tôi sẽ tìm cách ngỏ lời yêu nàng và xin gia đình nàng hủy lời hôn ước với kẻ mà nàng không yêu. Nhưng đằng này mọi thứ đều không như ý tôi muốn, để rồi tôi đau đớn âm thầm cho đến một ngày tôi đã phải dùng những thủ đoạn tinh vi và để lại những hậu quả tai hại mà bây giờ điều đó trở thành một bí mật khủng khiếp.
          Anh vô tư và tin tưởng lòng thành của tôi, còn tôi, khi trong lòng nẩy sinh tình yêu với vợ chưa cưới của anh thì lòng ích kỷ, ý thức sở hữu cũng theo đó lớn dần theo. Tôi bí mật theo dõi hai người và biết người con gái kia cũng chẳng mặn mà với anh lắm. Nàng vô tư hoặc có thể nàng chưa biết yêu là gì. Nàng chấp nhận sự sắp đặt của gia đình chẳng qua như mọi thiếu nữ, nàng quan niệm: hoa đến thì phải nở, gái đến tuổi thì đi lấy chồng.
          Niềm yêu và nỗi nhớ hướng về người phụ nữ mình si mê ngày càng lấn át lý trí. Mãi sau này khi đến tuổi xế chiều nhìn lại tôi thấy mình thật tội lỗi nhưng tôi chẳng thể nào sửa chữa sai.
          Ngay cái hôm ba mẹ chuẩn bị cho đám cưới của anh tôi đã tới tận nhà tìm cô gái. Tôi gọi nàng ra rẫy và trong cơn hứng tình bộc phát. Tôi đã ghì chặt lấy nàng bày tỏ tôi yêu nàng. Nàng xúc động không nói nên lời còn tôi thì nói rõ ý định của mình là tôi sẽ bỏ đi thật xa, tôi không thể nào sống chung dưới một mái nhà mà ở đó người mình yêu đang là vợ anh.
          Đàn bà vốn nhẹ dạ. Chỉ trong chốc lát cô gái đã ngã lòng. Chính nàng cũng tự thú không biết tại sao nhưng nàng đã không cưỡng được lời tỏ tình nồng nhiệt của tôi, nàng bảo rằng ngay giây phút đó nàng nhận thấy là nàng yêu tôi và nàng chỉ muốn đi theo tôi, không cần quan tâm đến cái đám cưới gia đình sẽ tổ chức ngay ngày mai.
          Đêm ấy, ngay giữa rẫy, nàng đã trao đời con gái cho tôi, và cả hai không một chút day dứt trước nỗi bất hạnh mà anh phải gánh chịu suốt đời.
          Tôi trở về nhà lúc nửa đêm và chẳng quyết định được điều gì. Tôi nghĩ tới nghĩ lui nhưng vẫn không thể trốn đi. Đưa người yêu theo thì tôi không đủ khả năng. Tôi không có tiền để lo cho cả hai. Bỏ đi một mình thì quá sức tôi, nhất là lúc này tôi đã chiếm đoạt đời con gái của nàng. Tôi lần lữa mãi mà ngày cưới trôi nhanh. Chẳng mấy chốc giờ rước dâu đã tới. Tôi lấy lý do đau bụng đột ngột chẳng làm gì được bỏ lên gác nằm không ăn, không uống. Ba mẹ cũng tưởng là tôi đau chẳng đếm xỉa gì đến tôi vì ai cũng bận rộn và lo lắng cho anh. Tôi tủi thân vì chỉ là con nuôi, thiệt thòi. Tôi mà là con đẻ đã đòi hỏi quyền lợi chính đáng. Không thèm xem cô dâu chú rể đã làm những gì trong ngày cưới. Bên người đẹp anh không còn nhớ đến tôi. Anh cũng quá tôn thờ người con gái ấy nên đêm hợp cẩn, nàng đã đánh mất cái ngàn vàng anh cũng chẳng hề hay biết.
          Mấy ngày sau tôi mới trở dậy. Ai nhìn thấy tôi cũng cười cợt, chê trách, còn anh cứ tội nghiệp tôi chẳng ăn được miếng ngon nào trong cái ngày trọng đại nhất đời anh.

          Tôi bắt đầu suy nghĩ thấu đáo hơn và thấy mình sai. Rõ ràng tôi chỉ yêu mà không biết rằng chị dâu dễ bị dụ dỗ đến mức đó. Có lẽ chính sự nhẹ dạ của nàng mà sau này, khi chiếm đoạt được nàng tôi đã không trân trọng. Chưa chính thức làm vợ nàng đã phản bội anh rồi.
          Tôi thấy chung nhà với vợ chồng anh thật bất tiện nên dự định sẽ đăng lính trong đợt tuyển quân sắp tới. Tôi lảng tránh chị dâu xinh đẹp và nàng cũng chỉ im lặng, ít nói như mọi cô gái mới làm dâu.
          Đợt tuyển quân đó người ta điều động anh nhưng lại từ chối đơn xin nhập ngũ của tôi. Lý do họ đưa ra rất chi là hợp lý: tôi là một thanh niên không cha không mẹ. Tuy là con nuôi trong gia đình, nhưng trên giấy tờ, ba mẹ không hề chính thức nhận tôi là con cái trong nhà.
          Anh vào quân đội khi biết vợ mình đang mang thai. Điều ấy khiến anh vui hơn và thương vợ nhiều hơn. Chị dâu đã khóc trong ngày anh lên đường như mưa gió. Tôi biết chị khóc thật lòng, chính tôi cũng khóc và nhiều người khác nữa. Thời buổi chiến tranh, người ra trận khó hẹn ngày về. Không khóc không thương anh thì là gỗ đá chứ đâu phải người.
          Anh đi chưa bao lâu thì ba ngã bệnh và qua đời.
          Trong những bức thư gửi về cho gia đình anh vẫn khuyên tôi lo cưới vợ và chăm sóc mẹ già, giúp đỡ chị dâu, cháu gái. Lúc này nàng đã sinh con gái đầu lòng. Tôi vẫn thường tự hỏi đứa bé này là con tôi hay con anh.
          Ngày tháng trôi nhanh, mới đó mà đã năm năm. Anh đi biền biệt không hẹn ngày về. Người mẹ bất hạnh thương yêu tôi như con chỉ chấp nhận tôi là người duy nhất được toàn quyền quyết định mọi việc từ lớn đến nhỏ, từ trong nhà ra làng xã. Với mẹ thì vợ anh là chị dâu tôi và tôi tử tế với chị là lẽ thường. Nhưng như tôi nói, tôi yêu nàng cũng như nàng yêu tôi. Anh vắng nhà tôi và nàng đều nhớ mong, và cầu cho anh bình an vô sự. Tôi đã cố chế ngự những xúc cảm tội lỗi nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu. Về sau, thoát khỏi ánh mắt khắt khe của ba, chúng tôi thoải mái ăn nằm với nhau và chỉ biết có nhau, chẳng cần biết có anh trên đời. Chúng tôi yêu nhau và sắc dục là thứ lửa độc không dễ dập tắt. Nàng và tôi mỗi lúc gần nhau đều tràn ngập trong niềm hoan lạc và chỉ mong sao cho anh đừng bao giờ trở về.
          Cái ý nghĩ không thể nào qua mắt mẹ và hình như mẹ biết chuyện nhưng cố tình làm ngơ để chờ ngày anh về toàn quyền trừng trị hai kẻ xấu xa khiến tôi bàn với nàng chuẩn bị thật nhiều tiền, khi cần cùng nhau chạy trốn.
          Cái chết của mẹ không do chúng tôi gây ra nhưng nếu không vì chuyện tình điên đảo thì tôi đã dốc sức cứu mẹ và anh đã không sớm mất người mẹ đáng kính nhất trên đời. Không ai nghi ngờ tôi bỏ mặc mẹ trong cơn bạo bệnh. Tôi có bào chữa hàng vạn lần rằng mẹ đã già rồi, sinh lão bệnh tử là quy luật. Nhưng tôi cất giữ tiền mà không dốc cạn túi thuốc thang cho mẹ. Nếu tôi tận lực mà mẹ không qua khỏi thì lương tâm tôi đã không cắn rứt. Trước giờ chết mẹ cứ nuối, tắt thở vẫn không sao nhắm mắt, mẹ chờ anh. Cả tôi và nàng đã vuốt mắt mẹ. Anh về phép chịu tang mẹ hai tuần rồi trở lại đơn vị, lúc đó tôi thấy mình có được cái quyền của một thằng chồng trong nhà. Muốn chuyện gối chăn với vợ lúc nào cũng được.
          Tôi nghiễm nhiên xem mình là chồng của vợ anh.
          Còn nhớ trước lúc mất, mẹ nằm trên tay tôi trăn trối rằng bà còn một gia tài lớn vẫn chôn dấu dưới chân giường. Sau đó tôi đã bí mật đào lên và chiếm chỗ tài sản đó làm của riêng. Ngay cả nàng cũng không hề hay biết. Tôi đã tận dụng số tiền mà mẹ anh để lại và đầu tư kinh doanh. Lúc này tình hình kinh tế ở vùng quê bắt đầu chuyển biến. Tôi trở nên giàu nhanh và chẳng bao lâu đủ tiền để mua nhà ở thành phố. Ngày anh ra quân về với vợ con anh chẳng có gì ngoài tấm huân chương. Ngôi nhà gỗ khang trang của ba mẹ theo tháng năm cũng hư hoại, mối mọt mục nát. Anh không một lời than thân trách phận. Anh hiểu sự đời theo cách giản đơn của một người lính rằng anh vào quân đội, cha già, mẹ yếu lần lượt lìa đời, vợ con neo đơn chẳng thể nào ăn nên làm ra. Chỉ có tôi còn trai trẻ mới sung sức mà làm giàu. Anh còn biết ơn tôi luôn chu đáo với vợ con anh, thương xót tôi vì gánh nặng trách nhiệm với gia đình mà không chịu cưới vợ phải sống độc thân.
          Tôi thấy xấu hổ nên bắt đầu tính chuyện bù đắp mọi thua thiệt cho anh. Đầu tiên tôi xuất tiền tu sửa lại nhà. Sau đó tôi chỉ vẽ cho anh từng đường đi nước bước trong công việc mua bán. Rõ ràng trước kia anh giỏi giang hơn tôi về mọi phương diện nhưng giờ anh lạc hậu. Vợ anh không chịu hiểu sự đời đã thay đổi. Nàng đeo bám tôi không chán chê, đòi li dị anh, tôi phải thường xuyên trốn tránh nàng. Những khi bản năng đàn bà thức dậy, nàng xông vào tôi và trong trạng thái gần như tâm thần, nàng đòi hỏi đến mức tôi quá sợ nên quyết định lấy vợ.
          Dù tôi đã có con với người vợ hiền, nàng vẫn không buông tha tôi. Càng ngày nàng càng điên dại. Anh đã không biết điều đó. Anh để mặc nàng đến chỗ tôi. Nàng khóc lóc, giày vò tôi. Chỉ những lúc được tôi yêu chiều nàng mới tươi tỉnh.

          Bao nhiêu năm nay chúng ta vẫn phối hợp làm việc cùng nhau. Công việc vẫn trôi chảy, và tôi cũng như anh đều khá giả hơn xưa. Con cái chúng ta học giỏi, chăm ngoan. Vợ tôi là một phụ nữ hiền lành, chịu thương, chịu khó. Tôi chỉ thật sự ăn năn khi vợ anh lao vào chiếc xe ô tô do tôi điều khiển. Nàng tự sát hay vì hờn ghen mà không kiểm soát được hành vi của mình tôi không biết. Điều tôi biết chắc chắn là nàng đã có đủ bằng chứng về việc tôi có nhân tình.
          Vâng! Người tình của tôi rất trẻ. Từ khi gặp vận, phát triển cơ sở lên công ty, thành chủ doanh nghiệp tôi cho phép mình cái quyền quyến rũ các cô gái đáng tuổi con cái. Tôi chẳng thiết gì ở người phụ nữ là vợ anh và đã có cháu ngoại. Tôi không khỏi suy luận rằng: chắc vì vẫn còn yêu tôi và quá đau khổ mà nàng tìm đến cái chết. Ngay khi kịp nhận ra nàng đâm đầu vào xe tôi vội hãm phanh và buông tay lái với ý muốn cứu nàng thật nhanh và hành động nhanh hơn sự kiểm soát của ý thức đẩy tôi lao ra đỡ nàng dậy. Anh biết đấy, chiếc xe lúc đó đang chạy với tốc độ chóng mặt. Tôi đã không cứu được nàng mà còn gây tai nạn cho chính mình.
          Tôi đã đau, đã hoảng loạn và chấn thương nặng, mất máu, các vết thương đều nhiễm trùng. Tôi sắp chết.
          Những lúc gần đây tôi hay mơ thấy vợ anh. Nàng vẫn xinh đẹp như xưa. Lúc nào cũng bảo nàng chờ tôi.
          Anh hãy quản lý toàn bộ tài sản tôi để lại trên đời này. Anh hãy thay tôi điều khiển công ty, cưu mang vợ con tôi. Nếu anh thấy mình không đủ khả năng điều hành công việc thì bán và chia đều tài sản cho những người thân trong gia đình. Tôi tin anh là người độ lượng và công bằng.
                                                LTT
NGƯỜI VỀ THƯƠNG NHỚ AI?
   

           Tôi nhìn con đường sục bụi dày cả phân làm đen bầm cỏ hai bên vệ đường, cây cối và nhà cửa rồi nhìn lại y phục trên người mình. Tôi thở dài: nếu mười năm trước mà như thế này thì chỉ có thể nói cho vui là trông ra dáng bụi đời, còn giờ đây có ai đó bảo sao mà nhem nhuốc, nhếch nhác thì  tôi chỉ còn nước thầm cám ơn họ. Bởi có người quen khi thấy tình cảnh của  tôi đã nói thẳng vận hạn  tôi không được may mắn và  tôi cũng ý thức quá rõ tình trạng bi thảm của mình.
       Thư cho tôi chị Trầm viết: Chị bây giờ không xem báo chí là nghiệp nữa mà phải làm bất cứ việc gì có thể để mưu sinh!”. Trầm là người nhân hậu và hiểu biết. Trầm lo lắng cho  tôi bằng cái cách của một người chị em đồng hội, đồng thuyền. Nhận sự giúp đỡ của Trầm trong bốn tháng thất nghiệp bỗng dưng tôi thấy chán mình ghê gớm,  tôi chửi thề “khốn nạn thật!”. Nếu cứ thế này mãi thì thà chết quách đi còn hơn. Chị Trầm vẫn kể với đám đông ở Hà Nội về tôi, chị không muốn tôi ra Hà Nội và cũng không coi tôi như em ruột của chị. Hễ nói tới em ruột là chị như đụng phải ổ kiến lửa, chị cười gằn: “con bé đó mà tao coi như em à! Em tao làm tao tởm nhất trên đời. Không đứa nào ích kỉ và cục súc, độc ác như thằng em tao. Chết tao cũng không thèm thêm một đứa em nào khác!”. Vậy mà chị vẫn tủi thân với tôi. Còn bảo chị chưa đến đau khổ hoặc chết như em. Ngay như giáo sư Vĩnh cũng chỉ than phiền: “không được sự quan tâm của xã hội thì tài năng của bạn ấy sẽ mai một”. Người khác ở địa vị của  tôi sẽ thấy thế nào không biết, riêng  tôi khi đọc được những điều này tôi chỉ cảm tưởng mình đang uống phải chén đắng. Chỉ có một người dự cảm một ngày nào đó mọi thứ sẽ khác đi với  tôi đó là đại gia Hải. Thế nhưng  tôi không dễ bị cái sự cảm thông của ông đánh lừa. Tôi biết thừa đằng sau những lời nhận xét tốt đẹp về  tôi là một sự bợm bãi của kẻ bao giờ cũng ý thức mình cao hơn người khác một ngai bệ. Những lời ban truyền như ngầm bảo: “ta biết thừa ngươi là kẻ thế nào, nhưng dù ngươi có là kẻ thế nào thì ngươi cũng chẳng là gì đối với ta hết. Ta nuôi bọn ngươi trong nhà như nuôi kẻ sĩ”. Ông Hải là chồng bà Liên, bà được tôn vinh là nghệ nhân khai sáng một làng nghề mới. Tôi có thời gian làm việc tại nhà ông. Đó là một dinh cơ lộng lẫy, nhìn trong tầm mắt thì nó rất giống một chiếc bánh gatô đồ sộ nằm ngạo mạn giữa chiếc đĩa to tướng là khu đất rộng hàng hecta. Tôi chẳng nhớ gì về chuỗi thời gian gần một năm tôi làm thuê tại nhà bà Liên ngoài những cuộc cãi vã triền miên về chuyện tiền nong bị ăn quỵt, bị bóc lột, thậm chí còn đánh nhau, để rồi khi thấy người ta vắt chanh lấy nước mà tưởng mình chơi đẹp thói mạnh thường thì  tôi chỉ còn nước chạy tháo thân.
          Kinh nghiệm được nghề viết báo là một nghề rất gian nan, vì chị Trầm đã bị những tổn thương về não sau nhiều năm đeo đuổi với nghề. Bản thân  tôi cũng chịu lắm thứ hoạn nạn ngay từ khi tôi mới bắt đầu sự nghiệp báo chí. Tôi quyết định lựa chọn cho mình một cái nghề ít bất trắc hơn và xem đó là nghề tay trái. Tôi đến với hội họa như một thử nghiệm may rủi. Khi nhận ra khả năng mở một phòng tranh là điều không thể thực hiện bởi bà Liên đã đăng ký bản quyền công nghệ ngành nghề này. Trên thực tế bà chưa bao giờ là nghệ nhân khai sáng làng nghề đổ cát thành tranh. Qua chị Trầm vốn là con nuôi của mẹ kế bà Liên, những bí mật trong nghề được hé lộ: thì ra trong một lần tham quan du lịch tận Ai Cập, bà Liên đã xem cách làm tranh cát dân dã, cách đổ cát vào lọ thành tranh của những nghệ nhân dân gian xứ này. Bà mua vài lọ thủy tinh nho nhỏ chứa những bức tranh không giống ai trên xứ sa mạc được xem như hàng lưu niệm, về Việt Nam, bà đặt làm những ly, những lọ, những hộp thủy tinh và tiến hành công cuộc khai thác, tìm kiếm cát màu làm tranh. Hành trình của bà Liên phải nói là phi thường, thành quả tuyệt diệu, sản phẩm làm ra đẹp đến không tưởng, nhưng sản xuất kinh doanh một vốn bốn thua lỗ như bà thì tôi chỉ còn nước bái bà làm thầy và vĩnh biệt. Gần trăm màu cát tự nhiên tụ vào hộp thủy tinh thành một bức tranh mà tôi tỉ mỉ thức suốt đêm làm và mang theo như kỉ vật trong một va chạm nhẹ đã vỡ tan tành.
         

           Nhà tôi ngụ cư nằm cạnh con đường mới mở và chẳng biết nó sẽ chạy về đâu. Nơi tôi thử việc là một khu đô thị mới. Phòng trọ tôi thuê không đắt lắm và chỗ đồ đạt ít ỏi của tôi cũng tạo cho căn phòng một sự thông thoáng dễ chịu. Tôi nhớ đến chỗ trọ dưới Sài Gòn mà tôi đặt cái tên hài hước là xà lim bởi sự chật chội tù túng của nó. Có lần tôi bảo bà chủ quán nước vỉa hè tôi phải về xà lim cùm chân vì nắng quá. Đó là một ngày chủ nhật tôi không phải lang thang kiếm việc làm. Ban đầu chưa mua xe tôi phải cuốc bộ ra bến xe buýt, sau này sắm được cái xế nổ nhưng vẫn cứ phải ngủ “xà lim”. Tôi thuê xà lim tá túc trong thời gian gần một năm sau khi nghỉ làm tranh và tìm được một chân biên tập ở một chuyên đề quảng cáo, rồi mất việc và trải qua những cơn đau đầu tưởng chừng chết đi được trong âm thầm và cô độc, nên thấy sự thay đổi công việc và nơi lưu trú này cũng không đến nỗi nào. Tôi biết mình đã làm nhiều việc quá sức. Tôi không ăn lương của nhà nước nên không đủ bạc tiền và sức khỏe để có những chuyến thực tế sáng tác ở những địa danh lẫy lừng như các đồng nghiệp của mình ngày trước mà giờ đây đa số đã thành đạt. Ngược lại, tôi được an bài vào những cảnh đời bất hạnh, ở đó tồn tại nỗi thống khổ vô biên của kiếp người hiện hữu qua từng cảnh ngộ cụ thể: người ăn mày tật nguyền, lang thang, đói rách bị tai nạn bất ngờ nằm chờ chết không một ai chiếu cố, những sinh linh vô năng sống đời thực vật trong các căn nhà tồi tàn, nơi mà những bậc cha mẹ vừa tủi phận vì nghèo, vừa hổ thẹn vì bạc phước không sinh được những đứa con bình thường đã vứt bừa đứa con bất thành nhân sống lay lắt… người đời nhìn họ bằng ánh mắt khinh thị hoặc vô cảm.
          Tôi hiểu rõ: phải có sứ mệnh lớn lao mới gánh vác nổi sự khổ đau của con người. Phải có một tinh thần cứu độ không mang màu sắc huyền hoặc trừu tượng của tôn giáo và dễ dàng thâm nhập vào mọi nỗi đời mới là cấp thiết. Báo chí chẳng bao giờ đi đến tận cùng những chiều kích tổn thất và tai ương của kiếp người. Niềm trắc ẩn với mọi thương đau thống khổ của một nhà báo không cứu vãn được ai. Nỗi buồn của tôi có lớn dần thành nỗi đau đời thì mãi mãi tôi cũng chỉ là một thợ vẽ, minh họa sự đau khổ, cũng như thể hiện ước mơ về một sự chuyển biến tốt đẹp hơn cho con người, chứ chẳng thể nào triệt tiêu được đau khổ, biến ước mơ thành hiện thực.
          Trong mấy tuần qua có một gã đàn ông nhìn tôi lúc vui, lúc buồn. Những lúc bất chợt bắt gặp vẻ buồn buồn của kẻ ấy tôi chợt muốn hiểu về kẻ ấy nhiều hơn. Bỗng dưng tôi không dùng đến phép ứng xử quen thuộc của những người xa lạ với nhau mà tôi vẫn thường dùng để che chắn mọi sơ xuất của mình: chẳng ai biết ai là ai thì đừng nên biết gì về họ và đừng để họ biết gì về mình. Tôi chợt khao khát được thể hiện mình trước kẻ ấy nhưng rõ ràng tôi chẳng có cơ hội. Rồi một nữ công nhân bất ngờ bị đuổi khiến  tôi thấy quyền làm chủ của những công nhân viên sao mà tội nghiệp, tư cách họ sao mà rẻ mạt. Tôi cũng không biết đích xác những đòi hỏi của cô bạn ấy có chính đáng hay không? Tôi chỉ biết Nguyệt là một thợ giỏi, được chọn làm hàng mẫu ở xưởng, tâm tính của Nguyệt thì hãy còn rất trẻ con, Nguyệt có đủ những nết dễ được yêu mến cũng như những tật xấu dễ bị ghét của những đứa trẻ vừa thành niên. Khi bị cho thôi việc, Nguyệt đã khóc như bị đòn oan. Cô bé chưa hiểu gì về những trớ trêu của cuộc sống chẳng biết vì sao mình bị giáng một đòn trí mạng như vậy?
          Tôi nhớ những ngày đầu mới đến làm việc, bắt gặp thông báo tuyển dụng của công ty: ưu tiên người khuyết tật, tôi bật cười. Ở những hội văn học, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, công ty văn hóa,…. thì chuyên môn cao, nghiệp vụ giỏi, kinh nghiệm lâu năm, cùng hàng đống bằng cấp giấy má của tôi thậm chí là người tinh tướng vẫn bị loại trừ bởi khuyết tật nho nhỏ mà tôi đang cố gắng khắc phục. Còn đi thử việc ở những nơi dạy nghề cho người khuyết tật nhưng rõ ràng tôi khơng hợp với chế độ ưu tiên dành cho mình. Nhất là mỗi khi vào một chỗ làm như vậy, tôi luôn chộp được một điều bất ngờ để có thể viết một cái gì đó, hoàn toàn đối lập với những bài báo một chiều luôn ca ngợi những người điều hành công việc tại đây, như thể họ là điển hình gương sáng từ thiện, đạo đức, chí công vô tư. Đọc bài của  tôi, ban biên tập của các tờ báo mà tôi cộng tác không tin những điều tôi viết là có thật. Tôi thừa biết đám biên tập xa lông này chẳng bao giờ đặt chân vào những nơi chốn mà tôi từng sống và là người trong cuộc. Tôi chán nản: cứ thế này thì thiên đường chẳng mở cửa, địa ngục chẳng dung nạp. Tôi yên trí mình sẽ không trụ lại nơi làm việc mới này quá một tháng.
          Một cái gì đó thật lạ lùng, kì quái chen vào giữa khoảng cách của  tôi và kẻ ấy. Thế nhưng kẻ ấy dường như chẳng có lý do gì để nói chuyện với tôi cũng như tôi chẳng có vấn đề gì để hỏi anh, thành ra ai làm việc nấy và mọi thứ cứ mơ hồ như mộng mị. 
          Tôi nhận ra mình phải lòng kẻ ấy vào chính cái buổi chiều một nữ khách hàng đến xưởng. Cung cách chỉ dẫn tận tình, ân cần của kẻ ấy dành cho khách khiến tôi sa sầm vì hờn ghen. Tôi thoáng có cảm giác anh ta muốn nhìn sâu vào mắt tôi và khóe mắt cực kì nguy hiểm nhưng tôi lảng tránh, lấy cớ đau đầu xin về và giận dữ với chính mình suốt cả tuần. Thì ra trưởng phòng kinh doanh mới là người tài giỏi nhất công ty. Chỉ mình tôi không biết điều đó. Tôi xác như ve, xơ như mướp, chờ đợi những đồng tiền bố thí như chờ phép lạ. Phải lòng một thằng đàn ông hoặc để hắn phải lòng mình thì cứ việc làm bia tập bắn. Tôi sẽ thành mục tiêu của những viên đạn sát nhân. Những tình cảm thiếu nữ đang tuổi dậy thì không thể nảy sinh dễ dãi trong lòng một phụ nữ đã thấu suốt lòng dạ người khác như  tôi. Nhiều đêm  tôi ngồi tư lự bên trang bản thảo dang dở nghĩ ngợi. Viết báo là vận dụng mọi nghệ thuật trong từng hoàn cảnh sống. Nếu người ta đem đến cho bạn một thứ gì đó và cần thiết mà bạn nhận nó, thì bạn phải có một tặng vật giá trị hơn trao lại họ, nếu hưởng không, bạn chỉ là phường ăn bám. Nhà quản lý thì có đối sách, về điểm này tôi phải chào thua bởi tôi chẳng biết gì về kẻ ấy. Tôi chỉ là một người khiếm thính đi học nghề, mà ánh mắt của kẻ ấy lưu trong tâm khảm tôi sao mà quái ác.
          Rồi một sự cố nho nhỏ xảy ra khiến  tôi phiền bực và tôi bộc lộ chính mình đã làm cho kẻ ấy có vẻ như biết về tôi hơn - “Dữ dội!” - anh ta ném vào tôi cái từ đó, và tôi nhếp môi. Anh ta có một thái độ ưu ái gián tiếp nhưng tôi vẫn hiểu là để thăm dò. Tôi muốn đáp lại tấm lòng ấy nhưng đành chỉ giới hạn ở ánh mắt: lúc tìm kiếm, lúc đợi chờ, có lúc nhìn thoảng hoặc. Khi có người gán ghép tôi và anh, tôi không khỏi vui vẻ:
-        Còn cái thá gì nữa mà phải đứng xa xa để khỏi với tới!
          Có một bóng hồng chiếm lĩnh một phần không gian hữu hạn nơi công xưởng. Lúc mới vào tôi đã va chạm với Linh. Tôi không ưa Linh nhưng Linh là tổ trưởng, làm công việc kiểm hàng của công nhân. Tôi thì học nghề thật khó nhọc. Sản phẩm của tôi làm ra thường không đạt yêu cầu nên vẫn bị Linh bắt bẻ, tôi biết mình chẳng bao giờ hơn Linh trong công việc, tôi chỉ còn cách khen ngợi chị ta vừa được đề bạt nên quá mẫn cán.
          Từ khi hình ảnh kẻ ấy lặng lẽ chiếm lĩnh, những lời châm chọc mà  tôi dành cho Linh cũng ít dần đi, nhất là khi tôi phát hiện càng ngày, Linh càng dò xét tôi riết róng hơn, và  tôi có lúc phải nhớ lại một câu chuyện và kể với Linh rằng tôi đã từng yêu một người đàn ông, và khi biết anh ta không yêu mình thì tôi bỏ đi, tôi chẳng sao cả. Tôi cười cợt rằng yêu thì cứ yêu, nhưng không được yêu bị thất tình thì nên bỏ đi thật xa. Tôi thấy Linh đeo bám kẻ ấy rất dai dẳng, nhưng Linh lại có vẻ một phụ nữ đang có một gia đình yên ổn. Linh nói với  tôi là Linh chưa có chồng, nhưng rất thích ba cái vụ đó. Tôi có nghe kể Linh từng lên giường với ông chủ giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị công ty. Linh chẳng được học hành, chẳng tài cán lại vô duyên, nhưng ông chủ thích chơi chút cho vui. Kể ra giám đốc cũng khá xuề xòa. Tôi có biết gì về kẻ ấy đâu. Có lần sáng muộn, kẻ ấy mới chạy ô tô đến xưởng và lao hồng hộc đến chỗ Linh, đưa cho Linh một chiếc chìa khóa. Thế nhưng nghe tôi cười cợt về một ông tôi từng gọi là chồng, kẻ ấy không ngần ngại dắt bóng hồng quá lứa đang là kế toán, lướt ngang tôi như vô tình.
          Chị Trầm khuyên:
-        Em cố mà giữ chỗ làm.
          Chồng sắp cưới của chị có một cái biệt thự, nhưng chị từng vào đời mưu sinh bằng cái nghề đan đát hiện tại của tôi. Phiền lòng tôi buôn chuyện với chị:
-        Em vừa đá lông nheo một ông xếp, không biết ông có cho em thôi việc khơng?
          Trầm bực mình:
-        Nhảy việc, mất việc hoài như vậy còn chưa biết lo hay sao?
          Không phải ngẫu nhiên mà chị gợi ý cho tôi hiểu: kinh nghiệm về người khuyết tật cũng như những thân phận bất hạnh  tôi viết cả đời cũng không hết. Từ khi căn bệnh phát sinh thành một án lưu đày, tôi đã chôn vùi sự nghiệp của mình trong cơ cực lầm than. Nếu không có vòng tay từ ai của vài bè bạn, tôi không biết mình đã thế nào.
          Chị Trầm có lý. Bao giờ chị cũng có lý. Lâu lắm rồi, tôi từng cọc cạch xe đạp gõ cửa xin việc ở một xưởng giày da. Ông chủ người Trung Quốc ngay tuần đầu tiên đã phải lòng mình. Tôi liệu không đương đầu nổi đám đàn bà thần nanh đỏ mỏ hơn nữa ông ta cũng chưa hẳn giàu và có gì phải sợ kia chứ! Tôi bỏ việc.
          Đêm đêm tôi vẫn vào Inbox tìm kiếm những thư điện tử của một người tình trên internet, tôi đã yêu anh ngay từ những điện thư đầu tiên, tôi không biết gì về anh, một lần anh gợi ý gửi cho tôi một số tấm hình nhưng tôi lờ đi. Tôi biết anh không thích tôi chuyển những gì anh gửi tôi cho người khác đọc. Tôi dấu tình yêu trong một góc khuất, và như một cô gái mới vừa đương độ hoa niên, tôi thầm thì say đắm “anh yêu!”. Nhưng thư cho anh tôi vẫn tỏ ra cứng cỏi, một lần tôi bảo anh gần năm mươi rồi, nên cưới vợ, kẻo sau này anh lại chịu cảnh cha già con cọc. Anh vẫn làm việc miệt mài bên đất Úc xa xôi. Tôi biết anh gầy, thể tạng yếu, nhưng anh lại gánh vác công việc của một nhà khoa học, anh còn là giáo sư, giám đốc kỹ thuật và là kĩ sư công nghệ hóa. Chúng tôi khác nhau hoàn toàn, anh vẫn dành cho tôi sự quan tâm dù chỉ trên mạng toàn cầu, chưa bao giờ tôi gặp anh, tôi đã thèm khát được nhìn chân dung anh nhưng giờ đây tôi không phiền lụy  nữa, tôi đau nặng, lớn tuổi, không có tiền và không hợp với hôn nhân. Tình yêu tôi giành cho anh rồi sẽ tan chảy.
          Anh không còn viết thư thường xuyên từ cái ngày tôi khuyên anh cưới vợ. Anh đã nói một điều hệ trọng là anh muốn cưới một cô gái như tôi. Nhỏ hơn anh gần mười tuổi thì dù thất thập cổ lai hi tôi vẫn trẻ hơn anh. Tôi không mong chi hơn là anh đổ tiền ra để cứu vãn tình thế hiểm nghèo của mối tình vô phương này.
          Một đêm tôi mơ thấy bóng hình người yêu lồng lộng trên một đồi thông nơi Đà Lạt, anh đứng đó trầm mặc và vắng xa, ánh mắt u hoài dõi tìm đâu đâu, lòng tràn ngập tin yêu và chua xót. Tôi hỏi anh về bao giờ nhưng lời tôi không đến được chỗ anh. Có phải bây giờ trong anh đã có một sự lựa chọn khác. Anh yêu ai mà tìm về?

          Kẻ ấy có vẻ gần gũi với Linh và có lần tôi bất giác thốt lên với Linh rằng:
-        Tôi hỏi chị có phải là xếp phu nhân không thì tụi nó trả lời là chị sếp cái mẻ kho!
          Linh im lặng nhưng những ngày gần đây, mỗi khi bắt gặp ánh mắt kẻ ấy nhìn về phía tôi đầy thân thiện, thì Linh cũng nhìn  tôi đầy oán độc. Cái ngày tôi đến tòa soạn báo trở về chợt phát hiện có người lấy đi cuốn Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ. Làm như không hay biết gì, tôi không hỏi han cô bạn cùng phòng, khi cuốn sách được mang đến trả tôi cũng lờ luôn.
          Một lần bị một gã trai khác hỏi chuyện chồng con, tôi hỏi y:
-                                 Chồng là cái gì?
-                                 Chị không biết chồng là cái gì sao hôm trước chị cười giỡn với sắp nhỏ về cái ông mà chị gọi là chồng?
-                                 Tôi cười hồi nào?
-                                 Hôm trước!
-                                 Tôi chả nhớ!
          Biết bao ý tưởng đã chín muồi nhưng tôi không có thời gian và tiền bạc để thực hiện. Những công việc mưu sinh với tôi thật cực chẳng đã. Khi những cơn đau chấm dứt, tôi lao vào công việc suốt đêm ngày, tôi viết hối hả, đọc hối hả như sợ mình sẽ chết khi chưa kịp đọc, chưa kịp viết. Tôi chẳng còn thời gian quan tâm đến những nhu cầu tối thiểu của bản thân.
-        Giấc mộng yêu đương đã lạc thời.
           Kẻ ấy chắc sẽ để lại trong tôi một cái nhìn buồn bã, cay cú vào những giờ phút ngắn ngủi bức khỏi công việc buổi trưa, hoặc những lúc cần thiết phải vào nơi tôi làm. Rồi sau mỗi ngày, anh ta trở về với một cuộc sống khác, cần thiết hơn, thân quen hơn, nơi mà từ xưa đến nay anh ta đã yên ổn để thực hiện những mục đích của mình. Con đường từ xưởng về với mái ấm của riêng anh chắc không xa lắm.
          Tôi không muốn hỏi người khác bất cứ điều gì về kẻ ấy. Đường anh ta, anh ta cứ đi! vô tình hoặc cố ý mà các anh ta hất tôi ra khỏi chỗ làm này tôi sẽ ầm ĩ, dù đó chỉ là một công việc thổ tả. Anh ta nên thận trọng trên hành trình, đó là điều tốt nhất để tự vệ và thực hiện được mọi tham vọng. Tôi chưa đủ sức tránh những tổn thương và mọi ngộ nhận có thể đem lại.
          Những vết mổ đã lành sẹo và phai dấu nhưng biến chứng suốt đời. Phải nhiều tiền mới chữa lành.
                                      LTT      
                    ĐIỀM MỘNG GIỮA RỪNG
                                                   
          Thứ là phóng viên, chuyên viết bài cho một tờ báo Văn nghệ miền núi. Thứ có người anh họ khá kỳ quặc, lần nào Thứ đến chơi nhà cũng nghe anh nhắc đến cái chết của hai người bạn rừng. Qua trí tưởng tượng của Thứ, tình bạn của anh với hai con người ấy nồng hậu như tình huynh đệ của các anh hùng Lương Sơn Bạc. Có lần Thứ nói thẳng ý nghĩ đó của mình thì chị vợ anh lắc đầu, chị bảo anh bị loạn óc từ sau cái chết của người bạn, gặp ai cũng nhắc tới bạn rừng. Cứ theo cách lập luận của chị thì vì bạn chết, anh không còn người chí cốt chia ngọt, sẻ bùi nên đâm ra lẩn thẩn.
          Thứ thì không nghĩ vậy nhưng không biết giữa anh và chị, ai sai, ai đúng. Đằng nào thì hình ảnh người quá cố đã trở thành nỗi ám ảnh riêng anh. Mà con người anh sống rất có đạo lý, trọng nghĩa tình. Mỗi khi có một người thân quen qua đời dù đang gặp trở ngại hoặc ốm đau, bận rộn thế nào đi nữa anh cũng đến viếng thăm, tiễn biệt hoặc thắp nén hương để sưởi ấm linh hồn người đã khuất.
          Một lần đi cùng anh ra nghĩa địa thăm viếng một người bà con. Sau khi thành kính đốt hương và đặt bó hoa lên mộ, anh bỗng trầm tư hỏi Thứ như muốn giãi bày một điều gì:
-        Em có biết vì sao vợ chồng anh phải rời bỏ vùng miền núi Trà Mi để vào thành phố chen chúc mưu sinh không? Chắc không bao giờ em biết được. Anh bỏ xứ đi vì bị một điềm mộng liên quan người bạn rừng bị chết mất tang. Anh quá sợ những chuyến đi rừng từ sau cái đêm gặp lại hồn ma của anh bạn, để rồi như em thấy đấy, từ một con thú hoang ngang dọc khắp núi rừng, không biết sợ là gi, bây giờ anh thu lu như một sinh vật cảnh bị trói chân, trói tay, vô phương vùng vẫy giữa đất Sài Gòn.
           Rồi không cần biết Thứ có muốn nghe câu chuyện mà vợ anh thường diễn tả một cách hài hước và bóng bẩy là “điệp khúc thác oan của ông bạn nối khố”, anh họ hối hả kể như thể sợ không kịp kể thì ngoài anh ra không còn ai biết được những bí ẩn mà anh chôn vùi trong lòng.

          Cái thuở anh còn trồng chè, buôn quế, tìm trầm ở Trà Mi và các huyện miền núi Quảng Nam, anh có hai người bạn rừng thân thiết và lập thành bộ ba làm ăn chung. Các anh đã từng cắt máu ăn thề là giàu sang cùng hưởng, khó nhọc cùng chia sẽ và sống chết có nhau. Thật sự cả ba đã giữ lời thề từ lúc còn độc thân cho đến khi tất cả lần lượt yên bề gia thất.
          Nhóm của anh ban đầu làm ăn cũng không đến nỗi nhưng về sau cứ thất bát, một phần vì đối thủ cạnh tranh quá đông, phần khác bọn anh chỉ quen sử dụng những phương tiện thô sơ để khai thác, trong khi lâm tặc ngày càng hoành hành và có những phương tiện hiện đại hơn.
          Một lần anh bị sốt rét nặng nên đã không vào rừng. Một trong hai người bạn của anh đến than phiền là đang lúc khó khăn dù chỉ hai người cũng phải đi núi. Anh thấy lo lắng nhưng cũng an ủi họ rằng mình sẽ sớm khỏi bệnh. Mong họ chờ cho ít ngày, nhưng họ đã không chờ, và anh nghĩ chắc cũng chẳng có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Vài ngày sau thì anh khỏi bệnh và nằm dài trên giường chờ họ sớm về để cùng nhau thực hiện chuyến đi khác.
           Một tuần trôi qua, một trong hai người bạn trở về và đến cơ quan xã trình báo người bạn rừng đồng hành với anh ta trong một cuộc bơi vượt suối đã bị lũ cuốn mất tích. Hắn đã cố công tìm kiếm nhưng kết quả thật vô vọng.
          Anh họ Thứ cùng người nhà của nạn nhân đã vào rừng tìm xác ông ta. Các anh đã sục sạo khắp các đoạn suối, thăm dò, lần mò vào từng hốc cây, khe đá nhưng chẳng phát hiện được gì. Sau một trận lũ rừng, mọi thứ bị mưa lũ quét sạch, không để lại một chút dấu tích, và anh, chẳng thể làm gì khác hơn là từ đó về sau chỉ đi rừng một mình vì người bạn còn lại đã bỏ nghề.
          Anh vẫn cứ phải thui thủi vừa cực thân, vừa đau tức. Công việc làm ăn càng ngày càng bế tắc. Thời gian sau phải nhập bọn với cánh thanh niên trẻ. Đám này chưa ai lấy vợ, chưa bị trách nhiệm gia đình cùng gánh nặng mưu sinh đè xuống hai vai. Họ đi rừng như để thử thách tính mạo hiểm, còn việc làm ăn thì được chăng hay chớ. Lúc họ nhận khai thác gỗ, lúc bốc vác, cũng có lúc tìm trầm. Chính vì coi mục đích đi rừng vừa để kiếm tiền, vừa như những chuyến phiêu lưu, khám phá nên đám thanh niên này thường ngủ lại qua đêm ở bất cứ nơi nào mà họ thấy tốt nhất. Đặc biệt, một ngôi miếu hoang giữa rừng ngày trước bộ ba của anh họ mỗi lần ngang qua đó còn thấy ớn lạnh nhưng cánh thợ rừng trẻ lại chọn làm nơi qua đêm thường xuyên.
          Đêm nọ, anh họ đang ngủ ở miếu với nhóm bạn mới bỗng nghe ai đó gọi tên mình. Ban đầu anh cứ tưởng một trong số những người đi rừng cần điều gì đó ở mình. Anh ngồi phắt dậy la lối vì cái người đó đang đêm cứ quấy rầy, không cho anh ngủ. La một hồi, anh nằm xuống, lại nghe gọi tên, anh mới biết rằng không phải bạn rừng gọi. Chuyện ma mị chốn núi rừng anh biết có thật, nhưng anh cũng tin ở tay ấn ông đạo sĩ đã cho anh lá bùa hộ mệnh cực mạnh và tối linh. Nhưng đêm đó có một hồn ma đã nhập vào anh. Chính xác anh gặp nó trong giấc ngủ chập chờn và sau này anh hiểu ra nó ứng mộng chứ không phải hiện hồn về trò chuyện. Điều khiến anh kinh hoàng và bỏ nghề khai thác rừng là hồn ma đó nhận mình là người bạn rừng của anh đã mất tích trước kia. Ông ta chết rồi không thay đổi mấy và than khóc với anh rằng đáng lý ra ông ta đã không chết nếu như thằng bạn khốn kiếp không nghĩ ra mưu kế hại ông để đoạt hết chỗ kỳ nam mà cả hai đã may mắn trúng đậm trong chuyến đi rừng vắng người anh họ của Thứ.
          Thì ra chuyến đó cả hai sau khi vượt qua những đoạn đường hiểm trở, họ đến một một rặng núi lởm chởm, khu rừng già phía sau lưng chạy hút vào dãy Trường Sơn. Cả hai lần theo dấu chân voi và qua tận xứ Lào. Hôm ấy là một ngày mưa to, gió lớn, những ngọn núi trở nên xám xịt, cảnh vật như bị nhấn chìm trong thác nước từ trời đổ xuống, con suối réo sôi sùng sục, nước ngầu bùn.
          Trong tình trạng nước mưa quất vào mặt như dao đâm, họ lần tìm một thân cổ thụ giữa rừng già trú mưa, qua đêm. Thình lình một cây dó lâu năm hiện ra như phép lạ. Không tin vào mắt mình. Cả hai sung sướng đến ôm nhau khóc. Thần tài đã mỉm cười, bao cơ cực đến lúc được đền bù. Cả hai quên hết mệt nhọc.
          Đêm đó hai người thức đến sáng thi nhau đào gốc cây gỗ dó để tìm trầm. Họ dùng đèn pin chiếu sáng. Phải đến khi cái hố to được mở rộng, bị đào sâu xuống như đáy giếng và gốc rễ cây dó phơi bày ra dưới thanh thiên bạch nhật sau một đêm cật lực đào vét. Họ mới tìm thấy kì nam.
          Theo lời người chết thì chỗ kỳ nam họ đào được ít nhất cũng gần 10 ký, và cái viễn cảnh từ nay sẽ giàu lên khiến cho ông quên hết sự thận trọng. Ông không chút ngờ vực thằng bạn đang thay đổi nét mặt trở nên lầm lì, khóe mắt tàn nhẫn, nụ cười ghê rợn. Trên đường về, ông để thằng bạn mang giữ số kỳ nam còn mình thì mang đồ nghề.
          Hắn không giết ông nhưng dẫn dụ ông đến chỗ chết. Khi phải vượt qua con suối đang gặp lũ, nước chảy xiết, hắn xui ông vượt suối trước. Hắn khôn khéo dỗ dành ông rằng, ông không mang hàng, búa rìu ông đeo không giá trị, cứ vứt hết rồi thử bơi xem nước có chảy xiết không, nếu chảy xiết quá thì quay lại, có gì nguy hiểm thì hắn sẽ bơi ra cứu, vì hắn bơi giỏi hơn ông. Còn như an toàn thì cứ qua đến bờ bên kia ngồi đợi, hắn sẽ bơi vượt suối sau ông, vì hắn có trách nhiệm bảo vệ chỗ kỳ nam nặng hàng chục ký.
          Thế là không chút đắn đo, hắn cứ nhằm con suối nước tuôn đổ ầm ầm đẩy ông lao xuống. Mới vừa bơi được hai ba chục sải tay ông đã bị nước lũ cuốn phăng phăng, ông gào lên kêu cứu nhưng kẻ kia cứ làm ngơ. Hắn chờ cho đến khi biết chắc ông chết đuối giữa thác lũ hắn mới lặng lẽ tìm đường khác xa hơn nhưng cũng an toàn hơn về nhà. Sau khi dặn dò vợ con không được hé lộ mình trúng kỳ nam, hắn đến nhà người xấu số báo hung tin.
         
          Người anh họ của Thứ hoang mang nhưng không biết chính xác điều mình nghe thấy trong đêm mà hồn ma người quá cố ứng mộng thuật lại là sự thật hay ảo giác. Anh kể lại hết với những người bạn rừng trẻ cùng đi trong chuyến đó. Vài người trong bọn bảo rằng chính họ cũng một vài lần nghe hồn ma khóc lóc, than van, nhưng họ nghĩ đó là ma rừng. Vốn biết ma rừng linh thiêng và lợi hại, nhưng họ không làm gì xúc phạm chúng, họ tin chúng không hại họ. Chẳng qua chúng đùa giỡn, hù dọa cho vui.
          Một thời gian sau anh họ bán nhà và đưa cả gia đình vào thành phố lập nghiệp. Không nghề ngỗng, không vốn liếng, hết phụ hồ anh chạy xe ôm rồi đi làm bảo vệ cho một công ty.
          Mọi việc sẽ chẳng có gì đáng nói vì tức kẻ thứ ba trong nhóm ít lâu sau chuyển toàn gia đình xuống Đà Nẵng mở cơ sở kinh doanh các mặt hàng lâm sản. Hắn đứng ra thu mua hàng của dân khai thác rừng tuồn về. Hắn giàu nhanh đến nỗi ai cũng bất ngờ trước tài làm ăn của hắn. Anh họ hỏi hắn lấy đâu ra vốn để kinh doanh thì hắn trả lời có người bà con ở Mỹ gửi tiền về giúp đỡ. Mọi người tạm tin như vậy vì đúng là hắn có người bà con ở Mỹ thật. Thôi thì ai nhờ được kẻ giàu người đó hưởng lợi. Chẳng ai băn khoăn nhiều về hắn nữa nhất là giờ đây hắn phất lên: giàu đổi bạn, sang đổi họ. Vậy mà một lần lên miền núi tìm mua da thú, hắn bị trúng khí độc chết bất đắc kỳ tử. Anh họ lần nữa khóc với Thứ: ăn của rừng rưng rưng nước mắt!
                                       LTT

       CÓ AI BUỒN NHƯ MẸ LÚC NÀY KHÔNG?                                                         
          Thành phố lên đèn. Dòng người xe vẫn nườm nượp ngược xuôi. Chị lang thang khắp phố mà chẳng nhớ đâu là đường về. Bóng chị gãy gập trên những bức tường loang lổ. Xa xưa lắm thuở còn con gái. Chị vẫn thường dạo phố mỗi chiều. Còn nhớ cô gái ngây thơ là chị hồi đó, thường bị bà ngoại con la rầy, nhắc nhở đừng ra phố lúc trời mưa.
          Giờ đây chị đã bốn mươi lăm tuổi. Chẳng còn ai chờ một người đàn bà cô độc bốn lăm tuổi trở về nhà. Dù đang độ hồi xuân và tấm nhan sắc không dễ khuất phục thời gian khiến chị mỗi lần nhìn vào gương vẫn tự thấy hài lòng khi biết mình trông còn thật quyến rũ, nhưng chị biết rõ lần này chị sẽ sụp đổ, nếu như chị không chạy khỏi ngôi nhà đầy ắp kỷ niệm về cô con gái nông nổi.
          Chẳng mấy chốc mái tóc đen, dài óng ả của chị sẽ điểm những sợi bạc, và làn da trắng mịn sẽ nhăn nheo, khóe mắt rạn chân chim, làm môi bợt bạt và nụ cười mất dần vẻ tươi rói. Con gái rời bỏ chị, nhẫn tâm đoạn nghĩa thâm tình ra đi khiến chị cứ chết dần, chết mòn. Chị đang tự hỏi mình đã làm gì nên tội khiến con gái tàn tệ như thế. Rồi chị tìm đủ lời bào chữa cho con. Bởi buộc tội con thì lòng chị đớn đau đến bội phẩn. Chị không muốn hờn trách con gái, chỉ nỗi đau xé lòng là cụ thể bởi từ tinh thần đến thể xác, chị tưởng như mình bị một bàn tay vô hình rứt lìa từng phần trên cơ thể và khoét rỗng tâm hồn.
          Trước kia, khi chưa biết kẻ mà cô con gái đem lòng yêu là người như thế nào chị thường nhắc nhở con thận trọng. Trong mắt chị nó chỉ là một đứa con nít không hơn. Giờ này chị độc thoại với chính mình mà tưởng như đang trò chuyện với con thơ. Trái tim người mẹ rỉ máu và nỗi tuyệt vọng về một người đàn ông đã đi qua đời chị buộc lòng chị thầm hỏi sao ông ta không chết trước cái ngày chị thấy lại ông ta sau cả chục năm bặt vô âm tín.
          Chị thầm hỏi con gái: “người đàn ông mà con đang yêu sẽ tử tế với con được bao lâu? Làm sao con có thể sống nổi nếu một ngày kia hắn quay mặt tráo trở. Con đã yêu đến mất trí!”
          Lạy trời hắn đừng bỏ con gái chị lạc lối giữa bể đời còn lắm chông gai!
         
                   Con gái yêu của mẹ!
          Con sẽ đọc thư này khi nào con trở lại nhà. Giờ đây mẹ học cách tự thương chiếc bóng của mẹ đang xiêu loạng dưới ánh đèn đường. Vài thiếu nữ ngả vào vai bạn trai và họ đang dìu nhau đi. Những bước chân mẹ kéo lê qua bao con đường rồi mẹ cũng không biết!
          Con nên nhớ mình trao thân gửi phận cho hạng người nào? Mẹ không muốn con dan díu với một người không đứng đắn vì tương lai, hạnh phúc của con. Chưa bao giờ vì lòng ích kỷ mà mẹ la mắng con, không muốn con hạnh phúc. Mà khi con bước vào đường yêu, mẹ có biết con sánh vai với một người như thế nào đâu. Chẳng bao giờ con hiểu được điều đó. Vì con còn thơ dại hay con đang choáng ngợp trong men tình? Con làm mẹ đau đớn. Lúc này mẹ chỉ biết chắp tay nguyện cầu, nước mắt hòa bụi đường đặc quánh. Mong cho kẻ ấy hiểu tình yêu của con gái mẹ dành cho hắn và biết trân trọng những giá trị làm người để con không phải nghe những lời phỉ thui hoặc sổ toẹt những xúc cảm thiêng liêng nhất.
         
*
          Xưa ba và mẹ yêu thương rồi cưới nhau. Mối tình ấy đẹp đến mức ai cũng cầu chúc ba mẹ hạnh phúc bên nhau đến thuở đầu bạc, răng long. Tình yêu ấy đơm chồi nảy lộc trên cơ sở tình bạn chốn học đường. Ngày ba con lên đường nhập ngũ mẹ mới mang thai con ba tháng. Năm con lên ba thì mẹ nhận được giấy báo tử cho biết rằng người ba kính yêu của con đã qua đời. Ngày ấy mẹ mới hai mươi lăm tuổi. Cái tuổi xuân sắc đương độ nở bùng và con tim nhiều người mới bắt đầu rạo rực, khát khao yêu đương.
          Trong số những cô bạn gái đồng tuổi của mẹ nhiều người chưa lấy chồng. Khi mẹ ra đường ai cũng tưởng mẹ hãy còn son rỗi. Đám đàn ông chưa vợ vẫn thích ve vãn mẹ hơn là tán tỉnh các chị em bạn. Nhiều người thấy mẹ nháy mắt với nhau “gái một con trông mòn con mắt”. Mẹ biết mình đẹp, và mẹ rất yêu bản thân, mẹ phải thường xuyên tập luyên cho có một thân thể uyển chuyển, mềm mại, lại nữa, mẹ có giọng hát hay, chơi đàn giỏi, là giáo viên của một trường sân khấu, nghệ thuật. Ở cái trường ấy mẹ từng là hoa khôi giữa đám giáo viên nữ, nhưng tài hoa bạc mệnh. Mẹ sớm góa chồng. Ba con mất đi là nỗi mất mát lớn lao nhất trong đời mẹ. Thời gian dù có giúp mẹ quen dần với nỗi đau nhưng chẳng thể nào đem trả ba con lại cho mẹ con mình. Mẹ cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện tái giá. Hơn nữa, không yêu người ta thì đến với họ làm gì? Cặp bồ với một ai đó là chuyện không nằm trong sự tính toán của mẹ. Dù đã có con nhưng nhiều người đàn ông vẫn quan tâm, yêu thương và sẵn lòng cưới mẹ khiến nhiều phụ nữ ghen ghét. Mẹ thấy đau đớn. Có nghĩa gì đâu một ham muốn nhất thời của một gã trai hướng vào đối tượng là mẹ rồi không được đáp trả. Mẹ chỉ yêu có ba con, hình ảnh ba đã dần dần thành tượng thánh trong đời sống của mẹ con mình. Thời buổi bao cấp trăm ngàn khó khăn mà đồng lương giáo viên một trường sân khấu nghệ thuật lại quá bèo bọt. Mẹ phải nhịn ăn nhịn tiêu và mở lớp dạy thêm hai mẹ con mới có đủ tiền đắp đổi lần hồi qua ngày. Con ngoan và học giỏi, ở lớp con vẫn hãnh diện về người ba quá cố. Con chưa ý thức nổi những thiếu thốn tình cảm của một đứa trẻ không ba. Chưa bao giờ con biết nỗi cô đơn mà mẹ trải qua suốt thời trẻ.
          Năm con lên mười thì hắn đến. Hắn đẹp trai, tài giỏi và trẻ hơn mẹ hai tuổi. Hắn gọi mẹ bằng chị nhưng cứ thấy mẹ là hắn nhìn với một ánh mắt mà đàn ông chứng kiến thì bực tức còn đàn bà bắt gặp lại sôi gan. Riêng mẹ thì chỉ muốn được hắn nhìn hoài như vậy. Hơn lúc nào hết, trong mẹ bắt đầu sống dậy những tình cảm non nớt, dại khờ, những khát khao thầm kín, vụng về.
          Mẹ đã run rẩy, mơ tưởng về hắn. Rất nhiều đàn ông yêu mẹ nhưng chưa ai nhìn mẹ với ánh mắt đắm say như thế, cũng chưa ai làm mẹ bấn loạn đến mê mẩn tâm thần. Mẹ không biết mình phải làm gì, nghĩ gì nữa. Mẹ khao khát hắn và muốn trốn đi cùng hắn. Dường như hắn cũng chỉ chờ đợi có thế thôi. Vòng hoa đức hạnh mà người đời khoác cho mẹ có nguy cơ bị dập nát. Suýt chút nữa con bị mẹ bỏ rơi. Lúc đó mẹ chỉ muốn được buông trôi tất cả. Đến bây giờ mẹ cũng không biết đó là mình yêu, hay bị một sức mạnh ma quái, bí ẩn hơn cả ý chí của mẹ chi phối, chưa bao giờ mẹ kể con nghe về những ngày tháng đó.
          Mẹ như bị thiêu đốt trong ảo vọng và đam mê.
          Thế rồi mẹ dừng lại kịp.
          Nói ra thật xấu hổ nhưng không phải vì yêu thương và nghĩ đến con, cũng không phải thủ tiết với ba con mà mẹ không ngã vào lòng hắn. Lúc đó chỉ đơn giản hắn bỏ cuộc. Hắn biến khỏi đời mẹ như thể đã hoàn tất một trò đùa cợt hoặc thử thách đàn bà đầy tai quái. Một ngày kia mẹ biết tường tận cơ sự nhưng nói ra cùng con phỏng có ích lợi gì. Chính hắn bị một người chú có thế lực và giàu sang cấm đoán chuyện kết hôn cùng mẹ. Ông ta biết cách thao túng hắn bởi lúc nào hắn cũng cần sự hỗ trợ của ông để tiến thân. Cũng nói thêm là ông chú kia đã từng rất ham muốn mẹ từ hồi mẹ chưa là vợ của ba con nhưng chẳng thể nào đến gần mẹ được. Đứa con gái nghèo và đẹp là mẹ thời đó rất đơn thuần. Thằng cháu trai của ông ta có biết những điều tăm tối trong lòng chú ruột hắn không là vấn đề mẹ chẳng bao giờ quan tâm. Hắn đi rồi mẹ đành chôn chặt niềm cô đơn và nỗi cay đắng rồi nghỉ công tác và đưa con vào Sài Gòn sinh sống. Mẹ dạy nhạc cũng tạm đủ tiền nuôi con. Học sinh rất thích các giờ giảng của mẹ. Nhiều em xin được mẹ dạy kèm để nâng cao trình độ. Từ đó mẹ cứ duy trì một nếp sống bình thường, phải đạo tránh các mối quan hệ thân mật không cần thiết với đàn ông và nuôi dưỡng, chăm sóc dạy dỗ con nên người. Trong mắt thiên hạ mẹ là một người đàn bà mẫu mực, có trách nhiệm, kỷ cương và đầy tình thương. Nào ai cần biết đến nội tâm một người đàn bà. Nhất là một góa phụ.
          Càng lớn, con gái của mẹ càng chăm ngoan và có thiên hướng đi sâu vào lĩnh vực nghệ thuật sân khấu nhờ sớm thừa kế ở mẹ những năng khiếu âm nhạc. Con hát hay, đàn giỏi và là hạt nhân của các phong trào văn nghệ, ai cũng đoán con sẽ sớm trở thành một ca sẽ trẻ. Giọng ca của con trẻ trung, khỏe khoắn tràn trề sức sống khiến báo chí không tiếc lời ngợi ca. Rồi một ngày nọ con khoe với mẹ có một bầu show tìm gặp con. Gã sẵn sàng ký một hợp đồng lên đến hàng trăm triệu nếu con chịu cho phép gã tập dượt, đào luyện, ghi âm thử giọng hát trong thời gian một năm. Như gã tán dương con có khả năng tiến xa hơn thì gã sẽ đầu tư vào con cao hơn.
          Mẹ có nghe nhầm không? Con còn trẻ, dại, tài năng chưa phát lộ. Mẹ rất hiểu con nhưng chưa thấy con có biểu hiện gì của một ca sĩ xuất chúng. Bầu show nào dám hợp tác liều lĩnh như vậy? Theo trí tưởng tượng của mẹ thì hắn chỉ có thể là tay hại đời con gái nhà lành chuyên nghiệp. Một người đàn bà đã trải đời như mẹ thì hiểu con người nhất là đàn ông lắm chứ: dù vào thời buổi nào thì giọng hát của con cũng chỉ mới đạt tới giới hạn của các cuộc thi phong trào hoặc đoạt giải ở các cuộc thi do các đài truyền hình tổ chức. Muốn trở thành ca sĩ lừng danh thì cần nhiều điều kiện khác, mà quan trọng hơn tất cả là kinh nghiệm nghề nghiệp, con lấy đâu ra những tố chất đó. Con gái mẹ đâu phải thiên tài hoặc thần đồng ca nhạc. Cái người đàn ông đó được gì khi chọn con để đầu tư, khai thác.
          Con vẫn ngoan cường và tỏ cho mẹ biết gã bầu show đã ứng trước nửa số tiền. Gã chọn con chỉ vì con quá giống một nữ nghệ sĩ gã từng thân thiết. Chỉ vậy thôi. Con đã dùng toàn bộ tiền đó để giúp mẹ trả khoản nợ còn thiếu khi mua căn hộ ở khu chung cư. Mẹ thấy tiền và lo sợ con bị dẫn dắt vào các cạm bẫy. Đằng nào con cũng chỉ là phận nhi nữ. Con cười cợt mẹ rằng con chưa đắt giá đến mức một người đàn ông dù giàu có và đáng tuổi ba sẵn sàng bỏ ra món tiền khổng lồ để lừa gạt và chiếm đoạt. Mẹ thở dài: con có lý.        
          Con chỉ phảng phất đôi nét của khuôn mặt mẹ, và ngoài giọng hát, năng khiếu có phần vượt trội hơn mẹ thì ngoại hình, tính cách của con lại giống ba con, mà người ba của con ngoài trái tim đa cảm và yêu ai thì chỉ biết duy nhất có một người lại chẳng còn gì khác nữa. Mẹ hơi yên tâm phần nào vì tin chắc người ta cần con không phải do hiếu sắc.
          Cứ sau một ngày tập luyện về con thủ thỉ với mẹ về người đàn ông đó. Con quá yêu ông ta. Ánh mắt, giọng nói, nụ cười của con tỏ rõ con không thể nào thiếu ông ta được. Mẹ sững sờ không hiểu nổi sao có người đàn ông mê hoặc phụ nữ đến như thế.
          Hơn hai mươi tuổi con chưa qua mối tình đầu. Những bạn trai cùng trang lứa với con chưa ai đủ sức khiến trái tim con rung động. Mẹ cứ nghĩ con thuộc loại kiên định, không xem trọng chuyện yêu đương. Con thường nổi cáu trước những tin nhắn với những lời hẹn hò mùi mẫm mà đám bạn trai thỉnh thoảng bắn đến. Con đã cười cái thói ủy mị, cải lương và sến của họ. Vậy mà giờ đây con hoàn toàn bi lụy, đắm đuối và có phần bạc nhược trong tình yêu. Không phải con bị quyến rũ, dụ dỗ mà chính con phải lòng người ta trước.
          Mẹ không bao giờ ngờ được con say mê một kẻ đáng tuổi ba mình. Mẹ chưa gặp mặt nhưng như con nói thì hơn bốn mươi tuổi nhưng trông ông ta vẫn còn rất trẻ và chưa lấy vợ, ông hy vọng rằng mẹ sẽ đồng ý cho phép ông cưới con. Mẹ chẳng biết nói thế nào, chuyện chênh lệch tuổi tác giữa hai người chỉ là thứ yếu. Con đang yêu say đắm mà ông ta chịu cưới thì mẹ việc gì phải đi ngăn cản. Cứ như cái cách con khoe thì người đó bao giờ cũng chu đáo với con, rằng ông cũng yêu con như con yêu ông, rằng nếu mẹ không ngăn cản thì không ai có thể chia lìa con và ông được.
          Một linh cảm chia ly bóp nát trái tim mẹ. Cái nỗi sợ hãi mơ hồ cứ lơ lửng nhưng mẹ chẳng dám thể hiện ra cho con biết. Mẹ tin rằng nếu mẹ chấp nhận con và người ấy nên duyên vợ chồng thì cũng có nghĩa mẹ vĩnh viễn mất con. Mẹ quyết định ngăn cản con với hy vọng là con vì kính yêu mẹ mà dừng cuộc tình lại. Con còn quá trẻ để hiểu chẳng có gì bất diệt trên đời này. Tình yêu dù có nồng nàn, sâu nặng bao nhiêu đi nữa thì đó cũng chỉ là những cảm xúc phù du. Người lý trí mạnh luôn biết làm chủ cảm xúc. Càng lớn tuổi người ta càng dễ nhận ra mình thường nhầm lẫn, ngộ nhận trong tình trường. Có người suốt đời không biết đến tình yêu họ vẫn lập gia đình, sinh con đẻ cái, cùng nhau nuôi dạy con, lúc nào cũng sống tử tế với nhau và chu toàn mọi trách nhiệm xã hội, duy trì một gia đình nền nếp. Đó là mẹ chưa muốn nói tình yêu chỉ đem đến cho con người khổ đau và tuyệt vọng. Con đã buồn rầu bảo mẹ vì sớm góa chồng nên mới có cái nhìn cực đoan về chuyện lứa đôi. Mẹ chẳng biết nói gì thêm nhưng cứ thấy bất an và lo âu. Ngày con đưa ông ta về nhà đúng là ngày đen tối nhất trong đời mẹ!
          … Đã hơn mười năm người ấy vẫn chẳng hề thay đổi, khuôn mặt không một dấu ấn của tuổi già. Khi ánh mắt hắn chạm phải ánh mắt mẹ, hắn lặng trong giây lát rồi như mê dại, u sầu đi, còn mẹ thì bình tĩnh hơn, chỉ coi hắn như một người mình quen biết trước đây giờ tình cờ gặp lại. Trong mẹ không một chút xao động.
          Mẹ già rồi!
          Ngày xưa mẹ và hắn đã là gì với nhau đâu. Hình như lúc nào hắn cũng gọi mẹ bằng chị. Bây giờ hắn đang là người tình của đứa con gái mà mẹ thương yêu nhất trên đời. Hắn nghĩ gì mẹ không cần biết. Đột nhiên, hắn vội vã ra về làm mẹ bối rối tự hỏi phải cư xử thế nào đây nếu hắn trở thành con rể mẹ.
          Có một điều mẹ không nghĩ đến là hắn dứt khoát bỏ con.
          Trước sự thật quá buồn lòng, con suy sụp và gào khóc. Con không thể nào lay chuyển được hắn. Mẹ tuyệt vọng nhìn con mòn mỏi trước những ngang trái ngoài sự tiên lường.
          Cuối cùng hắn chỉ đưa con theo khi con chấp nhận rời bỏ mẹ và cùng hắn đến một nơi khác sinh sống. Mẹ không trách gì con. Mẹ chỉ đau đớn là sao con trốn đi quá nhanh và không thèm một lời từ giã mẹ. Xưa nay con vẫn ngoan ngoãn và hết lòng kính yêu mẹ, sao lần này con phũ phàng đến vậy?

         
          Bóng đêm loang dần phố vắng. Chị lê bước về ngôi nhà vắng. Con đường dẫn về nhà như dài vô tận bởi nơi ấy giờ đây mất hẳn rồi đứa con thơ bé bỏng và chắc là sẽ còn chịu nhiều đau khổ ở đời. Không con, chị đâu còn thiết tha với đô thị phù hoa này. Chị ngồi ủ rũ tàn đêm và những ngày tiếp sau tâm trạng rã rời của chị chuyển biến thế nào chị cũng không tự biết.
          Chị gào gọi tên con gái yêu. Phải chăng cô con gái chạy trốn cả chị khi không cưỡng nổi sức cám dỗ ma quái mà người đàn ông đã tạo ra? Bất chợt, giữa cơn sốt mê man một tiếng nói linh thiêng vọng lại. Đó là tiếng của người chồng mà nhiều năm rồi chị không còn nghe thấy nữa. Ngày tháng trôi qua, chị thu dọn về quê. Chẳng còn gì ràng buộc chị với thành phố này, dù cô con gái có đang ở đâu đó rất gần chị, hằng ngày vẫn theo dõi từng động tĩnh của chị.
          Ngôi nhà trở nên vô chủ. Chị muốn để đấy cho vợ chồng cô con gái – chị chỉ mong hai đứa bao giờ cũng bên nhau theo đúng nghĩa vợ chồng – dù thằng chồng có nghĩ thế nào về chị thì chị cũng chỉ coi hắn là một đứa con rể bất hiếu. Suốt đời chị nguyện cầu cho cô con gái hạnh phúc bên người yêu.
                                                  LTT

                             NỢ XƯA PHẢI TRẢ

       Chưa bao giờ gã chủ thầu Phi cảm thấy lo âu như lần này, suốt đời gã chưa bao giờ tin vào linh cảm ấy thế mà lần này những linh cảm chết chóc cứ lởn vởn. Nửa đêm gã như nghe một tiếng người thì thầm: “ta giết mi! ta giết mi!”. Phi không biết tiếng nói ấy phát ra từ đâu. Phi không dám nói với bất kỳ ai về những điềm gở này.
Không sao thắng được nỗi muộn phiền dai dẳng, gã gọi điện đến các đối tác xin hủy hợp đồng và đặt thẳng vấn đề là sẵn sàng chịu bồi thường mọi thiệt hại. Điều gã không ngờ là đối tác lại khăng khăng không chịu thay đổi hợp đồng. Gã chán chường: Phải chịu thua thiệt một cách vô lý như thế mà người ta vẫn không thông cảm với gã. Đến nước này gã sẽ cho cái bọn ngu ngốc kia thấy chúng sai lầm như thế nào: nếu tìm một nhà thầu khác, thời gian khởi công xây dựng cây cầu có chậm lại thật nhưng họ sẽ hưởng một đống tiền bồi thường. Nguồn lợi từ trên trời rơi xuống vậy mà chúng nó không biết ăn. Phi chưa thấy ai dại như bọn này.
Gã bỗng tức cười. Có gì đó như khinh thường trào lên trong gã, thế là gã quyết định xuống tận công trình theo dõi công việc. Miên, cô trợ lý của gã cứ phàn nàn đã có người cáng đáng hết. Miên còn lâu mới hiểu gã. Chỉ bằng cách ấy gã mới khiến đám quan chức nhà quê quen hợm hĩnh lóa mắt trước trí lực của gã.
Xưa nay Phi được bạn bè trrong giới làm ăn cả nể vì nổi tiếng là người to gan, dám nghĩ dám làm, sòng phẳng đến lạnh lùng. Chẳng vì thế mà những cuộc thanh trừng đám tép riu – các chủ thầu xây dựng mới phất lên theo cách gọi đầy miệt thị của Phi – dám ra mặt cạnh tranh, hơn thua mà không cần biết đến hậu quả. Và kết quả bao giờ cũng thành một đề tài hay ho cho đám đàn em của Phi phô trương thanh thế khiến nhiều đối thủ của Phi xanh mặt.
Thực ra tay chân của Phi chỉ là những kẻ cơ hội quen thói đánh trống bỏ dùi. Phi cần họ để tạo lá chắn. Những việc Phi làm tại thành phố trong những năm sau này chẳng là gì so với các vụ quyết chiến thuở gã còn là một thanh niên.
 Bây giờ nhớ lại những năm tháng ấy Phi thấy hãnh diện về sự to gan. Thằng con trai gã khiến gã ghét cay ghét đắng bởi cái bản tính nhút nhát, chẳng giống gã chút nào. Cái sự giết người không thèm sám hối của Phi vào cái thuở gã mới hai mươi tuổi chỉ mình gã biết là một cột mốc quan trọng đánh dấu sự liêù lĩnh của một thằng người có máu lạnh. Gã lim dim mắt:
-      Mới đó đã trên năm mươi. Ta không tiếc nuối những năm tháng đã qua. Ta đã làm những việc phi thường. Ta luôn hân hoan tự tưởng thưởng mình,…
Gã ngã người ra ghế và gọi cô giúp việc lên xoa bóp. Bàn tay thành thạo và mềm mại của cô gái khiến hắn dễ chịu và cứ như thế, mặc cho cô mơn trớn, vuốt ve hắn bắt đầu lục lọi trong ký ức khuôn mặt của người đàn ông đầu tiên mà hắn sát hại:
“… Thằng lõi ấy cứ tự hào là con của một địa chủ. Rõ khổ! Địa chủ là cái gì? Đáng kiếp thằng lõi! Hắn chỉ tin có mỗi mình ta và cũng chỉ vì một lý do mà cứ nghĩ đến là ta thấy nhục: ấy là cha mẹ ta và gia đình hắn đã kết thông gia. Hắn cứ cho rằng ta chẳng đời nào dám phản bội hắn. Nhà hắn giàu. Em gái hắn thuộc diện sắc nước hương trời. Đù mẹ! Cứ nhớ đến cái cảnh cha ta nhún mình trước cả nhà hắn mà ta sôi gan. Cô em gái hắn đâu có yêu ta. Nàng yêu một thằng cha hành tung đầy bí ẩn. Thằng đó không đáng xách dép cho ta. Trung thực nhìn nhận nếu cha mẹ ta không chết đời ta đã khác, bàn tay không biết thế nào là vấy máu, tanh tiền. Một lần thằng lỏi hỏi ta:
-        Phi! Bây giờ mày muốn gì nhất?
-        Tao muốn xuất dương du học! Ông già tao chỉ muốn tao về quê cưới vợ sinh con. Ông bảo sẵn sàng cưới cho tao chục bà vợ. Hắn cười. Nhưng ông già còn lâu mới hiểu nỗi chí hướng tao. Sợ nhất là phải vào quân dịch, cứ tưởng tượng khóac bộ rằn ri lăn, lê, bò, tòai là tao hãi. Tao chưa bao giờ thích chuyện đánh đấm. Cái áo thụng của mấy cha đạo nhìn còn hấp dẫn hơn bộ quân phục. Giá mà biết trăm đường không qua binh ải lúc trước tao theo đạo và xin vào học trường dòng. Còn mày? Tư Tầm, mày mơ ước điều gì nói tao xem?
       Thằng lõi cười khanh khách:
-      Mày có thấy tiểu thư yểu điệu thướt tha nhà ở phía bên kia đường không? Ba nàng là ông trùm giàu vào diện nhất nhì ở quận này đấy. Tao mới thấy nàng đã mê mẩn tâm thần, cách tán gái cổ điển nhất là tung vài bài thơ chòng ghẹo. Thế là nàng nhờ chị sen mang thư hò hẹn đến tận nhà trao tay tao. Xúi quẩy là ông anh vợ tao bắt gặp tao với nàng tay trong tay dạo chơi khắp chốn công viên. Ổng méc ba tao. Ông già ngòai quê nổi trận lôi đình. Ổng ra tối hậu thư: Con không về quê làm đám cưới gấp thì ba sẽ không bao giờ gửi tiền vào cho con nữa. Thì ra ông già không muốn làm người bội ước: trước kia tao dại dột đồng ý khi ông già muốn cưới cô hàng xóm cho tao.
-      Con nhỏ cũng xinh mà! Khối thằng nhà giàu, kể cả thằng ranh con ông quận trưởng muốn xách dép cho nó còn không được. Sao mày nỡ thốt ra những lời tàn tệ thế nhỉ? Ta cố ý đề cao vợ chưa cưới của hắn ở quê với hy vọng hắn còn tình cảm với nàng và cũng vì khó chịu quá đi mất. Đã có lần ta nhìn thấy thiên thần con ông trùm. Nàng sinh ra đâu phải để yêu cái ngữ tầm thường như hắn. 
-      Nàng sẽ chết mất nếu tao cưới vợ. Khi người đàn bà yêu mày biết họ thế nào không? Họ sẵn sàng nhảy vào lửa để chứng tỏ cho người khác biết tình yêu của mình. Tao đâu có chờ một tình yêu như thế. Sét đánh ấy chứ? Ước gì ông già tao chưa bao giờ mang trầu cau sang nhà hàng xóm. Hắn nói đầy vẻ mãn nguyện
 Lúc đó ta và hắn đang nhai bánh mì trệu trạo trên ghế đá công viên. Đã hai tuần nay ta không còn một xu dính túi. Hắn phải bẻ đôi ổ bánh mì.
Thằng công tử hai mươi tuổi ấy là cái thá gì mà hưởng đủ mọi ân sủng ở đời: hắn làm ta uất lên vì đố kỵ. Ta chờ đến mỏi mòn cái ngày tên ta được khắc trên bảng vàng, thế mà hắn là kẻ cướp mất suất học bổng du học của ta,...
Ở trường, ai cũng biết ta hơn hắn về mọi phương diện, đặc biệt, trong học tập. Chỉ vì suy sụp sau cái chết của ba mẹ mà sức học của ta giảm sút. Lần đầu tiên kể từ khi mới chập chững cắp sách đến trường tới thời điểm ấy ta mới chịu cái vị thứ hạng nhì. Hắn đã vượt lên đứng đầu. Lẽ ra hắn nên ở lại cưới tiểu thư con ông trùm và nhường ta xuất dương du học, nhưng hai chữ “xuất ngoại” làm mờ mắt khiến hắn quên một nghĩa cử. Ta mới phải cho hắn biết tay.
Bàn tay ta dính máu của kẻ tin yêu ta nhất. Dù rằng cái hiện trường mà ta tạo ra thuyết phục được hầu hết mọi người tin rằng hắn bị mấy tên cướp xóa sổ. Khó hiểu nhất là vợ chưa cưới của hắn: Cô bảo lúc nào cũng nghe bên tai tiếng nói vô hình  rằng ta đã giết cậu ấm, rằng hãy kiên nhẫn đến thời điểm sẽ báo thù. Cô còn thề bên quan tài ông chồng chưa cưới đã bạc tình sẽ thủ tiết trọn đời.
Ta chịu không nổi cái nhìn như có tẩm thuốc độc của vị hôn thê. Ta đã phải từ hôn với lý do rằng bây giờ ta đến tuổi phải đi quân dịch, mà ta thì kinh tởm cảnh máu chảy đầu rơi. Ta đã có hẳn một kế họach trốn lính, chuyện vợ con ta không muốn vướng víu. Không ngờ nhà người ta trả lại tât cả lễ ăn hỏi với một thái độ đầy tự trọng. Từ sau cái chết của thằng lỏi, nhà bên ấy nhìn ta với ánh mắt tủi hờn. Mà ta đến mê mẩn tâm thần bởi đôi mắt giai nhân.
Ông địa chủ rầu rầu:
-      Cha mẹ anh xây cả một kho tàng trong lòng đất. Tôi cũng không rõ từ nguồn nào mà ông có lắm của nổi của chìm. Tài sản của tôi thì thấm thía vào đâu so với của cải nhà anh. Ông chẳng dấu tôi chuyện gì. Họ không cho anh biết vì khi lấy lá số tử vi cho anh, ông ấy nghe thầy số phán anh sau này sẽ làm nhiều điều thất đức và chỉ có quỷ thần mới trừng phạt nổi. Ông ấy bảo: cho anh ăn học để làm người. Chốn đô thành đầy xa hoa, cám dỗ. Vung tiền chỉ tổ làm anh hư hỏng. Chi bằng khi nào anh yên bề gia thất, anh chí thú, cầu tiến, lúc đó giao hết gia tài cho anh cũng không muộn. Lòng dạ con người thật khó lường, sự đời còn khó lường hơn...
 Ta im lặng. Cái thằng con hiền lành của cha mẹ ta chết cùng ông bà từ lâu rồi. Bây ta là tên sát nhân. Giá ta có tiền và mặc sức ăn chơi. Lâu nay ta vẫn nghĩ mình con nhà nghèo. Cha mẹ ta chẳng để lại gì cho ta. Than ôi! Toàn bộ gia sản của cha mẹ mà ta sẽ thừa kế bị những quả bom chôn dưới các hố hầm sâu hoắm,.. mà tại sao ta lại nhớ tất cả những chuyện ấy vào lúc này. Ta chưa từng ăn năn, kể cả cái việc sau này ta ám toán người chồng của vị hôn thê mà ta đã từ hôn. Nàng có biết lòng ghen tuông thiêu đốt ta, đó là chưa nói, cưới nàng, hắn nghiễm nhiên thừa hưởng tòan bộ sản nghiệp lẽ ra thuộc về ta.
Nàng đâu biết lúc đó ta tơi tả, rách nát như xơ mướp và chui lủi như con dế, con giun....”
Đột nhiên, hắn nhặt chiếc lọ hoa đang đặt trên bàn đập mạnh:
-      Hừm! Sao ta trở nên hay ưu tư thế này? Nực cười. Cứ lo âu vớ vẩn thì chẳng đáng mặt là một tay Phi khét tiếng từ giới giang hồ, nhà chức trách, dân anh chị, bọn quan chức một phép nể nang.

Chuyện bắt đầu từ lúc tổng giám đốc phôn:
-      Có một công trình ngon lành lắm nằm tại chính quê gốc của chú, mần không? Trúng quả đừng quên lại quả ông anh của chú nha! Nhiều thằng muốn nhảy vào nhưng anh ưu tiên chú trước đó.
       Rồi lão cười khành khạch đầy đắc ý!
Phi phờ người nghĩ ngợi. Kinh nghiệm làm ăn cho hắn biết càng xa đô thành càng vớ bẫm. Gã khóai nhất là trúng những con đường chốn huyện lỵ. Tận dưới làng quê thì thanh tra nào về. Xà xẻo công trình, rút ruột dự án đâu chỉ mình gã hưởng. Thằng nào có quyền lực kinh tế không tham nhũng. Hợp đồng này nhà thầu cùng lúc nhận cả ba công trình: Dựng con đập ngăn mặn trên sông, xây một cây cầu nối liền hai bờ sông và đổ bê tông con đường dài hàng chục ki lô mét.
Toàn thân Phi chấn động. Hơn ba mươi năm rồi gã chưa một lần trở lại quê nhà. Trong tâm thức gã, hai chữ quê hương chẳng gợi lên bất cứ điều gì có nghĩa. Cái cuộc xô đẩy nháo nhào vào những ngày cuối tháng tư năm 1975 không ngờ đã tạo nên một vỏ bọc yên lành cho gã. Vào thời đó chuyện giết người vì lòng ghen tuông, đố kỵ của gã ngày càng bị nhiều người nghi ngờ, nhất là những người trong gia đình ông địa chủ. Tuy nhiên, gã không phải là kẻ yếu bóng vía, chưa khảo đã xưng.
Ngày đó, pháp luật không vươn tay đến chỗ Phi, thân nhân của những người bị hại không đủ từng trải, khôn ngoan và cay độc để hiểu rằng gã là một tên sát nhân.
Giờ đây, gã đã là chủ nhân của hàng chục khu cao ốc ngay giữa một đô thị sầm uất. Gã chỉ giao du tòan với đám trưởng giả, thượng lưu. Trong mắt thiên hạ gã là đại gia.
 Lên đến tột đỉnh giàu sang vậy mà Phi chẳng bao giờ có được hạnh phúc làm người. Tâm hồn gã trống vắng như thửa ruộng trơ gốc rạ. Gã muốn có được nhiều tiền là tiền chảy vào két gã như nước. Chằng mấy ai nắm rõ gốc gác của gã để mà phanh phui cái quá khứ xa xôi và thân phận một thằng người mất sạch mọi thứ và bị ruồng bỏ như một con thú hoang đã có lúc lâm cảnh nghèo hèn, sống trong tội lỗi mà từ lúc mới chập chững vào đời đã gây tội ác và chọn cách kiếm tiền thảm hại nhất: đào mỏ.
Những cô điếm quý phái mà gã từng ve vuốt thể xác và moi móc tiền bạc ấy bây giờ ở đâu? Đàn bà vốn nhẹ dạ và hay quên. Đâu đó trong phần tối tăm nhất của con người gã, có một bóng đen sừng sững, lấn chiếm tòan bộ những toan tính. Cái bóng ấy chi phối đường đi nước bước gã trong hơn mười năm. Vào cái lúc gã muốn hòa hợp cùng nó thì nó bỗng tràn về phía khác. Những cái chết trắng phía nó đang ngự trị cho gã biết nó sẽ bất thần quay lại phía gã bất kỳ lúc nào.
Năm tháng trôi qua, mọi dấu vết dần bị thời gian bôi xóa, những người từng biết gã chốn quê nhà trước đây chẳng còn ai. Hai cô gái xinh đẹp nhưng bạc phận nghe đâu cũng đã bỏ xác trên sông. Người cùng thời với cha mẹ gã đều về chầu tổ tiên cả.
-      Ta đã có nhiều tiền nhưng ta còn muốn nhiều nữa. Ta chưa biết thế nào là hạnh phúc chắc hẳn vì ta chưa có được sự giàu sang như ta mong muốn. Ta vẫn còn lép vế trước khối thằng tư bản. Có tiền mua tiên cũng được. Ước gì ta thành người giàu nhất thế gian.
-      Ha! ha! ha!!!
Thốt nhiên, một tràng cười ghê rợn vang lên khiến hắn bủn rủn. Hắn nhìn khắp nơi nhưng chẳng biết từ phía nào phát ra tiếng cười quái dị đó. Hắn căng óc chờ đợi nhưng tuyệt nhiên, chung quanh hắn lặng phắc. Bất chợt, một giọng rền rĩ, nỉ non, ai oán như từ trong đầu hắn âm vọng:
-      Đến lúc rồi Phi, hãy sám hối đi! Chỉ cần mi thật tâm sám hối, ăn năn thì tội nghiệt có sâu dày vẫn có thể cứu chuộc.
       Chịu hết nổi hắn nhấc máy gào to trong điện thọai:
-      Cô Miên đấy hả? Sắp xếp mọi việc xong chưa mà cứ câm như hến? Tôi chờ từ sáng đến giờ chẳng thấy động tĩnh.
       Cô trợ lý nhợt nhạt trong bộ đồng phục công sở tương đối cứng nhắc đặt cặp hồ sơ trên bàn, báo cáo:
-      Thưa sếp! tài xế đang đợi sếp. Mọi thứ đã chuẩn bị đâu vào đấy cả rồi. Cô Na xin được nghỉ đi chuyến này, chưa biết ý sếp thế nào? Trông cô ấy không được khỏe.
Lão nhíu mày :
-      Cô Miên! Tôi nhắc cô lần nữa: tôi không thích người khác gọi mình là sếp. Cô không gọi tôi là ông chủ được sao? Học hành như cô mà chỉ riêng mỗi cái việc xưng hô cũng đợi người ta bày biểu!
       Miên sa sầm nhưng không nói gì. Cô tự hiểu cái bằng thạc sĩ của cô chẳng là thứ quái gì trong tay bọn lắm tiền, lắm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà Phi muốn tất cả những kẻ thừa hành đều gọi mình là ông chủ. Đó là cách gã ngầm bảo: dù chúng bay có học hàm, học vị, bằng cấp gì  đi nữa, chúng bay cũng chỉ là tôi tớ của tao (!)
Miên thóang nghĩ đến cô thư ký riêng của Phi: có lẽ nhờ nhạy bén và sớm hiểu tâm lý của những ông chủ thuộc lọai này mà Na nhanh chóng nhập vai của mình linh họat hơn Miên nhiều, Na cũng ít bị rầy la dù cô ta chỉ mới vừa học xong trung cấp.
Thấy Miên mặt nặng như chì ôm cặp quay về, Na nói:
-      Em thấy chị không hợp với môi trường này chút nào. Lẽ ra chị nên chọn nghề giáo hoặc làm một viên chức trong các cơ quan nhà nước. Chị siêng năng và có tài, lại học cao, hiểu rộng. Chị có nhiều cơ hội chọn lựa. Rồi cô thở dài: dù sao ông chủ cũng có vẻ quý chị nhất.
Miên nhếp mép:
-      Tôi thấy rõ là cô phục vụ ông ấy đắc lực hơn tôi nhiều. Có vẻ ông chủ cần cô hơn cần tôi. Chẳng phải vì thế mà bất kỳ lúc nào cô muốn theo ông chủ xuống công trường là được ông ấy đồng ý. Nhiều người hỏi tôi: Na nó làm gì dưới các công trường hả chị Miên. Rõ ràng là cô được phó thác những công việc vô cùng quan trọng mà chẳng ai biết!
-      Em làm những việc gì hả? Chị có muốn biết không em nói cho mà nghe: pha cà phê, châm trà, giặt khăn, ủi quần áo, rót bia, thắt cà vạt cho ông chủ... Những việc đó em làm cũng không đến nỗi và em không nhầm thì trước đây cứ mỗi tháng ông chủ thay một người cho vị trí này.
       Miên nhìn Na lom lom.
-      Chỉ riêng cô là ngồi ở vị trí này lâu hơn những người khác.
-        Ai mà biết chị còn tiến xa đến đâu. Giọng Na cũng đầy mỉa mai.
Biềt rõ Na không dấu sự ghen tỵ trước trình độ chuyên môn và vị trí hiện tại của mình. Miên lấp lửng:
-      Tôi đang làm nghiên cứu sinh, kết quả mỹ mãn sẽ xin chuyển sang một cơ quan chuyên ngành của nhà nước. Tôi vừa đọc thấy thông tin tuyển dụng và còn đến nửa tháng mới hết thời hạn nộp hồ sơ. Tôi thích những công việc nghiên cứu hơn. Thời gian công tác ở đây chỉ là tập sự, học hỏi, tích lũy những kinh nghiệm thực tế, hơn nữa, ai cũng cần có công việc để làm.
          Na đổi giọng cười vui vẻ:
-        Chị Miên ạ! em nói thật chứ lão chủ dù bề ngoài có vẻ mê em, khiến ai cũng tưởng em được lão yêu chiều lắm, nhưng lão rắn như chì. Dù không phải thứ yếu bóng vía nhưng không hiểu sao lão ấy cứ làm em gai gai, sờ sợ?
Miên châm chọc:
-      Lúc lão ôm cô vào lòng, bóc cô như bóc trứng, vùi dập cô trên giường, cô có sợ không?
Na hốt hoảng:
-      Em nói chắc chị không tin. Em được lão cho nhiều tiền nên em cứ giả bộ là bé yêu được lão sủng ái. Chị thấy có kỳ quặc không? Em hay mơ thấy bị lão siết cổ. Em đã thử gửi hồ sơ dự tuyển vài nơi nhưng đều trượt đành bám chặt cái chỗ này. Bây giờ mà mất việc liệu em còn bám được chỗ nào khác. Khối kẻ xếp hàng chờ mình rơi là thế chân. Em học hành được như chị chắc yên tâm hơn,...
Miên ngờ vực:
-      Cô biết chuyện gì đó về lão phải không? Rồi Miên thở dài: đừng biết gì hết thì mới dễ sống!
Na lắc đầu:
-      Em có hay biết gì đâu. Em thấy sợ lão thôi. Không phải kiểu sợ của nai tơ trước dê xồm. Chị cũng biết em là hoa khôi của công ty này. Đi đâu lão cũng đem em theo. Rõ ràng các đối tác của lão đều ghen với lão. Nhưng có bao giờ lão đụng vào em. Hiếm khi em tự ý đặt chân vào phòng riêng của lão, nơi mà lão thường cố thủ trong đó sau những hợp đồng béo bở. Rồi cũng từ đó, lão bước ra, phun vào mọi người những mệnh lệnh.
-      Suỵt – Miên nhắc – em liệu mà giữ mồn. Vào phòng lão em thấy gì mà cứ phải sợ như thế?
Na nhìn Miên cân nhắc có nên nói hết không:
-        Lần đó vào phòng lão em thấy trên tường có treo một tấm ảnh một phụ nữ xinh đẹp được lồng khung. Em như bị nó hút hồn. Đang mải ngắm nhìn thì người trong ảnh như quay đầu đi chỗ khác. Em run lên nhưng vẫn nghĩ là mình hoa mắt. Lát sau em nhìn lại thì bức ảnh bất động, nhưng đôi mắt người phụ nữ tựa như mắt người thật cứ nháy nháy với em,... khi em nói với lão chuyện ấy thì lão hỏi em muốn làm hay muốn nghỉ?
Đây là lần đầu tiên Miên nhìn Na cười:
-      Các cô gái trước đây bị lão cho nghỉ việc vì cứ om sòm chuyện khung ảnh ấy. Lão bảo trong phòng lão không treo bất cứ thứ gì hết. Em thấy có lạ không?
-      Dù sao thì chính em cũng đã tận mắt nhìn. Nhưng có lẽ không nên khăng khăng giữ ý mình thì hơn
-      Chị có biết chuyện rằng lão ấy đã ba lần cưới vợ. Đều là phụ nữ giàu. Bà đầu tiên tiểu thư lá ngọc cành vàng, con gái của một ông trùm tư bản nứt đố đổ vách, nghe đâu mới chung sống với lão được hơn một năm, vì một ám ảnh hãi hùng bà chết, để lại tòan bộ gia sản cho cha con lão. Đứa con trai của họ vì một lý do đặc biệt đã trốn chạy cha nó và hiện đang sống cùng vợ chồng dì ruột nó tận bên Mỹ.
Na không khỏi tò mò:
-      Tại sao nó trốn chạy khỏi cha nó chắc là chị biết?
Miên như cố nhớ một điều gì đấy:
-      Chuyện có vẻ nhảm nhí, khó tin là thằng con đã tận mắt chứng kiến cảnh một mụ Tú bà đến tận nhà sinh sự với ba nó. Mụ la lối rằng trước kia nhờ giỏi gạ gẫm và tráo trở, lão Phi mới cuỗm sạch tiền bạc của mụ và giàu lên, thế rồi lão đi cưới con gái ông Trùm. Lão bỏ mụ trong tình trạng rách như xơ mướp. Mụ phải vơ cào, đắp đổi…
       Na có vẻ ngờ vực:
-      Tú Bà hễ nghe thấy hơi đồng là mê, còn lâu mụ ta mới nhả tiền cho đàn ông.
- Mụ nhầm - Miên cười - đánh đĩ mười phương nên muốn chừa một phương lấy chồng. Mụ có nhan sắc và thủ đọan nên kiếm cũng bộn, sau thấy anh chàng trí thức Phi thông minh, bản lĩnh, táo tợn nhưng đang hồi sa cơ mụ tưởng đầu tư vào anh ta chắc hời. Nào ngờ bị phỗng tay trên,... tan tành giấc mộng thành gái chính chuyên.
Cả hai cùng cười:
-      Với lão ấy thì mọi điều đều có thể!
Miên thẽ thọt:
-      Lần ấy đứa con trai khủng hoảng trước sự thật trần trụi. Nó không biết phải làm gì khi lão sai nó giết mụ Tú Bà. Nó không ngờ ba nó là hạng người như vậy. Thằng nhỏ chỉ còn nước cầu cứu bà dì ruột.
 -          Còn bà vợ thứ hai của lão? Na không dấu nổi sự háo hức muốn biết tất cả mọi chuyện.
-        Bà thứ hai là một người mẫu xinh đẹp – Giọng Miên thong thả.
-        Hi! Na cười. Đàn bà mà vừa giàu vừa xinh thì đúng là một thứ mồi ngon để đàn ông săn đuổi.
-      Nghe đồn cô ả trước kia là nhân tình của một chú Tàu già. Ả kiếm của chú ta và của nhiều ông khác vô khối tiền. Cái biệt thự trên đường đi Di Linh mà lão Phi sở hữu bây giờ là của chú Tàu tặng ả người mẫu. Chú Tàu yêu ả ghê lắm. Ả cũng đã bỏ rớt khối thằng và chỉ cặp kè mỗi mình chú. Ngờ đâu lão Phi mới vừa buông câu là ả đớp, cho chú Tàu ngậm sầu. Lão Phi cưới ả người mẫu thiên hạ những tưởng trai tài gái sắc xứng đôi, ngờ đâu cuộc hôn nhân này cũng chỉ là một trong những phi vụ để lão kiếm chác. Điều đáng nói là vào cái lúc lão Phi cùng ả đang hưởng tuần trăng mật thì có cái gì đó hết sức rùng rợn xảy ra khiến ả phát điên…
-      Không biết có phải cô hai thấy bị lão Phi siết cổ như em từng mơ thấy không?
-    Không đâu! - Miên nhìn quanh xem thử có ai nghe thấy điều cô đang nói không, vì bỗng dưng cô lành lạnh sống lưng như thể có bàn tay cầm tảng nước đá áp lên – Chú Tàu già kể lại rằng vào những lúc tỉnh trí, ả người mẫu sợ hãi kể rằng, một đêm nọ, trong lúc đang hưởng tuần trăng mật trên du thuyền thì cô ấy bị ma ám.
-      Ôi! Khiếp quá - Na ôm chặt lấy Miên – Nếu chị là tình địch của em, chắc chắn em sẽ cho rằng chị bịa ra những chuyện này để em lo sợ mà bỏ đi nơi khác làm và chị tranh thủ tình cảm của lão Phi, may mà chị em chúng ta có cùng một ấn tượng về con người ấy.
-      Chưa hết đâu! Cô người mẫu kể nhưng rất ít người tin rằng: Vào cái ngày hợp hôn, ả gặp một điều kinh dị: lúc ấy đã khuya, trên chiếc du thuyền chỉ có hai vợ chồng, bỗng ả trông thấy có một con đò nhỏ cứ như bềnh bồng trong sương. Ban đầu ả không để ý nhưng về sau nó cứ như xuất hiện để riêng mình ả nhìn nên ả bước lại phía cửa chú mục vào nó. Trong tích tắc, con đò cập sát chiếc du thuyền của đôi uyên ương. Lão Phi đang ngồi trên sập. Trước đó lão uống rượu còn nàng gảy đàn. Thình lình hai cô gái từ trên đò di chuyển lên thuyền (phải gọi là di chuyển vì phần phía dưới cơ thể họ trong suốt, như là họ không có chân). Họ chào ả người mẫu và bảo rằng ả liệu mà tìm cách thóat khỏi kẻ giết người không ghê tay ấy…
Ả người mẫu hoảng lọan vì biết họ là ma. Lạ một điều lão Phi không trông thấy họ. Lão rời chiếu rượu và đi thật khẽ đến phía sau lưng cô vợ. Đó cũng là lúc lão Phi có hành động gì đó như là muốn xô cô vợ mới cưới xuống sông, thế nhưng, hai ma nữ đã phun một thứ lửa ma trơi vào người lão khiến lão bất tỉnh và họ biến mất. Chắc vì quá sợ mà càng lúc ả người mẫu càng gào thét điên dại hơn. Gần sáng tuần tra biển nghe tiếng kêu mới đến cứu. Hôm sau lão Phi tỉnh dậy bảo chỉ uống rượu rồi ngủ. Còn ả người mẫu thì hóa điên, ăn nói lung tung, đúng kẻ loạn trí.
-        Cô hai điên vì trông thấy ma hay là do sợ lão Phi?
-      Không biết. Có điều, những lúc tỉnh táo, ả không chịu quay về với lão Phi mà muốn được chú Tàu già bảo trợ. Tôi nghiệp ông già. Bị ả nhân tình phụ bạc, chỉ đến nước này ả mới cần đến ông và ông mới giữ được ả cho riêng mình.
- Còn lão Phi?
Miên gằn giọng:
-      Lão đòi chú Tàu già trả vợ cho lão, còn phát đơn kiện ra ra tòa. Gia đình ả người mẫu cũng tham gia vụ kiện. Họ chỉ muốn ả về với lão Phi, chuyện con đò ma và hai ma nữ trở thành trò cười với mọi người. Đa số bảo chuyện nhảm nhí. Chú Tàu già thất thế vì không ai nghe lời biện hộ của chú, chú bị cười vào mũi nhưng chú ta yêu ả người mẫu thật lòng. Chú bảo, chú sợ ả chết. Bằng trực giác của một người biết ít nhiều về thuật số, ma thuật chú tin những gì người phụ nữ mà chú yêu nói lại. Chú muốn bảo vệ ả. Cuối cùng, họ đi đến thỏa thuận: Chiều theo ý người điên. Nạn nhân chỉ muốn về sống bên người tình cũ. Nàng để lại cho lão Phi tất cả những gì mà một người chồng có quyền sở hữu từ vợ. Đến lúc này lão Phi mới thôi, không kiện cáo ầm ĩ. Tóm lại là mặt mo thắng thế.
-      Ngu quá! Mất đứt cái biệt thự cho một thằng lưu manh.
-      Chú Tàu già cũng khá giả nên không lấy thế làm điều. Hoặc cũng có thể họ chấp nhận chịu thiệt một chút để được yên ổn. Xưa kia vụ này om sòm lắm, mấy tờ báo lá cải giật tít rất giật gân, đi đâu cũng nghe nói đến người đẹp gặp ma mất biệt thự. Thế rồi dần dần thiên hạ cũng quên. Mà không quên cũng làm gì được lão. Các bà cứ lao vào lão như điên, nhất là sau đó vài năm, lão cưới bà vợ thứ ba,.. bà này lớn tuổi hơn lão lại là Giám đốc một công ty xuất nhập khẩu, Chủ tịch ngân hàng thương mại tư nhân do một nhóm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thành lập. Đây đích thực là một thứ đàn bà thép. Các ông vẫn kháo nhau: không biết thằng máu lạnh ngủ với con đầm thép thì thế nào.
Na xì một hơi thật dài:
-      Em là chỗ bà con với bà ấy nhưng em không bằng con ở nhà bà. Chỉ khi về làm ở đây mấy tháng em mới biết bà là vợ lão Phi. Có người bảo em may mắn vì bà không biết ghen. Lạy trời! Em chỉ mong được yên thân. Ba mẹ em đều là nhà giáo về hưu, gia cảnh em khá buồn. Em phải có một công việc ăn lương. Các cụ rất hãnh diện về chỗ làm này của em, bỏ đây đi bán cà phê chắc các cụ sẽ cho rằng em bôi tro trát trấu vào mặt các cụ. Nhưng bằng cấp như chị có lúc tìm việc còn lao đao. Em chỉ trông vào ngọai hình chứ cái chứng chỉ trung cấp như giấy vụn.
-      Khi mới vào đây làm, chị nghe ối chuyện về lão Phi. Chị chột dạ, muốn thôi việc gấp. Bạn trai chị bảo: đi đâu cũng vậy thôi. Những lúc chị muốn nhảy chỗ này, chỗ khác thường bị anh ấy gạt phắt, cứ theo cách lập luận của anh thì trong thế giới này có cạnh tranh mới sinh tồn, mà đã cạnh tranh thì tránh sao được cái cảnh cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, ăn không được thì đạp đổ. Còn nguyên tắc nữa là cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng, trung thành với cấp trên. Chuyện ma quỷ thì anh ấy không tin.
Na thừ người:
-        Vẫn biết nó vô lý thật chị ạ! Nhưng có cái gì đó xung quanh con người lão Phi cứ khiến em liên tưởng đến những thế lực ở cõi âm: hắc ám, ma quái, quỷ mị. Dù rằng có thể phía người chết cũng đối kháng với lão ấy. Chẳng lẽ đến ma quỷ cũng sợ lão nên chỉ phải nhắc nhở người sống chúng ta đề phòng lão. Cái ấn tượng dễ sợ nhất mà lão để lại trong em là: con người này đã từng giết người.
-        Chị cũng có ấn tượng như em và một vài người khác cũng vậy. Nghe kể rằng trước 30/04/1975, lão từng là sinh viên giỏi nhất ở một trường Đại học. Rồi một anh bạn nối khố trọ cùng nhà với lão bị đâm chết, có một cảnh sát đưa ra nghi vấn lão giết bạn. Hiện trường án mạng lại cho thấy đó là một vụ giết người của một băng cướp.
-      Thôi chị Miên – Na ngáp – Chuyện lão Phi phức tạp quá! Càng nghe em càng thấy mình như dòm vào một mớ bòng bong. Em chỉ muốn sống nổi với chính đồng tiền do mình kiếm được một cách chân chính. Lẽ nào cái công ty xây dựng AD này mà lão trong cương vị Chủ tịch hội đồng quản trị cũng là công ty ma. Chúng ta ăn lương của lão và làm việc trong khả năng của mình. Vậy thì chẳng nên nói gì sau lưng ông chủ. Đúng không chị?
-      Chị không nghĩ như em! Giọng Miên thân mật –  lão ấy hơn người ở nhiều phương diện nên qua mặt người đời và ngồi xổm trên đầu thiên hạ. Cái công ty này chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. 
.

Hơn ba mươi năm mới trở lại quê nhà. Mọi vật đều đổi thay như thể đây là một xứ sở khác không phải nơi chôn nhau cắt rốn của Phi. Gã nhìn làng quê với ánh mắt dửng dưng. Thật ra, Phi chưa bao giờ có tâm trạng của một thằng người thiếu quê hương. Thỉnh thỏang, có đối tác vui miệng kể chuyện về quê xây nhà thờ tộc, xây mộ, đóng góp xây đình, chùa,... gã thấy thật tội nghiệp, họ chẳng khác những đứa trẻ con sung sướng làm việc tốt.
Khi Phi giới thiệu với mọi người xứ này là quê cha đất tổ của gã, rằng gã có mối tình đầu đầy thơ mộng với một thôn nữ dễ thương, ai nghe cũng ồ lên kinh ngạc, đã có kẻ nịnh với gã rằng, cứ tưởng gã chịu đầu tư vào cái cầu ở chốn nước mặn, đồng chua là vì không ai kham nổi. Phi cười trừ. Đằng nào gã cũng quá quen thói xu phụ.
Cuối cùng rồi Phi cũng phát hiện đằng sau bộ mặt của khu trung tâm xã được xây dựng khang khang, các con đường bê tông hóa thì ngược lại, về phía làng xóm, thôn sâu, cảnh vật điêu tàn hơn xưa.
Gã bắt đầu nghe bồn chồn trong dạ vì chính những vườn hoang, những gò đống, những cồn mả được di dời vội vã cứ lở toang hoác ra kia có gì như hù dọa, ám ảnh gã và đâu chỉ có thế: trên những tòa tháp lẻ loi cô độc, gã có cảm tưởng như những bóng người lượn qua lượn lại và trong một khoảnh khắc, dưới ráng chiều bỗng đỏ lên nhức nhối, gã thấy có gì tựa như một con đò cứ trôi vô định nhưng không phải trên dòng sông mà chính trên một dải mây bay thật thấp. Con đò gã đã nhiều lần nghe nhắc đến và không ít lời đồn đại nó đối kháng với gã.
Gã muốn tìm một thứ gì đó nhưng không tài nào xác định được mình tìm gì. Cái kho báu của gia đình bị chôn trong lòng đất mãi mãi là một mất mát mà dù gã có thu về gấp hàng trăm lần chỗ tài sản ấy thì gã vẫn thấy như chưa bù lại được  những thứ đã mất.
Cuối cùng, gã quay lại khu vườn ngày cũ, gã nhớ như in những hố bom nối tiếp nhau trải dài thành dãy ao nước sâu hoắm, hài cốt cha mẹ gã vùi đâu đó dưới một trong những đáy ao. Chưa một lần gã hương khói cha mẹ. Bây giờ, nơi mà trước kia là vườn nhà gã đã bị san phẳng. Một cái chợ sầm uất người mua kẻ bán tấp nập mọc lên. Chẳng còn dấu vết nào của ngôi làng xưa, kể cả ngôi nhà của ông địa chủ với những rẫy vườn rộng mênh mông, những láng giềng tốt bụng và đa nghi, những cô thôn nữ trẻ đẹp.
Gã đi ra bến sông, chỉ có dòng nước trên sông là không bị thời gian làm cho biến đổi. Bất ngờ với gã là quang cảnh khu nghĩa địa còn hoang tàn hơn ngày gã còn nhỏ. Gã nhìn những bình vôi, ông táo, những mẻ sành vứt bừa bãi trên các nấm mộ. Đột nhiên gã hỏi: người dưới mộ sống vào thời nào? Lẽ nào rồi ta cũng yên nghỉ dưới một mô đất lẻ loi như thế? Chợt gã cười gằn: không thể thế được! Ta còn cả quãng đời phía trước. Gã dần trấn tĩnh vì cái viễn cảnh hưởng thụ giàu sang làm gã tự hài lòng.
Ánh nắng tắt dần trên sông: lúc này trời cũng đã chạng vạng. Những bãi cồn lau lách trải dài dưới bóng tối nhá nhem trông càng ảm đạm thê lương. Có một động lực vô hình cứ đẫy gã về phía trước. Gã thấy chống chếnh. Gã cứ đi một thôi và sực tỉnh. Nhanh chóng, gã xác định được chỗ ngày xưa là rặng dừa nước nơi gã giết tình địch và dấu xác,... nhưng rồi nhanh chóng người trong làng đã tìm thấy anh ta.
Có quạ tru một hồi dài. Điềm gở: quạ kêu ma giấu, cú kêu ma ăn. Thuở còn sống, mẹ gã thường rụng rời chân tay mỗi lần nghe tiếng quạ kêu. Mà điều ấy không phải vô duyên cớ. Người trong họ mạc cứ chết lần hồi sau điềm quạ báo. Trong đời gã nghe đủ mọi âm thanh: tiếng đại bác, tiếng bom rơi, tiếng mìn nổ long trời lở đất, nhưng duy nhất tiếng quạ lúc này tựa như tiếng còi báo tử cho riêng gã.
Có gì đó trong không gian vọng lại như làn hơi thoát ra từ lồng ngực một người. Chẳng lẽ có hồn ma quanh đây thở dài. Bất chợt gã thấy ớn lạnh. Gã rất không muốn tin oan hồn kẻ xấu số bị gã gia hại tìm về báo óan,...
-      Ông chủ ở đây mà em đi tìm mãi. Điện thọai không người bắt máy em lại càng lo lắng hơn. Kiến trúc sư muốn gặp ông!
Gã nhìn cô thư ký xinh đẹp và ngầm so sánh cô với người vợ đầu tiên bị gã từ hôn. Cô gái ấy còn dễ thương hơn Na nhiều. Cô ta cũng đã thành người thiên cổ. Gã cười khẩy: người đàn bà nào dấn sâu vào đời gã cũng chịu một số phận bi đát trừ mụ đầm thép hiện tại.
          Chẳng rõ vì cơn cớ gì mà gã thấy Na rúm ró lại:
-        Kiến trúc sư là cái thá gì! Sao cô không cho hắn biết bây giờ không phải là lúc ông chủ làm việc với cấp dưới. Gã tức giận.
Na thảng thốt:
-      Dạ! Anh ấy muốn thay đổi vị trí xây cầu nên cần trao đổi với ông chủ gấp. Như anh ấy nói thì qua khảo sát lòng sông, anh ấy thấy vị trí cũ tuy hai bờ có hẹp thật nhưng đáy sông ở đó khá sâu. Đó cũng là chỗ thường có nước xoáy và rất nhiều người bị chết đuối đoạn đó. Đặc biệt có hai cô lái đò,... dân quanh vùng kể rất nhiều chuyện hiển linh của họ. Cánh công nhân muốn bỏ về vì quá sợ xui xẻo, ở đây lắm chuyện ma nước hại người. Ông chủ người đất này chắc biết chuyện thật có hay không? Có một ngôi miễu thờ hai cô lái đò phía bên kia xóm, người làng muốn giữ nguyên sự u tịch cho xóm miếu. Cầu bắt qua chỗ đó thì thế nào cũng phá vỡ sự trang nghiêm ngôi miếu linh.
-      Tôi biết xóay nước đó và còn biết khối ghe thuyền bị lật. Xưa kia chúng tôi thường bảo chỗ đó có noi. Đã lật ghe ở đó có đường chết. Cô biết vì sao làng chỉ xây miếu thờ mỗi hai người đàn bà không?
-      Theo họ kể thì hai cô lái đò làm việc nghĩa chết được phong thần!
-        Làm việc nghĩa là làm gì? Gã hỏi đầy xách mé.
-      Dạ, nghe đâu hai cô đã ra sức chèo đò, cứu người trong cơn lũ lụt. Họ cứu hơn trăm người nhưng chính họ bị nước lũ cuốn đi.
       Phi giễu cợt cô thư ký:
-      Hồi nhỏ tôi còn nghe kể thế này: Có một tốp thanh niên phía thôn làng bên kia sông đêm đêm vẫn chèo ghe sang tán tỉnh các cô gái bên này sông. Họ thường hẹn nhau cùng về đúng giờ giấc vì cả hội chỉ có một chiếc ghe. Đêm nọ có một chàng say men tình nên cứ nấn ná mãi với người yêu, chàng không hề thấy thời gian trôi. Báo hại, đồng hồ chàng trai lại chạy sai nên đã một giờ đêm mà cậu ta tưởng chưa đến 23 giờ. Khi bị người yêu giục ra về cu cậu mới dằn dỗi bước thấp bước cao ra sông.
Cu cậu đảo mắt tìm vẫn không thấy bạn bè đâu, hú gọi mãi cũng không thấy ai nhưng hình như có một con đò bồng bềnh sát bờ. Cu cậu nhảy vào lòng đò. Lúc này cu cậu mới hốt hoảng vì phía đầu mũi ghe không hiểu từ bao giờ có một phụ nữ mặc bộ đồ trắng toát tóc xõa kín mui đang khua chèo nhè nhẹ. Quay lại đằng lái thì có thêm một cô gái khác, tóc cô ta không dài như cô kia nhưng người cứ lơ lửng,..
-      Ôi! Khiếp quá.
-      Giả sử bây giờ cô bị giết ở đây. Tôi cứ bảo rằng cô bị ma hớp hồn, liệu người ta có tin tôi không?
Mặt Na xanh lét không còn hột máu:
-      Lạy ông chủ! Đừng đùa ác thế!

Đây không phải lần đầu kéo dài đến hàng tuấn lễ Phi ở lại nơi nhà khách ủy ban xã sở tại, nơi công ty của gã đang tiến hành thi công xây dựng các công trình giao thông. Các nhân vật có máu mặt trong xã tỏ vẻ nể nang, kính trọng y ra mặt. Mà không kính trọng sao được, cũng là người xứ này mà gã thành đạt đến thế. Gã cao hứng:
-      Ba mẹ tôi mất, đau khổ quá tôi đi biệt xứ luôn. Cưới vợ quê người, con đầu lòng hiện đang du học bên Mỹ. Nhanh thật, mới đó mà đã hơn ba mươi năm. Người thân kẻ thích đều ra ma cả.
-      Anh đã hơn năm mươi mà trông anh phong độ hơn trai làng đương độ ba mươi – Một thanh niên khác tâng bốc – Phi biết họ nói vậy vì bữa nhậu này họ chẳng mất đồng nào.
     Phi hào phóng gọi rượi và thức nhắm tùm lum. Một ông sồn sồn không rõ giữ chức vụ gì ở xã lèm bèm:
-    Cô thư ký riêng của anh Phi sao mà đẹp quá vậy. Tìm khắp cả nước Việt Nam chắc không được người thứ hai.
       Phi chưng hửng. Gã không say mê Na, nhất là gần đây, vẻ sợ sệt của Na khiến gã tính chuyện sa thải cô và tuyển một phụ nữ khác gan góc hơn. Mẫu phụ nữ mạnh bạo mới hợp với gã.
Phi như thấy văng văng đâu đây tiếng kêu cứu thất thanh của Na nơi căn phòng nhỏ:
-    Cứu! cứu tôi với.
       Bất chấp tiếng đập cửa, thậm chí cả tiếng búa phá cửa, Na vẫn ú ớ kêu cứu. Phải mất mười phút sau, cửa sổ bị phá hỏng, gã và ba thanh niên khác vào được trong phòng mới thấy Na thoi thóp. Điều khiến gã khó chịu nhất là các nhân viên dưới quyền cứ nhìn gã với ánh mắt vô cùng bí hiểm. Theo cách hiểu của gã thì họ ngầm chê trách hơn là nghi ngờ. Lẽ ra Na phải ngủ ở phòng gã, tại sao gã để cô ngủ riêng.
Chẳng mấy chốc cái tin cô thư ký riêng của ông Chủ tịch hội đồng quản trị công ty xây dựng AD bị ma ám kêu la ầm ĩ trong đêm lan khắp làng xã, thế là đi đâu cũng nghe người ta kể chuyện ma.
Na xin nghỉ phép một tuần nhưng lão xé đơn. Cứ mỗi lần chợt mắt, cô như thấy đâu đó hai bàn tay đen đũi, xấu xí, nhọn hoắt của một bà già đòi xiết cổ cô. Quái lạ là bà ta xưng là mẹ của Phi. Rồi thì những hình ảnh khác trông như cú mèo chao lượn, nanh vuốt, cắn xé chí chóe. Chúng nghịch ngợm và trong lúc cô ngủ, chúng cứ nâng cái giường cô đang nằm lên cao, cao mãi,... Nhiều đêm Na phải uống cà phê và ngồi đọc báo đến sáng trắng.
Tiếng lão Phi vẫn lạnh băng đâu đó:
-      Đàn bà các cô là chúa dị đoan, thần hồn át thần tính. Ai chỉ cho tôi một con ma, tôi tặng người đó toàn bộ cơ nghiệp.
Công việc vận hành khá trơn tru, cái chuyện làng này có ma dần biến thành chuyện khôi hài và Phi không cấm cấp dưới đem ma quỷ ra tếu táo đùa vui.
Thật ra, bề ngòai Phi tỏ vẻ cứng cỏi thế thôi chứ bên trong gã như một mớ bùng nhùng. Từ lúc về quê không đêm nào gã ngủ yên giấc. Gã thường mơ thấy những điều kỳ quặc, cứ chợt mắt là có kẻ đến lôi gã đi. Thường sau những đêm như thế, Phi phải uống thuốc an thần và gã chỉ muốn bỏ quách cái công trình này mặc mọi sự ra sao thì ra.
Lão tức giận với Na:
-      Tôi biết rõ là cô cũng chẳng có việc gì để phải ở lại nơi đây. Sáng mai tôi lệnh tài xế đưa cô về. Tôi thấy cô không được khỏe.
       Rồi Phi bỗng than thở, đó là một điều chưa bao giờ Na ngờ tới:
-      Tôi sa lầy nơi công trình này. Cánh công nhân người Bắc làm việc tốt. Họ bảo vì cô còn ở đây nên họ mới chịu khó nổ lực làm việc. Cô mà bỏ về thì bọn họ sẽ đào nhiệm. Cô không biết là mình được mọi người yêu mến à!
Na lắc đầu:
-    Ông chủ ạ! Khắp các lán trại lan truyền nhiều chuyện ghê rợn. Một thợ cả kể: mấy đêm nay anh em họ không đêm nào là không thấy ma. Cả tổ anh Long ai cũng hoảng lọan. Anh ấy bảo: chúng tôi sẵn sàng chịu bị phạt trừ mười phần trăm tiền lương và xin ông chủ rộng lòng giải quyết.
Phi chau mặt:
-      Tôi thật không hiểu nổi, họ bị ma dọa kiểu gì?
       Dường như chứng minh cho Phi thấy những gì gã nói ra thật là cuồng ngạo. Ngay lập tức, điện đột ngột bị cúp. Trong lúc Na loay hoay soi căn phòng bằng đèn pin từ chiếc điện thọai di động của mình, Phi thì hét gọi một nhân viên khác tìm mua vài chục cây nến thì bất thình lình, một cái gì như một luồng gió lạnh buốt thổi tạt vào phòng, kèm theo một điệu hát não nùng, thê thảm và rùng rợn khiến Phi sởn tóc gáy:
-      Ai?
Gã hy vọng đó là một trong những trò đùa quái gở mà đám công nhân nghĩ ra để hù dọa mình.
-      Tư Tầm đây! Tư Tầm từng bị mi sát hại hơn ba mươi năm trước đây. Tao phải chờ hơn ba mươi năm năm mới bắt mi trả nợ. Mi chỉ còn đêm nay nữa thôi.
-      Cô Na đâu rồi? Cô còn đấy không? Cô bảo anh em trong đơn vị đừng đùa giỡn quái đản thế.
Một đóm lửa bùng lên, lập lòe, kỳ dị lượn tới, lượn lui rồi bay thẳng vào Phi như muốn đốt gã ra tro. Phi rú lên một tiếng. Thình lình, đèn bật sáng, Na hốt hỏang chạy đến đỡ Phi:
-      Ông chủ, ông sao thế!
  Phi nhớn nhác:
-        Hắn đâu rồi.
-        Ông hỏi ai?
-      Tư Tầm. Cái thằng ngày xưa,...
Gã bỗng im bặt.
Na nhìn Phi với ánh mắt kỳ dị:
-      Phải chăng ông chủ cũng thấy ma! Mấy đêm trước anh em trong đơn vị đang ngủ say thì có ai đó xưng là Tư Tầm vào tận chỗ từng người hỏi xin nước. Giọng đó lạnh lẽo thê lương. Anh em tìm hỏi khắp đơn vị và nhà dân quanh đây nhưng không có ai tên là Tư Tầm.     Phi đã tỏ ra bình tĩnh:
-      Tôi có anh bạn tên là Tư Tầm. Anh ta chết đã hơn 30 năm. Tôi còn biết rõ người giết anh ra.
       Na không nói gì. Rõ ràng cô thấy cái gì đó lơ lửng phía đằng sau lưng Phi. Lúc đầu cô nghĩ đó là một cái bóng của ai đó bị ánh đèn chiếu hắt vào phòng rồi in lên tường, nhưng chỉ vài giây sau thì cô nhận ra đó là một khuôn mặt đàn ông. Cô chạy nhanh ra khỏi phòng nhưng vẫn kịp biết ở đó không chỉ một mà có đến hai khuôn mặt xuất hiện. Họ có một cái nhìn đầy sầu muộn và câm lặng:
Phi nghe một giọng nói lạnh lẽo truyền sâu vào tai:
-      Hai Hội đây. Chắc là mi chưa quên Hai Hội này. Âm dương cách trở nghìn trùng nhưng nợ có vay, có trả.
       Phi quay phắt về phía giọng nói nhưng chẳng thấy gì. Đó cũng là lúc hai khuôn mặt đàn bà từ một nơi nào đó trong bóng tối nhô ra.
 

       Có gì như tiếng nước chảy róc rách. Phi có cảm tưởng như nước cứ chảy tràn ra, dậng cao mãi, cao mãi thành một biển nước mênh mông, ngập người, rồi từ đâu không rõ, một đôi trai gái đứng chắn phía cánh cửa nhìn Phi đăm đăm nhưng không nói năng gì.
  Mặt mày phi lúc này trắng bệch tựa xác ma. Phi đông cứng người lại trong một nỗi khiếp sợ hãi hùng. Dường như có một cái lồng kính khổng lồ chụp xuống, nhốt kín Phi.
Khi mọi người phát hiện ra Phi cứng lạnh trên một chiếc ghe neo bên bờ sông họ không khỏi hoảng loạn. Nhiều người khăng khăng trước đó họ đã sục sạo khắp mọi xó xỉnh, ngóc ngách trong thôn làng. Có người còn bảo đã dùng chiếc ghe ấy bơi dọc bờ sông để tìm Phi. Việc Phi đột ngột bị mất tích trong ba ngày để rồi sau đó, xác Phi nằm trên chiếc ghe cũ dạt vào bờ là hiện tượng chưa từng thấy.
Na nhớ rằng đêm ấy khỏang mười một giờ khuya, cô từ phòng Phi chuẩn bị về phòng riêng ngủ, nhưng chưa kịp về cô đã thấy ma và chạy tháo thân. Thường thì vào giờ đó ở thành phố, Na và đám bạn vẫn còn thức đánh bài, xem truyền hình, dạo phố ăn khuya chuyện ngẫu. Sống giữa thành phố thì chẳng đời nào người ta tin ma quỷ trà trộn được vào cuộc sống của mình.
Cùng lúc ấy bà vợ của Phi đã linh cảm được cái chết của chống trước bất kỳ ai. Bà không dấu diếm với mọi người rằng đêm trước tại Sài Gòn, bà vì công việc quá nhiều đã phải thức đến khuya giải quyết. Sau đó mệt quá bà gục xuống bàn và thiếp đi lúc nào không hay.
Bà không biết mình ngủ như thế trong bao lâu thì thình lình, từ phía cửa sổ, một cái gì tựa như con đò trôi lơ lửng vào phòng làm việc của bà. Một trong hai cô gái ngồi trên đò báo cho bà biết rằng chồng bà đã chết. Sau đó con đò từ từ tan biến như thể nó chưa từng hiện ra trước mắt bà.
Hôm sau bà thức dậy trong trạng thái rã rời và đầu óc nhức như búa bổ. Nhớ lại những gì nghe thấy đêm qua, bà gọi vào di động chồng nhưng không có tín hiệu trả lời. Bà vội vã gọi đến nhiều người thuộc ban lãnh đạo công ty. Bà nhận được câu trả lời của phó giám đốc cho biết chồng bà đi đâu không một ai hay biết.
Lo sợ, bà vội lên xe xuống thẳng công trình.
Lần đó cái tin ông chủ Phi mất tích loan nhanh khắp làng xã. Ban chỉ huy công trình và chính quyền địa phương kịp thời triển khai kế họach tìm kiếm Phi khắp nơi. Đích thân bà vợ của Phi thuê người và thợ lặn tìm kiếm chồng.
Rồi thình lình xác Phi dưới sông nổi lên và dạt vào bờ. Vợ gã vội vã đưa thi hài gã về Sài Gòn hỏa táng.                                                                                            LTT

          CHUYỆN ÔNG DÀI, ÔNG CỤT
      
          Đó là những ngày tháng mười vần vũ, suốt dải đất liền từ Bắc chí Nam trời mưa như trút nước xuống khắp làng mạc, phố phường. Hoàng có cảm tưởng sắp xảy ra đại hồng thủy. Thằng bạn người Hà Nội thấy Hoàng thu xếp về quê giữa lúc mưa to gió lớn bèn mắng anh xối xả:
       Có họa điên khùng hoặc muốn tự sát nên mới tính chuyện nhảy tàu chợ về quê trong mưa bão thế này. Sống cạnh nhau bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn không quen được cái tính gàn bướng ở ông.
          Hoàng không muốn cãi lại hắn vì điều hắn nói quá đúng. Anh chỉ nhìn xuống đất thở dài. Biết khó lay chuyển Hoàng, hắn miệt thị:
       Mày có phải là thằng người có trách nhiệm đâu sao lần này mày bỗng yêu vợ đột xuất thế. Không mợ chợ cũng đông. Chẳng ai cần đến mày đâu. Lúc này mày có mặt tại nhà cũng chưa chắc giúp được gì cho nàng. Chưa nói, mày mà về rủi ro bề nào nàng còn phải hệ luy, thương đau. Đường trường hiểm trở, phương tiện giao thông lạc hậu, hôm qua có một đòan tàu bị trật bánh trên đường ray, cũng may đó chỉ là tàu chở hàng. Tàu khách chắc có nhiều người chết. Đường quốc lộ thì nước chảy xói lở nham nhở. Ô tô bị ngập lũ rất dễ kẹt cùng lúc cả đòan, thậm chí bị lật,...đừng về là hơn.
          Hoàng hiểu thằng bạn vì sự an ổn của anh mà tìm đủ lý do cản trở anh về nhà lúc này, tuy nhiên, từ đêm qua đến giờ, người Hoàng cứ nóng bừng bừng như thể có một ngọn lửa vô hình thiêu đốt anh. Hễ nghĩ đến cảnh cô vợ yếu ớt phải đơn độc vượt cạn là anh lại lo âu. Đợt về thăm nhà gần đây nhất, vì xích mích với mẹ mà Hoàng phải thuê một phòng riêng cho vợ ở. Bây giờ nàng sinh nở, một thân một mình biết phải làm sao.
          Chưa bao giờ Hoàng thấm thía cái nghèo của một gã nhà văn như lúc này. Anh vẫn làm việc không lương lộc và chẳng biết bao giờ mới kiếm đủ tiền đưa vợ ra Hà Nội sống chung với mình.
          Mẹ anh có lần chì chiết:
-        Tao mà ở địa vị con vợ mày thì tao bỏ quách mày từ lâu. Trong tộc họ này không ai theo nghề văn chương, nhờ đó mà cũng chưa có ai nghèo ho ra máu, chỉ có mày.
          Hoàng thở dài. Anh biết mẹ đã tuyệt vọng về anh. Giá mà có tiền anh đã thuê người chăm sóc vợ từ trước. Mẹ anh thì vẫn giữ thái độ sống chết mặc bay. Bà không ghét gì con dâu nhưng bà hết chịu nổi đứa con trai: cao ngạo, ngông cuồng, bất cần. Bà không hiểu tại sao con dâu bà mê nó đến mức ấy? Trong mắt bà nàng rõ là đứa con gái trời đày: Cung cách ấy, nhan sắc ấy nếu mà được làm vợ người khác thì hẳn sung sướng và êm ấm. Đáng lẽ theo cha xuất cảnh thì nàng cứ khăng khăng một mực đòi ở lại chỉ vì muốn kết tóc se duyên với một văn sĩ quèn.
          Mẹ Hoàng tự biết mình đâu phải là lọai bà già chỉ biết lo chuyện cơm áo gạo tiền. Cả đàn con gần chục đứa một tay bà buôn bán nuôi nấng. Cũng may chúng nó tuy không hơn đời hơn người nhưng cũng biết cách bươn chãi mưu sinh. Chỉ riêng có Hoàng là đứa thông minh xuất chúng nhất, nhưng cuối cùng anh lại phơi bày tình trạng thê thảm nhất. 
          Hoàng ngồi bó gối trong góc phòng điện thọai cho mẹ. Anh muốn xin lỗi bà và nhờ bà chăm sóc vợ anh. Thế nhưng nghe tiếng anh trong máy bà chỉ im lặng. Sốt ruột Hoàng tắt điện thọai và xách túi nhảy đại lên tàu. Thằng bạn đồng nghiệp chỉ kịp thảng thốt:
       Cầu trời cho mày bình yên vô sự. Cứ nghĩ đến cái cảnh con E1 đứt làm đôi và lật ngửa, đòan người cứ thế tan tác từng mảnh, vỡ vụn ra, đầu tàu vẫn cứ lao về phía trước. Tao hãi hùng.
          Suốt đêm Hoàng mất ngủ vì phải nghe đủ mọi âm thanh: tiếng bánh tàu ken két nghiến vào đường ray, tiếng còi hụ, tiếng rền rĩ của những đợt cuồng phong, tiếng loa phóng thanh oang oang mỗi khi tàu vào một sân ga nào đó. Tàu cứ xình xịch chốc lát rồi đỗ lại từng ga lẻ nên Hoàng có cảm tưởng mình ngồi trên một con ốc sên khổng lồ và nó đang chạy thi với thỏ. Anh vừa sốt ruột, vừa ân hận vừa thấy tòan bộ kiếp sống của mình là một sự phi lý đến lố bịch. Phải một ngày sau anh mới thấy thằng bạn có lý: lẽ ra anh không nên về. Khi tàu đỗ ở ga xép huyện nhà và anh rời tàu thì trời đã nhá nhem.
          Trong đêm mịt mùng chỉ có mỗi mình Hoàng trên sân ga dưới mưa trời tầm tã. Vài ba ngôi nhà nhỏ rải rác trong xóm vắng đã hoàn toàn chìm khuất giữa màu mưa. Cái lạnh thấu xương không đáng sợ bằng vẻ u ám của xóm núi trong bão đêm. Phóng tầm mắt nhìn bao quát cảnh vật, Hoàng chỉ thấy le lói vài ngọn đèn bão trong màn mưa dày đặc trông chẳng khác gì ma trơi.
          Hoàng rủa thầm. Điện đón tắt ngấm, đêm núi rừng nhuốm sắc hoang liêu. Anh đóan có lẽ bão lớn quá nên đường dây điện bị đứt. Dãy nhà ga mất điện cửa đóng im lìm như nhà vô chủ. Hoàng thử gõ cửa vài phòng nhưng chẳng phòng nào có động tĩnh bên trong. Mãi khi ánh chớp nháy lên anh mới thấy những cái ổ khóa to sụ siết chặt các khoen cửa.
          Hoàng gọi di động cho người nhà không thấy ai bắt máy. Chẳng lẽ lội bộ hơn hai chục ki lô mét trong cái cảnh nước ngập quá bụng. Dù sao thì trước sự thể đã rồi: thằng đàn ông hơn 30 tuổi, vào cái thuở điện thọai di động thịnh hành, trong cảnh nguy nan vẫn không thể gọi ai đến cứu giúp được.
          Lúc này Hoàng mới tủi thân: thì ra không phải vì trách nhiệm với cô vợ trẻ mà Hoàng rơi vào cảnh ngộ này. Anh nghiệm thấy bao nhiêu năm trong đời làm kiếp con người, từng đường đi nước bước của anh cứ như bị ma đưa lối quỷ dẫn đường. Lần này cũng thế, một sức mạnh mù quáng và bí ẩn đã lôi anh từ Hà Nội về đây. Chẳng mấy khi anh làm gì mà có được một kết quả tốt đẹp. Bây giờ anh hòan tòan bất lực và khó mà cứu vãn được mình. Vợ anh ra sao thì cũng đành mặc kệ nàng.
          Hà Nội giờ này cũng ngập trong mưa. Trước đó Hoàng nhận được thư thọai của cô em gái thông báo rằng vợ anh đang chuyển dạ. Miệng lưỡi cô em cứ líu lo làm anh cũng rối trí. Đây là đứa con đầu lòng của Hoàng. Anh chỉ còn biết chạy tới, chạy lui vay được vài triệu.
          Không ai hiểu nổi sự liều lĩnh của Hoàng, bảo Hoàng nóng lòng nhìn mặt đứa con so càng không đúng. Anh ta có vẻ không ưa trẻ con, lại có xu hướng chạy trốn cuộc sống gia đình. Đám bạn thân ai còn lạ con người Hoàng: anh cũng nhiễm cái thói thường văn mình, vợ người của bọn văn nghệ sĩ nói chung.        Xưa nay, chỉ cô vợ trẻ đẹp là vẫn quan tâm, chăm chút từng ly từng tý Hoàng. Nàng đích thực là vật hy sinh cho thứ tình yêu mà chính nàng tự tưởng, vẽ vời huyễn hoặc mình. Còn anh, một nhà văn, nhà thơ nửa mùa. Anh sáng tác cũng không ít. Đọc sách anh thấy cũng không đến nỗi nào. Riêng lối sống quá chướng của anh thì ai cũng phải ngán ngẩm. Anh cứ khiến mọi người phải ngạc nhiên vì cuối cùng rồi anh cũng lấy vợ.
          Nhưng thôi, tạm dừng cái chuyện vợ con của Hoàng lại, mặc dù cái việc anh lặn lội về với vợ đã thể hiện hành động tốt đẹp duy nhất của anh, nhưng anh có làm được gì cho vợ con không thì đó là những chuyện của những ngày sau. Còn đêm nay là đêm kinh Hoàng nhất trong đời Hoàng.
 
          Nơi hoang vu này xưa kia là một khu rừng âm u, vắng bóng con người. Hẻm núi xó rừng là chỗ của ma rừng quỷ núi. Tương truyền rằng chỉ khỏang chục năm trở lại đây, cứ vừa chập tối là ma đốt đuốc nhảy múa. Giữa ban ngày ban mặt mà ma rừng còn xuống tận xóm bắt trẻ con về dấu trong hốc đá. Từ ngày ga xép được xây dựng, cảnh vật có bớt quạnh hiu hơn. Nhưng đó là vào những ngày thường. Đêm nay, cả một miền đất bao la như đang lọt vào trung tâm cơn thịnh nộ của đất trời.
          Không còn chọn lựa nào khác Hoàng cứ xông bừa vào mưa mà đi. Di chuyển giữa bốn bề mưa, gió, nước ngập lênh láng được chừng vài ki lô mét, Hoàng mới nhận ra mình đang xuôi về phía sườn đồi bao bọc thung lũng mé tây. Bức tường nham nhở, lở lói của tòa thành cổ dưới ánh chớp liên tục trông như một hình thù ma quái dị dạng. Trong màn đêm thăm thẳm, thoảng hoặc, có tiếng gì như tiếng người gọi nhau, nhưng dù có căng cả người ra Hoàng cũng chẳng làm sao xác định được vị trí của con đường dẫn ra huyện lỵ.
          Bỗng nhiên Hoàng nhớ một dã thọai mà thuở còn bé anh nghe người lớn kể lại và thời sinh viên anh ghi chép rồi đưa vào bộ sưu tầm văn học dân gian địa phương:
          Chuyện rằng:
..... Ngay tại vùng bán sơn địa này vào thuở xa xưa có một đôi vợ chồng tiều phu chung sống với nhau đã nhiều năm nhưng không có con, mơ ước có một đứa con để vui cảnh già thiêu đốt tâm can họ. Họ thường hay cầu khẩn thần linh phù hộ độ trì để sớm có một mụn con.
          Ngày nọ, bà vợ đi hái nấm và lạc vào rừng, trong rừng có một ngôi miếu hoang đổ nát, tượng thờ vị thần bị vỡ nát nên không thể nhận dạng. Gặp lúc trời mưa bà vào miếu trú thân. Nhân tiện, bà chắp tay khẩn cầu thần miếu trợ duyên để bà có một đứa con. Bà đinh ninh đây là miếu thờ thần núi. Thật ra miếu thờ thần núi cách chỗ ấy khá xa, chân mềm sức yếu bà khó mà leo lên tới.
          Bà vợ không hề hay biết ngôi miếu bà gặp là của một tộc người tin thờ thần rắn ngày xưa sống ở vùng này, vào thời của bà họ đã di cư đến vùng đất khác. Đã hàng mấy ngàn năm trôi qua thần rắn trấn ngự sông suối xứ sở này. Dù không tin thờ thần rắn, lời cầu nguyện của bà cũng động lòng thần, để rồi, đêm ấy về ngủ bà nằm mơ thấy thần rắn báo mộng. Thần cho bà biết là bà sắp làm mẹ, nhưng vì quyền năng thần có hạn, nên lẽ ra, những  đứa con bà sinh  là người thì chúng lại mang kiếp rắn. Thần còn bảo, nếu bà không muốn, thì thần sẽ thôi, không giúp bà thụ thai.
          Sáng hôm sau bà vợ kể lại giấc mơ cho chồng nghe. Ông chồng cũng khao khát một mụn con như vợ nên nhủ với vợ rằng dù phải sinh ra một con rắn thì đó cũng là máu mủ của mình thì mình nên hết lòng thương yêu và lấy đó làm niềm vui và diễm phúc.
          Họ mang lễ vật vào miếu tạ ơn thần rắn.
          Đúng như thần rắn phán, thời gian sau bà vợ có thai và đến ngày sinh nở bà đẻ được một cặp trứng. Không bao lâu vỏ trứng nứt vỡ  có hai chú rắn nhỏ chào đời.
          Ông bà già thở dài nhưng vẫn nhẫn nại nuôi dưỡng và hết mực thương yêu, săn sóc những đứa con kiếp rắn của mình.
          Đôi rắn nhỏ quần quýt bên cha mẹ không rời nửa bước. Cuối cùng thì hai ông bà cũng lấy thế làm vui. Họ đi đâu đôi rắn cũng bò theo, người cha thương con vẫn thường đem điều hiếu nghĩa dạy cho rắn nghe. Chúng tỏ ý hiểu ông bà và vào những lúc mưa gió thấy cha mẹ đi tìm thức ăn hết sức vất vả. Anh em rắn nhân lúc cha mẹ ngủ, thường lẻn bò vào rừng, săn gà, bắt thỏ, nhặt nấm, hái quả... đem về cho cha mẹ. Có một trở ngại với hai vợ chồng già là cặp rắn giống nhau như đúc nên họ chẳng thể nào đặt tên và không cách gì phân biệt được đâu là rắn anh, đâu là rắn em. Cũng hay là đôi rắn chưa bộc lộ những điểm khác biệt của mỗi con nên ông bà xem chúng tuy hai nhưng là một.
          Trong túp lều lẻ loi góc rừng, gia đình họ chung sống vui vầy bên nhau như thế cho đến khi người chồng tuổi già, sức yếu ốm nặng rồi qua đời. Không thể nào diễn tả được nỗi buồn của đôi rắn trước cảnh phụ tử sinh ly. Ngày ngày chúng lên mộ cha cuộn mình phủ phục, cho đến khi ngôi mộ xanh cỏ chúng mới thôi. Bà mẹ bây giờ tuổi cao sức yếu. Ngày kia, bà  ra vườn cuốc đất, trồng rau. Mắt bà bây giờ đã mờ lòa vì tuổi tác, đôi rắn vì thương mẹ nên cũng bò theo ra vườn, lượn lui, lượn tới bên chân bà.
          Mải cuốc xới, vô tình người mẹ cuốc phải vào ngang thân của một trong hai con rắn, một phần thân dưới và đuôi con rắn bị đứt lìa khỏi cơ thể. Rắn bị đứt cụt mất đuôi rít lên đau đớn. Bà mẹ hốt hỏang tìm lá thuốc băng bó vết thương cho nó và quay vào nhà, bỏ dở công việc. Không bao lâu vết thương trên mình rắn lành trở lại, nhưng phần thân thể bị đứt chẳng thể nào tái sinh, từ đó nó trở thành một con rắn cụt đuôi. Cũng nhờ đó mà bà mẹ có thể phân biệt được đứa này với  kia. Đôi  rắn bắt đấu có tên gọi từ đấy: rắn dài, rắn cụt.
          Lúc này tính cách của từng con rắn bắt đầu bộc lộ: rắn dài thì hiền lành và sống tử tế với tất cả muôn loài còn rắn cụt tuy không phải là hung ác nhưng cứ thấy những điều trái ý như cảnh lớn hiếp bé, đồng lọai tàn sát nhau của các lòai động vật và cả lòai người là nó bức xúc và sẵn sàng trườn đến mổ vào kẻ mà nó ghét mới thôi. Rắn dài không đồng ý với bản tính của em nhưng bà mẹ thì khác, bà bảo: có lẽ nó biết đau đớn khi phải chịu thương tích nên nó đứng ra bênh vực kẻ bị hại và lọai trừ những kẻ ác hại.
          Anh em rắn  rắn sống bên mẹ cho đến ngày bà được thần rắn đón về chầu trời.  Khi những người xứ khác đến lập nghiệp nơi vùng này, họ không biết đôi rắn và  muốn đập chết chúng. Anh em rắn lúc này sợ bị giết hại mới bỏ khu vườn cũ vào sống trong một tòa thành cổ giữa vùng rừng núi. Cứ đến tuổi già đôi rắn lại lột xác, thân thể trẻ lại nên hàng trăm năm trôi qua chúng vẫn sống bình  thường. Người già trong vùng bảo chúng là rắn thần, chúng rất khôn ngoan, hàng trăm lòai rắn nơi núi rừng đều thần phục chúng.
          Có rất nhiều huyền thọai kể về quyền phép của rắn: rằng hồn mẹ rắn đã được hóa thần. Bà trấn giữ xóm núi này và vào những kỳ lễ lạt, có nhiều người trông thấy bà ban phép xuống các rẫy vườn,...Nào là sống đủ trăm năm anh em rắn có thể hóa hiện thành người. Đôi vợ chồng kia đã không thượng thọ cho đến ngày con cái mình đủ phép thuật rời bỏ lốt rắn. Rằng nhờ hồn người, xác rắn mà chúng tu luyện thành tiên, có đủ thần thông nên biến hình thành bất cứ thứ gì mà nó muốn. Thường chúng biến thành các chàng trai cứu độ những anh hùng sa cơ lỡ bước ẩn thân nơi rừng núi hay  thình lình gặp họan nạn giữa đường. Nào là có một nhà sư ẩn tu trên núi cao. Khi ông hạ sơn, thuyết pháp, đôi rắn bò vào nghe. Chờ đến khi mọi người về hết, anh em rắn hiện thân người đến đảnh lễ sư và xin ông thu nhận chúng làm học trò,... Những truyền tụng về đôi rắn quá nhiều đã khiến cho con người cũng sinh tâm ghen ghét chúng và không ít âm mưu, cạm bẫy được giăng ra nhằm dẫn dụ đôi rắn vào tròng nhưng cuối cùng chẳng ai hại được chúng.
          Hằng năm, vào ngày giỗ cha  hai anh em rắn rủ nhau bay về khu vườn cũ làm giỗ. Cứ mỗi lần chúng đi trong vùng thường có xảy ra hiện tượng mưa gió sấm chớp rền trời. Dân gian truyền tụng là Ông Dài, Ông Cụt  về cúng cha. Sau này có nhiều kẻ biết chuyện, chợt nẩy sinh gian kế mới, chúng bèn tụ tập lại và đốt nhang trầm nghi ngút. Rắn sợ hít phải mùi nhang trầm mê man, mất phép nên bay đi biền biệt từ đấy.
...........
          Thuở nhỏ nghe chuyện Ông Dài, Ông Cụt Hoàng tin hai ông có thật. Trong trí óc trẻ thơ, Hoàng tưởng tượng mình gặp rắn thần, được truyền phép nên có được thần thông và đem ra giúp đời. Lớn lên dù viết lại thành truyện anh vẫn thấy nó thật buồn cười. 
          Không hiểu sao hình ảnh hai ông rắn thần lúc này cứ lởn vởn trong đầu Hoàng. Có những mối giao cảm huyền bí và sâu xa giữa anh với các thế lực siêu nhiên nhưng cái tính ưa phỉ thui cứ buộc anh tìm cách trục xuất những điều mầu nhiệm ra khỏi ý thức.
          Lúc này cũng thế, Hoàng nghĩ có lẽ tiếng gió rít, tiếng nước chảy trên sườn đồi, tiếng thân cây bị gió bẻ gãy dễ gây cho con người cảm giác nhỏ nhoi, cô độc trong đêm vắng và gợi liên tưởng đến những sức mạnh ma quái như tiếng hú gọi của lòai quỷ núi, tiếng rít ghê rợn của lòai mãng xà như cảnh tượng trong các bộ phim dã sử Hoàng vẫn thường xem.
          Đêm đó, Hoàng lội bộ một quãng đường khá dài để đến một địa điểm trên đường làng thường ngày các bác xe ôm vẫn chờ đón khách đưa ra huyện lỵ. Khổ nổi, hơn chín giờ đêm ngâm mình trong biển nước mênh mông để chờ xe giữa ngã ba đường Hoàng vẫn không thấy bác xe ôm nào. Không một bóng người qua lại khu vực ấy. Mà làm gì có một ông xe ôm dại dột đi đón khách trong cảnh mưa tối trời tối đất này lũ mỗi lúc một dâng cao.
          “Mình đầu hàng số phận thôi”! Mọi hy vọng trong Hoàng tắt ngấm. Anh ước được thấy con người xuất hiện. Cái đám đông huyên náo của Hà Nội nhiều khi khiến Hoàng buồn nôn sao lúc này nghĩ đến nó Hoàng bỗng muốn hòa mình vào. Hoàng không muốn chết. Chỉ những lúc cận kề cái chết anh mới thấy niềm ham sống mãnh liệt.
          Thế là hết! Nước đã bắt đầu tràn đến mép tai. Phải chăng anh thật sự hóa điên nên mới không thấy hiểm nguy vẫn rình rập sau mỗi bước đi của mình, và chỉ những người tỉnh táo nhìn vào anh là biết. Hoàng chợt thương thằng bạn cực tốt. Anh đã quay lưng lại với sự quan tâm lo lắng đầy tình người của nó. Anh khẽ bảo thầm: “Bây giờ tao chết chìm đây, thương trách đi, khóc đi! Tao xin lỗi mày! Ngàn lần xin lỗi!”.
          Chợt có cái gì đó như là một hình người mờ nhòe dưới trận mưa tầm tã di chuyển đến chỗ Hoàng đứng, nó khẽ ra hiệu cho Hoàng, ý chừng bảo anh chịu khó dấn bước một quãng nửa thì sẽ gặp may.
          Trống ngực Hoàng đập thình thịch, Hoàng cố một chút và thấy nước phủ qua đầu. Anh uống vài ngụm nghe mùi bùn tanh tưởi xộc thẳng dạ dày. Đó cũng là lúc Hoàng chạm vào một vật thể cưng cứng. Rồi hình như có một sợi dây cuộn lấy người anh.
          Hoàng buồn ngủ rũ người và anh không thể hiểu nổi lúc đó anh tự đi theo hình hài kia hay là anh bị một sức mạnh bí ẩn khác dẫn dắt. Anh thấy quá rõ ràng là anh đang bị gió bão quật lên, quật xuống tơi tả cho đến lúc tòan thân như kiệt quệ tưởng chừng sẽ chết rã.
          Kỳ diệu làm sao ngay lúc đó một cỗ xe khá lạ lùng từ trong mưa mù lù lù hiện ra đỗ ngay cạnh Hoàng. Rà soát khắp mọi ngóc ngách của trí nhớ Hoàng vẫn không tài nào biết được tên gọi của lọai xe này. Kiểu dáng chiếc xe hơi giống một đòan tàu tí hon, thế nhưng nó không có bánh cũng chẳng có đầu máy. Phần đuôi xe thì nhỏ và nhọn dần. Mãi sau Hoàng mới biết chính cái đuôi xe ấy đã cuộn lấy anh, nhấc anh lên khỏi mặt nước.
          Hoàng nằm trong xe mà không ý thức nổi bất cứ điều gì vì lúc này cũng đã gần nửa đêm. Anh nhớ rõ là dù đi theo bất cứ ngả nào, thậm chí đi lạc, thì mọi con đường xe chạy đều bị ngập sâu trong nước và chuyến xe đang chở anh rất dễ bị lật nhào xuống vực sâu. Thế nhưng, con đường mà xe anh chạy lúc này lại rất khô ráo tuy có ẩm lạnh. Thêm một điều kỳ lạ nữa là Hoàng có cảm tưởng người và xe như đang luồn trong một hang đá khổng lồ. Chiếc hang cũng chẳng giống mấy với những đường hầm tàu hỏa mà anh thuộc làu.
          Hoàng gõ vào thân xe, anh chỉ nghe những âm thanh bùm bụp phát ra như đang gõ vào mặt trống bằng da. Lớp da bọc trên sàn xe lúc này đã hiện rõ hình thù của một lớp da rắn. Hoàng lại như trôi không trọng lượng, anh đã ngủ mê man...
          Đêm ấy chuyến xe đưa Hoàng đến một nơi mà Hoàng ngỡ như là hang động của con người thời tiền sử. Tuy vậy, mỗi phòng riêng lại được sữa chữa, bài trí giống như phòng ở của các gia đình vùng sơn cước thời xưa. Anh cố bật dậy nhưng không hiểu sao đầu óc cứ nặng như đeo chì, mấy lần anh tưởng đã nhấc mình đứng lên ấy thế mà anh vẫn đang còn nằm tê liệt. Cái chỗ Hoàng đang nằm là một sàng đá có trải rơm. Xung quanh bốc lên một mùi ẩm mốc, rữa mục. Hoàng chống tay vào vách đá, cố căng mắt nhìn về phía cuối phòng, nơi có thứ ánh sáng xanh lét phát ra từ một vật hình thù kỳ dị, tựa như một chiếc nấm khổng lồ. Ở đó có những bóng người đang đi lại. Một bếp lửa với những đốm than hồng đang tàn nhanh.
          Hoàng nghe bên tai có những âm thanh rin rít. Ban đầu Hoàng không nghĩ đó là tiếng nói của con người, lại đang nói với anh. Chỉ đến khi anh nhận ra một bóng ngừời đang đứng cạnh và nhìn đăm đăm vào mặt anh thì Hoàng mới cất lời chào. Người ấy cũng chào đáp lễ và hỏi Hoàng đã khỏe chưa, có thấy đói bụng không? Hoàng nhớ là đã gần một ngày mình chưa ăn uống gì nhưng anh sợ đêm hôm tỏ ý muốn ăn sẽ làm phiền phức vị ân nhân của mình. Lại nữa, chẳng hiểu sao Hoàng không thấy đói. Anh bày tỏ niềm biết ơn với người đó và nói rằng anh thấy cần một lọ dầu, một điếu thuốc hoặc ly trà, ly rượu gì đó cho ấm bụng chứ thực tình anh không thấy thèm cơm.
          Cụ bà – lúc này Hoàng mới nhìn tường tận – nheo mắt nhìn anh trong chốc lát và bật cười.
-        Thịt gà giúp ông lại sức nhanh hơn những thứ ông đòi hỏi nhiều. Ông không từ chối chén một con gà chứ?
          Nói rồi cụ quay đi, lát sau cụ quay lại, hai tay tay bê một chiếc đĩa lớn trên có một con gà nướng to tướng bốc mùi thơm phức và đặt ngay ngắn trên chiếc bàn đá ngay trước mặt Hoàng:
       Mời ông! Con trai của già thấy đón khách vào nhà mà chẳng có gì thết đãi nên mới vội vã vào rừng săn được con gà và cứ hối thúc già nướng thật nhanh vì sợ khách thức dậy đói bụng. Nó thấy ông xuống sân ga từ lúc sẩm tối và cứ đâm đầu xuống đường ngập lụt lại thêm cái nạn ngâm mình trong mưa kiệt sức và đói lả,...
          Hoàng sửng sốt:
       Cụ bảo sao? Vào rừng săn gà giữa đêm hôm mưa bão thế này à! Con trai cụ mình đồng, da sắt hay sao mà có thể làm được một việc phi thường.
          Cụ bà có vẻ thiện cảm với Hoàng hơn:
       Nó cũng mắt thịt, hình hài cha sinh mẹ đẻ như ông thôi, nhưng nó cũng có nhiều điểm khác thường. Mà thôi, ông đừng bận tâm đến điều đó. Ông cứ ăn uống ngủ nghỉ cho thật đẫy giấc sáng mai khỏe rồi về. Các con trai của già sẵn sàng cứu giúp người đang lâm nguy, nhưng chúng nó không ưa người lạ đâu. Chúng nó bảo con người là một con thú thủ đọan và nham hiểm nhất.
          Hoàng cau mày:
       Các anh ấy sống nơi rừng núi, xa chốn phồn hoa, chỉ chuyên săn bắt có bao giờ va chạm với người đời mà đưa ra nhận xét về con người chính xác thế. Con nói cụ đừng khinh, cái thằng nhà văn là con đây, chỉ vì cố suy tư, giữ mình, không dám thi triển những âm mưu, thủ đọan vốn là bản chất của con người mà bao phen lâm vào cảnh khốn cùng.
       Ông nói chí phải. Mẹ con già mấy chục năm nay có cưu mang một người lính bị thương trong chiến tranh, người lính này bị một đồng hương sát hại. Những lúc phẫn uất, anh lính chửi thằng người đồng hương kia nham hiểm, thủ đọan, lươn lẹo như rắn. Các con của già nghe bất mãn lắm, chúng biết rõ rắn không độc địa đến thế.
          Hoàng thấy bà già có lý bèn phụ họa:
       Rắn mà độc địa thì chẳng đời nào chúng chịu để cho con người tàn sát đến nhiều loài phải tuyệt chủng.
          Càng lúc Hoàng càng nhận thấy cuộc trò chuyện của mình với cụ bà thêm phần li kỳ. Anh lờ mờ nhận ra mình đang ở một nơi rất không bình thường và bà già đang trò chuyện cùng anh cũng li kỳ không kém. Chỉ riêng cái việc pha trà mời anh uống sau khi anh chén no nê con gà nướng bà đủ làm anh đặt nhiều nghi vấn nhưng vì bà là ân nhân nên anh không tiện tò mò gặng hỏi.
          Cụ bà như không để ý đến cái nhìn dò xét của Hoàng.
       Ông buồn ngủ thì vào giường nằm nhé. Bèn không thì có thể ngồi nhâm nhi từng chén trà.
          Hoàng tỏ ý biết ơn và bưng chén trà nhấp một ngụm và khà lên một tiếng:
       Trà ngon quá. Trong trà có ướp thứ lá gì mà mùi vị đặc biệt vậy. Lại còn thêm hơi lạnh. Dù bốc hơi nghi ngút nước trà vẫn lạnh băng và không giống mấy thứ trà đá thông thường. Cháu không biết tên của lọai trà này là gì.
          Cụ bà cười buồn:
       Ông ngâm mình trong nước nhiễm lạnh đến tím tái, lại uống cả bụng nước lụt, sặc cả bùn ra mồm thì có hơ lửa, mặc ấm, xoa dầu nóng, uống rượu mạnh cũng chẳng làm sao chữa trị. Chỉ duy có lọai trà này mới cứu được ông, và giúp ông hồi phục nhanh chóng. Hơi lạnh ấy có sức phục sinh. Nó tống hết hàn khí trong người ông. Tuy vậy, có một trở ngại mong ông lưu ý. Để cân bằng âm dương cho cơ thể, sau này ông nên dùng nhiều những thức bổ dương.
       Chịu chết thôi cụ ạ! Những thức bổ dương thì chỉ đám trưởng giả, quan quyền hưởng nhiều tài lộc mới có tiền chơi nó chứ văn sĩ nghèo như cháu thì đừng có mà tơ mơ.
       Ông là văn sĩ sao ngu thế! Chắc ông từng đọc sách Đạo. Ông thấy người xưa có đề cập đến nguyên lý âm dương. Tôi muốn ông tìm thức bổ dương cho mình là có ý khuyên ông nên bồi bổ dương khí.
          Hoàng thấy mình gặp may và tin tưởng bà lão hơn, anh đánh bạo hỏi bà sao cái nhà này trông giống một cái hang động. Mà anh thì đã ngao du khắp núi rừng, thắng cảnh, các hang động trong vùng anh đều tường tận cả. Tại sao cái động đá này anh chưa bao giờ nghe nói đến. Phải chăng đây là một động rắn hoặc động tiên và các dã thọai ít nhiều đều thật có.
          Cụ bà gạt phắt:
       Chúng tôi có tồn tại trong trời đất này cũng đâu phải để thỏa mãn thói tò mò, hiếu kỳ, thậm chí là để làm nạn nhân loài người. Già và các con trai của già là rắn hay người thì việc gì đến ông.
          Hoàng chưng hửng. Anh nghĩ ngợi lan man: đúng là họ có là yêu, ma, quỷ, mị, chằn, tinh, thần, tiên,... gì đi nữa thì cũng chẳng mắc mứu gì đến anh nhưng rõ ràng đó chưa phải là vấn đề để cụ bà nổi nóng. Có một mối đe dọa nào đó đối với những người như bà. Bởi vì thật nhanh, bà già nhìn anh âu yếm, và giọng bà trở nên dịu dàng:
       Già cư trú ở đây vì đất này là hiểm địa: rừng thiêng, nước độc, thế núi hiểm trở, mưa lũ thất thường tai họa liên miên. Ai gặp họan nạn thì già cứu, đó cũng là cách vun bồi âm đức cho con cháu. Lòai người vẫn thường truyền tụng nhiều chuyện hay về rắn như: rắn trả ơn, báo óan. Chắc ông có đọc truyện Công Dã Tràng. Có những con rắn sẵn sàng nhả ngọc tặng người làm việc nghĩa cứu mình. Ông phải biết: chỉ những con rắn tu luyện công phu mới có ngọc. Mất ngọc, nó chẳng bao giờ thành tiên mà mãi mãi phải chịu kiếp rắn.
Rồi bà cười:
       Vừa rồi ông uống trà ngọc rắn đấy!

          Trong ngôi nhà này Hoàng không phải là người duy nhất chịu ơn cụ bà và các con trai của cụ. Theo như cụ kể thì rất nhiều người uống phải nước độc hoặc phát bệnh giữa rừng đã được họ cứu. Trước lúc đi ngủ lại, cụ bà đưa Hoàng đến một căn phòng nhỏ, tận sâu bên trong, nơi đó có một thanh niên mặt mũi khôi ngô, rắn rỏi nhưng tòan thân bị thương cháy bỏng phải quấn băng trắng tóat. Anh ta cũng nằm trên một chiếc giường đá nhẵn, mịn, cặp mắt u buồn của anh ta chợt sáng lên khi trông thấy Hoàng.
       Cậu đây từng là sĩ quan quân đội, cậu ấy bị kẻ thù ám hại thân tàn ma dại đến không dám về quê vì sợ người yêu trông thấy kinh sợ.
          Cụ bà nhìn chàng thương cảm:
       Ông đây bị mắc lụt suýt chết đuối mẹ con già phát hiện kịp và đón vào nhà. Vừa rồi già cho ông ấy uống trà ngọc rắn. Cháu ở đây thiếu vắng con người đã lâu, thường ngày cháu vẫn năn nỉ già cho cháu gặp ai đó để trò chuyện giải khuây. Già mời ông lại chơi với cháu chốc lát. Cháu đừng dại mồn nói những điều không nên nói, hoặc giả tự nhiên nổi sân si làm chuyện tệ hại khiến ông ấy phải sợ nhé. Lần trước cháu khiến hai người thợ rừng sợ đến chết không kịp trối. Con trai già trách già thương cháu không đúng phép. Già hứa sẽ không đưa ai đến chơi với cháu nữa, nhưng rồi nhìn cháu cô độc già không dấu được nỗi đau xót. Hơn nữa, già tin ông đây bản lĩnh cao cường, chắc sẽ không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra.
          Người thanh niên bảo Hoàng:
       Anh ngồi chơi với tôi nhé. Tôi thèm khát tiếng nói, hơi thở, cử chỉ, hành động của con người. Mẹ già đưa được anh vào đây là đã có ý muốn tôi có người bầu bạn, trò chuyện trong một đêm.
          Hoàng nhìn sững chàng trai:
       Anh tên gì?
       Anh cứ gọi tôi là Tú.
          Hoàng đoán Tú mới ngòai hai mươi tuổi. Làm sao anh có thể nằm lại trong ngôi nhà này dưỡng thương mấy chục năm nay. Lẽ nào anh ta vào lính khi mới lọt lòng và bị thương ngay lúc đó.
          Hoàng phì cười. Chắc là chàng trai nói lộn, đáng lẽ phải nói là “tôi nằm lại đây đã mấy năm,...”. Chợt Hoàng thấy gai gai vì như thế cũng đâu có ổn: mới mấy năm thì nơi đây làm gì có xảy ra chiến tranh, khu vực này đâu có lực lượng của quân đội đồn trú. Hơn nữa, chiến tranh kết thúc đã hơn ba mươi năm, những người lính tham gia chiến trận đều được giải ngũ về với gia đình, con cái của họ cũng đã bằng tuổi Hoàng. Ngay các binh sĩ bị thương nặng cũng có trại thương binh do nhà nước xây dựng để họ ở.
          Giọng Tú xa vắng:
-        Anh đang công tác ở Hà Nội à! Anh có bao giờ xuống Thái Bình không? Từ Hà Nội đi Thái Bình không xa bao lăm? Sao lúc này em bỗng nhớ làng quê Thái Bình ghê gớm.
       Vâng! Tôi ở Hà Nội và cũng thường rong ruổi khắp các tỉnh phía Bắc. Hoàng đáp – Cậu quê ở Thái Bình à! Từ cơ quan tôi, đi xe máy về Thái Bình chỉ mất vài tiếng đồng hồ.
       Xe máy là thứ gì vậy? Ngày xưa hiếm hoi lắm em mới kiếm đủ tiền lên chơi Hà Nội. Thường bọn em hay đi xe lôi, xe ngựa.
          Hoàng không tin nổi lời lẽ của chàng thanh niên này. Ở Hà Nội hơn mười năm Hoàng chưa một lần thấy con ngựa chạy trên đường phố. Chẳng lẽ anh ta chỉ biết đi xe lôi, xe ngựa và thật sự không biết thứ phương tiện giao thông phổ biến nhất như xe máy.
          Giọng Tú thủ thỉ:
-        Có dịp về Thái Bình anh chịu khó ghé qua Chợ Gốc, Kiến Xương, vào ủy ban xã hỏi thăm nhà của bố mẹ anh Trần Bình Tú. Các cụ còn thì nhờ anh liệu giùm lựa lời trò chuyện, kể về tình cảnh của tôi và nhớ khẳng định là đã gặp tôi. Mẹ tôi dễ xúc động lắm, chỉ cần nghe nhắc đến tôi là cụ khóc ngất đi. Người yêu tôi ngày trước có viết thư báo tin nàng đã có thai. Anh biết đấy, tuy chưa cưới nhưng trước ngày lên đường tôi và nàng đã làm chuyện đó. Nghĩ nàng cũng liều thật. Sống nơi làng quê rồi lại phải chịu đựng miệng tiếng thị phi. Nhưng lúc yêu và gần gũi nhau thì chẳng làm sao kiềm chế được mình. Không biết con của chúng tôi ra sao. Từ đó đến nay đã mấy chục năm ròng tôi chẳng còn nhận được dòng chữ nào của nàng, đồng đội cũng chẳng ai còn nhớ đến tôi.
          Hoàng không biết nói gì, anh cũng không dám hứa với Tú là mình sẽ tìm đến tận nhà cha mẹ anh ta. Hoàng có cảm giác mọi thứ cực kỳ hư ảo và kỳ lạ, tuy nhiên con người Tú thật khó mà biết được thuộc thời nào? Bởi những người lính bao giờ cũng nói năng rặt một chất giọng kiểu: túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Với họ đã là lính thì muôn đời vẫn thế, chỉ biết trận mạc và người đi chinh chiến không hẹn ngày về. Trong khi đó anh thường viết báo, cập nhập thời sự liên tục. Chỉ vì bận viết một cuốn sách theo đặt hàng mà anh gò mình bên máy vi tính suốt một năm, sau đó mở cửa bước ra đường thì cái làng quê đã được đô thị hóa. Cũng vì lẽ ấy mà mấy tay nhà báo cứ chê anh lạc hậu.
          Tú cứ bộc tuệch chẳng chú ý mấy đến nét đăm chiêu của anh:
-        Hồi nãy mẹ già có nói với anh là tôi bị kẻ thù ám hại. Nhưng còn một sự thật mà tôi chưa bao giờ kể cho mẹ nghe đó là tôi là một người lính chiến, kẻ thù của tôi cũng là lính, thế nhưng hắn không phải là kẻ địch, ở bên kia trận tuyến mà với tôi hắn cùng một chiến hào. Chuyện của tôi thê thảm lắm, nếu anh không thấy bị làm phiền, xin anh vui lòng nghe tôi kể ngọn ngành:
  “…Đúng vậy, hắn là đồng ngũ của tôi. Vâng! hắn là một kẻ đồng ngũ nhưng không đồng tâm, lại nữa, chúng tôi cùng sinh trưởng tại một thôn làng, thuở nhở chưa bao giờ chúng tôi ưa nhau, nhưng cái sự tình tôi yêu một người con gái và cùng nàng thề non hẹn biển để rồi hắn cậy gia đình giàu có hơn nài ép bố hắn sang đánh tiếng với bố mẹ nàng xin hỏi cưới nàng làm vợ mới là điều khiến tôi khinh hắn. Ngay từ hồi ở quê hắn đã ghen ghét với tôi vì lẽ tôi hay khôi hài, đem chuyện phấn đấu, hăng hái một cách quá lố của hắn ra làm trò cười. Đúng là tôi rất khinh hắn và tư cách hắn bị tôi cho điểm zêrô. Đấy là cách tôi trả đũa hắn thích đáng nhất.
          Hắn thường khoe với mọi người rằng gia đình hắn đã dạm hỏi cho hắn một cô nàng xinh đẹp ở quê, đó chính là người yêu của tôi, và hắn cố tình nhấn mạnh rằng chính tôi cũng muốn cưới nàng nhưng vì nghèo rớt mồng tơi nên chẳng bậc cha mẹ nào muốn nhận trầu cau của gia đình tôi. Không bỏ lỡ cơ hội chơi hắn một vố tôi bèn đem bức thư người yêu báo tin mình đã có thai cho anh em trong khắp đơn vị cùng đọc. Tôi huỵch tọet rằng đúng là hắn đã dạm hỏi nàng thật, nhưng  nàng yêu tôi, cha mẹ nàng nhận lễ của nhà hắn chứ đâu phải nàng. Trong tim nàng chỉ riêng tôi là chồng thôi. Trước ngày tôi lên đường, nàng đã tặng tôi kho báu của nàng, và chúng tôi đã có con với nhau. Vậy thì kẻ mà nàng chờ trở về là tôi chứ không phải hắn,...
          Trời ơi! Anh biết không? Tôi đã sai lầm đánh thức con ác quỷ trong lòng hắn, rồi anh em trong đơn vị đem hắn làm trò cười càng khơi dậy nơi hắn mối hận thù độc địa nhất. Để rồi, trong một chiến dịch, tôi bị bỏng bởi lửa bom napan, hắn đã không cứu thì thôi, còn hất tôi vào một đám cháy lớn hơn để rồi tòan thân tôi biến thành ngọn đuốc. Bây giờ thân thể tôi như anh thấy đấy, bao nhiêu năm qua thương tích nơi thể xác và tinh thần mãi không chịu lành. Tôi chẳng dám đi đâu khi tòan thân bỏng lở, tanh tưởi, hôi hám phải quấn băng như thế này,... Tôi phải nhốt mình trong nhà và đời đời kiếp kiếp tôi còn phải mang hình hài này.
          Khi Hoàng hỏi về kẻ thù của Tú thì anh ta chua chát rằng kẻ ấy chắc cũng sẽ chịu một số phần không ra gì. Có thể hắn đang quằn quại đâu đấy trong một địa ngục do hắn tạo ra.
          Nghe chuyện Tú xong Hoàng thấy trí năng rã rời, anh muốn dứt khỏi anh ta để ngả lưng vì anh kiệt sức lắm rồi. Thâm tâm, anh dự định sáng mai về và có dịp anh sẽ quay lại đây, thăm thú, hỏi han Tú cặn kẽ hơn bởi hôm nay, sau ngần ấy trận xô lắc, anh quá mệt.
          Khi Hoàng giã từ Tú ra phòng ngoài thì cũng là lúc anh trông thấy hai gã trung niên ngồi bên bàn ăn, mỗi người chén một con chồn sống. Phần thân dưới của họ đích thị là cơ thể của hai lão rắn dài, rắn cụt. Anh kêu lên đầy kinh ngạc. Hình như họ cũng vừa nghe thấy tiếng Hoàng, rắn Dài quay lại:
-        Anh không để chúng tôi kịp thay hình đổi dạng. Nhìn trộm chúng tôi như thế mà không sợ nhà anh thuộc lọai to gan đấy. Chẳng biết thân thể chúng tôi thế này có điều gì bất tiện không.
          Đã quen với những điều kỳ dị từ tối đến giờ nên lúc này Hoàng nhìn hai ông rắn như nhìn những con người bình thường.
       Các ông không làm gì xâm hại đến tính mệnh tôi đấy chứ? Tôi vẫn nghe dân gian truyền đồn là các ông chỉ hành thiện không thôi. Như vậy gặp các ông đúng là phúc lành.
          Rắn Cụt cười:
       Cái đó cũng tùy. Anh em chúng tôi còn thừa hành công việc của các Thiện thần và Ác thần, mỗi người một việc. Cũng có kẻ gặp chúng tôi là gặp điềm xấu.
          Ác thần mãi là nỗi kinh sợ của con người. Hoàng có vẻ tư lự bởi anh không chút nghi ngờ vị ác thần ở đây có thể hại mình.
       Nếu ông không làm gì ác hại, xấu xa, tội lỗi thì ác thần chẳng bao giờ động chạm vào ông. Tuy làm việc ác nhưng Ác thần chỉ thi hành công lý. Hiếm khi người vô tội bị các chư thần gia hại. Thần linh có thể thiếu sót nhưng không nhầm lẫn hoặc giết oan các sinh linh.
          Một ý nghĩ bỗng chạy vụt qua óc Hoàng:
       Tôi đang rất muốn được xem các thần linh thi hành công lý nhưng chưa có dịp.
          Ông Dài xoa tay:
       Những dịp mưa to gió lớn thế này chúng tôi không phải làm việc nhiều.
          Thấy Hoàng có vẻ sẵn sàng hai ông rắn đứng dậy rùng mình một cái. Lúc này trên mình mỗi ông có thêm một đôi cánh.
          Hoàng nhìn họ và nghĩ thầm: “ta chỉ nghe nói loài mãng xà biết bay, nhưng chưa bao giờ ta tưởng tượng được là chúng có cánh!”.
          Ngồi trên đôi cánh của ông Dài, Hoàng cùng cặp rắn bay về phía cánh rừng già. Nơi đó cách đây chưa lâu xảy ra nạn cháy rừng. Nhìn những cụm rừng cháy nham nhở Hoàng không khỏi xót xa. Cũng may là giữa lúc bà hỏa đang hứng chí bốc cao ngùn ngụt trời bỗng đổ mưa, không thì cả một dãy núi rừng, làng bản chìm trong biển lửa.
          Đôi rắn lựơn vài vòng rồi hạ xuống giữa một ngọn núi trọc vách đá trơ trọi, đen cháy không một thân cây sống sót. Một nửa ngọn núi sụt lở, con suối ngầu lên sôi réo sùng sục dưới chân, sườn núi vỡ ra, toang hóac.
          Rất nhiều tội phạm bị bắt trói giải đến đây: kẻ thì bị trói gô, kẻ bị đánh què chân, kẻ bị chặt tay. Một số khác đã chết, số còn lại bị cột thành chùm, gông vào thân cổ thụ bị đã bị lửa đốt cháy thành than.
    Thì ra chốn này là một trong những pháp đình của người chết. Ông Dài quay sang phía Hoàng giải thích:
       Bọn này đều là ma rừng quỷ núi cả đấy. Anh đừng thương xót chúng làm gì. Chúng chẳng đời nào biết ăn năn hối hận đâu. Tội của bọn chúng chất cao như núi.
          Có mấy đội quân giống như lính tráng cứ nhằm từng tên tội phạm mà lôi ra, đợi lúc sườn núi rung động, vách đất nứt ra, một khối đá đổ ầm xuống lòng suối và nước réo sùng sục là họ vứt từng tên xuống. Ông Cụt rít lên bên tai Hoàng:
       Bọn ma rừng, quỷ núi này được các ông gọi là lâm tặc đấy. Chúng phá rừng không thèm biết đến hậu quả. Anh cứ nhìn cái hội phía kia kìa. Lúc còn sống chúng không chỉ tinh ranh mà còn biết mua chuộc dụ dỗ cả thánh thần. Nhưng như các ông thường nói: gieo nhân nào gặt quả nấy. Chúng đốt cháy phá trụi hơn nửa khu rừng này. Thậm chí chúng còn mang cả mìn vào phá núi, mở đường tắt cho xe chạy. Lợi dụng mùa mưa thiếu sự kiểm sóat chúng còn kéo cả xe cẩu, máy cưa vào tận nơi cưa xẻ khai thác tùy thích. Và rồi không còn rừng cây ngăn chặn dòng nước lũ, cho nên lũ cứ tha hồ càn quét. Chúng ỷ  núi lớn vững vàng, đóng trại trên ấy thì an tòan. Nào ngờ rừng trọc, núi lở  hết nên mới xảy ra nạn lũ núi. Anh nhìn kia! Cả một nữa ngọn núi khổng lồ bị mìn giật đổ và rồi thác lũ phá sập. Chúng nó đóng trại trên sườn núi cũng không thóat được. Tất cả đều bị hất nhào và lũ rừng chôn vùi chúng dưới vực sâu. Thần núi truy bắt chúng về trị tội. Cung điện, lăng miếu của các thần linh cũng bị rúng động vì bom mìn. Những cây cổ thụ là nơi ẩn trú của các tiểu thần cũng bị phá hết. Nhiều chư thần không còn cả chốn nương thân,...  
          Đang lúc nghe đôi rắn thuật chuyện thì bỗng đâu mây đen kéo về cuồn cuộn, ánh chớp nhoáng nhoàng. Mặt đất như lắc lư, chao đảo, thân cây, vách đá sườn núi dường như rên lên, uốn mình răng rắc.
       Chúng ta về nhanh thôi. Lại một đòn sấm sét nữa rồi.
          Đôi rắn thần vội vã đưa Hoàng ra khỏi khu vực pháp trường và anh cũng không còn muốn nhìn cảnh tượng khủng khiếp đó nữa.
          Trên đường về, ông Dài bay trước một đọan khá xa. Ông Cụt vừa đỡ Hoàng lên lưng vỗ cánh chập chọang thì một tiếng nổ long trời lở đất, rồi một chuỗi dài những tiếng động ầm ầm mỗi lúc một vang xa chấn động cả trời đất. Ông Cụt bay trong bao lâu Hoàng không biết. Anh thấy mình được ông Cụt thả xuống hay là anh té xuống hay bị hất nhào và trời đất tối sầm.

          Khi tỉnh dậy Hoàng thấy mình đang nằm trên một bệ đá giữa thềm tòa thành cổ đổ nát. Phóng tầm mắt chung quanh, anh chỉ thâý bốn bề đồi trọc, gò đống, núi đá trơ trọi. Cây cối xác xơ sau bão, phong cảnh tiêu điều. Mặt trời lúc này đã lên cao, Hoàng nhìn đồng hồ thấy kim giờ chỉ đúng số mười. Vậy là anh đã ngủ mê man thêm cả một buổi sáng.
          Đêm qua khi trời tạnh mưa, gió ngưng nước thoát đi rất nhanh, mọi con đường, bờ đất bây giờ đều hiện ra dưới ánh mặt trời. Có tiếng còi tàu vọng đâu đó phía sân ga.
                                      LTT

          TRANG TRẠI ĐỒI TRANH

  Từ ngày Tư Thắng việt kiều Úc về mua cả vùng đồi Tranh để mở trang trại và  giao cho cô em gái trông coi khiến người dân quanh vùng ai cũng bàn tán. Đã có xỏ xiên rằng Tư Thắng phất lên muốn làm chủ cả lãnh địa của người chết. Ngày xưa Tư Thắng nghèo rớt mồng tơi như mọi thằng dân quê, sau xuất ngọai trở nên giàu sang tột đỉnh thì từ lâu người ta đã nói chán. Riêng việc ông dám liều lĩnh dốc túi mở Khu du lịch trang trại đồi Tranh thì không ít người nhìn cung cách làm việc của ông phải lè lưỡi, bảo ông ngông cuồng. Ngọn đồi Tranh xưa nay khét tiếng là nơi lắm ma, nhiều quỷ. Những chuyện kinh dị xảy ra nơi mỗi góc đồi, mỗi hẻm đá luôn khiến người đời có lắm chuyện ma để kể cho nhau nghe. Vùng này chuyện về các ma H’roi(*) cụt đầu thường sờ sọang dắt díu nhau than khóc làm người nghe phải đứng tim, vỡ mật.
Có một ước lệ ngầm mà mọi cư dân quanh đồi Tranh tuân thủ là dù có đói nghèo phải phải bỏ xứ mưu sinh nhưng tuyệt nhiên không ai được phép xâm nhập vùng đồi Tranh. Nơi ấy là nghĩa địa muôn thuở của người H’roi. Tập quán của họ lại khác với người Kinh, khi chết đi họ được coi như đã sang thế giới khác sống. Của cải chia phần cho người chết thường đem ra đặt ngoài mồ. Người ta bảo ma H’roi dù chết rồi vẫn sinh họat, làm lụng, múa hát. Đồi Tranh là thế giới huyền bí của họ, dân quanh vùng bất khả xâm phạm. 
Hồi mới đầu nghe Tư Thắng trình bày ý tưởng mở Khu du lịch tại vùng đồi Tranh         Út Kiều vội bàn ra:
-      Anh điên! Giàu như anh mua một biệt thự giữa Sài Gòn không tốt hơn sao!       
       Tư Thắng cau mày:
-      Đến em còn nói với anh cái giọng đó! Đừng tưởng ở Úc về là lắm tiền nhiều của. Ở đâu cũng phải có làm mới có ăn. Ra nước ngòai anh cũng phải đi làm thuê ăn lương cho người ta, dành dụm mãi mới còn được đồng tiền. Về đây thấy bà con mình nghèo quá anh động lòng thương nhưng giúp người này mà không giúp người kia thì là thiên vị. Gặp lúc nhà nước mở con đường liên tỉnh chạy qua vùng này. Lại nữa, ngành du lịch đang trên đà phát triển mà vị trí này thì thật lý tưởng để xây dựng một trang trại anh mới chọn. Cũng là dịp tuyển dụng người lao động trong vùng về làm việc với mình.
Út Kiều cười nhạo:
-      Anh tưởng bà con cần tiền của anh đến mức dám liều lĩnh dấn thân lên khai phá đồi Tranh à! Mồ mả của người H’roi đều được yểm bùa, trấn ngải, động đến là điên hoặc chết như chơi. Thuở trước có một thanh niên trong làng tự dưng mất tích, cả vùng náo lọan, sau nhờ cảnh sát tìm. Họ sục lên đồi Tranh chỉ bắt gặp bộ xương anh ta đã bị róc hết thịt. Chỉ có yêu tinh, ma cà rồng mới ăn thịt người kiểu đó.
-      Anh không biết! Tư Thắng thấy khó mà thuyết phục được cô em gái. Anh cho rằng thú dữ đói quá ăn thịt người chết thôi!
       Út Kiều tỏ vẻ không hài lòng:
-      Đã bao giờ anh nghe bà con kháo chuyện về anh chưa?
-      Chuyện thị phi đừng bận tâm em à! Mình chân thành người ta sẽ hiểu và quý trọng. Ma quỷ có thật thì cũng nhân nhượng mình.
-      Em thấy rõ là đi Úc về anh thay đổi quá. Những điều mọi người tin sợ thì anh lại chẳng sợ. Đã thế anh cứ đi mà xây dựng đồi Tranh
-      Không nơi nào hợp ý anh hơn vùng đất này: Phía sau đồi Tranh là hồ Mai thơ mộng, những con suối dẫn nước về hồ Mai còn nguyên vẻ đẹp hoang sơ. Thung lũng Mơ thì hết chỗ chê. Nơi đó anh có thể mở hẳn một trại hoa và xây khu chuồng thú.
-      Anh không biết lũng Mơ cũng là thung lũng chết chóc à! Như người ta kể lại thì thời chiến tranh rất nhiều người bị thủ tiêu ở đó, mà hồ Mai là nơi bọn giết người đem ném xác phi tang. Hồn ma chết oan đêm đêm hiện về than khóc rền đất,...
Tư Thắng sừng sộ với cô em:
-      Ở đâu mà không có ma. Anh biết ở Úc có người thường gặp một ông bạn hàng xóm chết từ ngày người đó còn ở Việt Nam. Tại sao hồn ma của ông hàng xóm cứ đi theo người đó thì anh không biết, nhưng anh biết là có nợ nần nhân quả với nhau thì người chết mới theo đòi.
Út Kiều không đồng ý với anh nhưng vì đuối lý cô đành chấp nhận giúp đỡ anh trai trong hầu hết các công việc. Trang trại đồi Tranh dần được hoàn tất và từng hạng mục công trình nhanh chóng đi vào họat động phục vụ du khách.

Vạn sự khởi đầu nan!
Sau mấy năm khởi nghiệp đầy gian nan thử thách Khu du lịch trang trại đồi Tranh giờ đây đang trở thành điểm đến của du khách toàn quốc. Ông chủ Tư Thắng đã tạo được ấn tượng đẹp trong lòng người. Tuy nhiên một sự cố đáng tiếc xảy ra vào một buổi chiều khiến Tư Thắng nhức đầu.
Lúc ấy vừa sẩm tối, Tư Thắng đang ăn với bà chủ một trung tâm vui chơi giải trí trẻ đẹp mà anh mới quen thì Út Kiều gọi vào di động của anh giọng gắt gỏng:
-      Về gấp! Một Việt Kiều khù khờ như anh đứng ra xin lỗi thì may ra mới khiến người ta thông cảm chứ cả công ty không ai có thể xoa dịu đám người này được.
-      Có chuyện gì mà náo lọan trong máy mà anh không hiểu gì hết!
-      Chuyện to lắm. Anh về nhanh đền bù thiệt hại cho họ đi, không là họ yểm bùa làm công ty mình phá sản bây giờ.
       Tư Thắng nhìn cô bạn gái. Đóan biết có chuyện căng thẳng ở Khu du lịch đồi Tranh, cô đứng dậy, chia tay.
       Tư Thắng lái xe về công ty mà cứ thấy lóang thóang một phụ nữ xinh đẹp đưa tay vẫy xe xin quá giang. Anh không thể dừng lại cho cô đi nhờ vì sợ Út Kiều sốt ruột. Cô gái vẫn không rời khỏi anh. Bằng chứng là có đến ba lần cũng cô gái ấy hiện ra bên đường vẫy xe anh.
       Tư Thắng lắc đầu. Có cái gì là lạ mà anh không nhận ra sớm. Cô gái này làm sao có thể đón đường vẫy xe anh đến ba lần. Con đường quốc lộ chỉ hai dòng xe thuận và ngược chiều. Tư Thắng đang lái xe với tốc độ tối đa. Anh đã bỏ hết những chiếc xe chạy cùng chiều. Vậy mà cô ta vẫn cứ luôn đón đầu anh.
-      Chắc là mình hoa mắt thôi. Họa chăng là ma hiện hình đùa giỡn.
       Xe vào cổng công ty. Không cần hỏi ai Tư Thắng cũng kịp trông thấy có chuyện trầm trọng đang xảy ra. Anh chàng quản lý tên Hoành và Út Kiều đang xuống nước năn nỉ mấy gã thanh niên người H’roi gương mặt đằng đằng sát khí. Cùng nhóm với họ có một ông già xem chừng là người có vai vế, nhưng Tư Thắng thực sự không biết chức danh, tên gọi của ông ta. Có thể đó là một thầy Chang.
       Thấy Tư Thắng bước vào, mọi người đổ xô lại vây lấy anh.
       Út Kiều trút được gánh nặng lên vai ông anh nên đổi giọng liếng thóắng với nhóm người H’roi:
  - Ông chủ về rồi đó. Có chuyện gì cứ đòi ông ấy bồi thường thiệt hại. Chúng tôi chỉ là cấp dưới làm theo lệnh ông ấy thôi.
       Ông già có vẻ được kính trọng nhất trong số người H’roi nói chuyện với Tư Thắng bằng giọng gay gắt:
-      Thưa ông! Bây giờ thì tôi biết ông là chủ ở đây. Vì ông là chủ nên ông phải chịu trách nhiệm vụ này: có một cô gái trong cộng đồng chúng tôi vì lụy tình mà chết. Chúng tôi đã mai táng cô ấy trên sườn núi. Những người của công ty ông đã lên tận nơi quật mồ cô ấy. Đêm qua hồn ma cô ấy về gào khóc rầm trời, phá vỡ sự bình yên của thôn xóm, cô ấy yêu cầu chúng tôi trừng phạt các ông. Bây giờ ông liệu tính sao đó tính!
-      Xin lỗi các vị! Đúng là tôi có kế họach dựng một lầu vọng nguyệt trên sườn núi ấy vì cảnh quan chỗ đó tuyệt đẹp và vắng vẻ, hoang sơ. Nhưng mà tôi chưa hề đến tận nơi khảo sát, chỉ có anh tổng công trình sư nhận thiết kế và thi công. Tôi đã bàn giao cho anh ta. Tôi không hề biết có ngôi mộ nằm khu vực đó. Cũng không hiểu những vấn đề của người H’roi sau khi chết.
-      Xạo hòai! Mấy người ở đây, kể cả bà giám đốc và ông quản lý đều biết rõ tập quán của chúng tôi. Khi nãy tôi đòi trấn bùa mặt mày bà ấy tái mét chứng tỏ bà ấy hiểu và sợ. Vậy mà ông không sợ. Ông đã xúc phạm đến nhà cửa người quá cố.
-      Tôi xin lỗi lần nữa. Không phải tôi không sợ mà tôi không biết những vấn đề dị thường này. Tôi  sống ở nước ngòai lâu nên không biết người H’roi chết rồi hóa linh thiêng. Các ông vui lòng nhận giúp tôi món tiền nhỏ này, và nhờ người có quyền năng trong cộng đồng đứng ra sửa sang, cúng kiến, tạ lỗi người quá cố. May chăng người đã khuất đẹp lòng mà không làm điều gì xáo trộn sự yên ổn của chúng ta.
       Lão già nhìn Tư Thắng thân thiện hơn:
-      Chúng tôi không cần tiền của ông. Chúng tôi thông cảm với một người ở nước ngoài về. Mong ông từ nay trở đi có làm gì cũng cẩn trọng, cung kính dùm. Chúng tôi không có tiền để mua lại khu nghĩa địa của tổ tiên. Nhưng chúng tôi biết cách phải làm gì nếu tộc người khác coi thường chúng tôi mà xúc phạm đến vong linh đã khuất.
       Tư Thắng năn nỉ ông già mãi ông mới chịu cầm tiền để sửa chữa mồ ma những người H’roi.
       Khi những vị khách bất đắc dĩ ra về hết Tư Thắng bèn triệu tập cả công ty lại họp. Mọi người nghe Tư Thắng nhắc nhở cần tôn trọng và bảo tồn những mộ địa của người H’roi. Anh cũng tuyên bố thôi, không dựng lầu vọng nguyệt trên sườn đồi.
       Đó là một ngày rất đáng nhớ đối với Tư Thắng. Đến quá mười hai giờ đêm anh vẫn không sao chợt mắt được. Anh vớ chai rượu uống cạn. Ngấm ma men, anh thầm mơ ước có một phụ nữ bên mình lúc này để giải khuây. Dường như cầu được ước thấy, một giọng du dương rót vào tim Tư Thắng:
-      Anh ơi! bây giờ đã một giờ sáng rồi mà sao anh chưa ngủ! làm việc nhiều như thế anh có mệt mỏi lắm không?
Tư Thắng ngước lên. Một cô gái chừng hai mươi đẹp một cách ma quái đang ngồi đối diện với anh. Ánh mắt cô gái có một ma lực đầy huyền bí mà nhìn vào Tư Thắng không rời khỏi được. Cô ta vào phòng bằng cách nào chính anh cũng không biết. Anh chỉ đoán cô là một trong những nhân viên phục vụ quầy bar.
-      Em vào đây bằng cách nào?
       Giọng cô gái sao mà êm dịu:
-      Bằng cách của riêng em. Anh không muốn em ở lại đây với anh đêm nay sao?
       Tư Thắng nhìn mãi vào mắt cô gái và nghe lòng trào dâng một niềm yêu mến khó hiểu. Anh đã quá hư đốn trong chuyện phòng the. Như ông vua trong truyền thuyết nghìn lẻ một đêm, mỗi buổi tối một cô nhân viên quầy bar sau 10 giờ khuya phải lên phòng anh phục vụ. Cậu quản lý đã thu xếp vụ này êm thấm. Các cô gái đều tự nguyện trong chuyện này. Biết sao được khi mà Tư Thắng có một sức hấp dẫn đối với đàn bà nhường ấy, mà vợ anh lại đang ở tận bên Úc.
Trang trại đồi Tranh ban đầu không tuyển dụng được người lao động ở quê nên về sau tuyển đại trà nhân viên nhiều nơi khác trên khắp mọi miền đất nước. Mở cửa chưa bao lâu công ty phải cạnh tranh với một số đối thủ từ thành phố cũng về đây làm ăn và Tư Thắng buộc phải tuyển chọn những thiếu nữ xinh đẹp vào làm ở nhiều vị trí khác nhau để thu hút du khách. Cũng từ đó anh nẩy sinh nhu cầu ân ái với các mỹ nhân dưới quyền. Những cô gái này quen chiều chuộng khách nên đối với ông chủ họ biết phải làm sao để ông hài lòng.
Như thỏa thuận, tay quản lý phải sắp xếp sao cho khéo léo, kể cả tiền thù lao phục vụ sếp cũng sao cho công bằng để các nàng không có sự ganh tị, ghen ăn tức ở với nhau. Mỗi đêm một cô được chọn đến phòng Tư Thắng và cứ tuần tự hai tuần một lần như vậy. Ngày chủ nhật Tư Thắng thóat ra khỏi công việc để tham gia các họat động thể thao, giải trí nên buổi tối anh ta lên giường một mình.
Tư Thắng nhìn người phụ nữ xinh đẹp nhưng làn da không hiểu sao lại tái xanh và hỏi bằng một giọng âu yếm:
-      Ai bảo em đến với anh vậy! Anh đã có thông lệ không tiếp bạn gái vào những tối chủ nhật mà. Chẳng lẽ cậu quản lý cố ý.
       Cô gái xoay người cố tình để chiếc áo hai dây trễ xuống sâu hơn và Tư Thắng mất tự chủ:
-      Tự em tìm vào. Anh không muốn em ở lại với anh đêm nay sao?
Tư Thắng cười giả lả:
-      Ôi! Người đâu mà đẹp đến vậy. Tôi chết mất.
Tư Thắng nói thế nhưng cũng hơi ngường ngượng vì cô gái còn quá nhỏ. Nhưng rõ ràng là cô gái sẵn sàng với anh ta vì cái kiểu cô uốn mình đưa đẩy làm Tư Thắng mê mẩn:
-      Em yêu anh mà!
Cô ta sà vào lòng Tư Thắng, tấm thân lạnh giá của nàng như được ngọn lửa dục của Tư Thắng đốt cháy và anh ta chẳng biết trời trăng mây gió gì nữa sau khi đã ôm cô gái vào giường để rồi đến lúc kiệt sức Tư Thắng ngủ như chết. Hôm sau, hơn tám giờ sáng, cậu bảo vệ lên gọi Tư Thắng xuống chuẩn bị cuộc họp giữa ban lãnh đạo công ty thì anh ta mới nặng nề bò ra khỏi giường, không khỏi tiếc rẻ khi nhớ lại những gì đã xảy ra với người con trẻ, đẹp đến mức anh ta chưa từng một lần trông thấy trong đời.
Suốt buổi sáng Tư Thắng chẳng nhớ nỗi mình đã làm những gì? Nói gì? Tư Thắng cứ thấy người mình bềnh bồng như con tàu trên biển. Ai đó đã báo cáo với anh ta rằng doanh thu của Trại hoa gia tăng đáng kể và tại khu vực chuồng thú có người bị tai nạn rồi cần phải đầu tư thêm cho quầy bar. Anh máy móc giải quyết công việc nhưng lúc nào cũng như thấy nụ hôn ướt lạnh của thiếu nữ đêm qua chạm khắp cơ thể. Cứ thế Tư Thắng lơ lửng để rồi cô em gái phải dội cho anh ta một ca nước lạnh:
-      Cứ mua vui với các bà cho lắm vào có ngày chết thúi! Em mà khuyên răn anh không được thì bất chấp tình ruột rà máu mủ em tuyên bố giải thể khu du lịch này.
       Tư Thắng xấu hổ:
-      Chuyện gì anh cũng điều độ thôi mà! Đàn ông xa vợ hư chút xíu cũng om sòm.
       Út Kiều bỗng thấy trào dâng một niềm xót thương đối với người anh trai: Tư Thắng có ưu thế về mọi phương diện nhưng hình như chẳng bao giờ kiếm được một người yêu lý tưởng để rồi mọi người đàn bà đi qua đời anh ta như khách qua đường kể cả chị vợ chính thức hiện nay. Lại nữa, ngày nào anh cô cũng căng người với công việc từ mười hai đến mười lăm tiếng đồng hồ. Từ một nghĩa địa vùng sơn cước biến thành Khu du lịch đồi Tranh anh cô đã hoàn tất một quá trình phù phép để Lọ Lem hóa Tiên nữ.
Công việc cứ rút hết thời gian trong ngày của Tư Thắng để rồi mãi đến nửa đêm anh ta mới kịp tắm gội ăn uống qua loa và lên giường gác tay lên trán nghĩ ngợi mông lung. Hôm nay là tối thứ hai, theo lịch sinh họat phòng the thì là đầu tuần, như mọi đêm Anh Nga sẽ là người đến với Tư Thắng. Rất nhiều đàn ông theo đuổi Anh Nga. Cô chấp nhận cuộc chơi với Tư Thắng vì không cưỡng nỗi sức cám dỗ ở người đàn ông lớn gần gấp đôi tuổi mình.
Vậy mà tối nay khi Anh Nga duyên dáng trong chiếc đầm trắng vừa lên phòng Tư Thắng súyt đuổi cô nhân viên 28 tuổi ra chỉ vì mọi cử chỉ của cô Tư Thắng đều thấy sao mà vụng về thụ động và phần khác anh cứ nhớ phát điên người con gái đêm qua.
Anh Nga nói với Tư Thắng qua làn nước mắt:
-      Ông chủ không thương em cũng xin đừng chê kẻo em bị anh Hoành sa thải.
       Tư Thắng gượng cười:
-      Trước giờ em đã đến với anh mấy lần rồi nhỉ?
-      Cứ hai tuần em đến 1 lần. Em vào làm đây được gần nửa năm.
       Tư Thắng nhìn gương mặt yêu kiều của Anh Nga chợt thấy bứt rứt. Anh ta biết cái sự phiền muộn của mình là vô lý.
Tư Thắng an ủi cô nhân viên vài câu rồi than mệt và quay mặt vào tường ra bộ như chỉ muốn ngủ nhưng không làm sao ngủ được. Hình ảnh cô gái trẻ đẹp cứ hiện ra chập chờn. Tấm thân lành lạnh của cô cứ như thu hết sức nóng từ người Tư Thắng và lúc này đây nó trở thành nỗi mê hoặc khiến anh thấy mình cứ nhớ nhung và chìm dần vào một cõi mộng mị, xa xăm khác biệt với chiếc giường trần trụi.
Cơn mơ dần trùm lên giấc ngủ của Tư Thắng. Trong mơ anh ta thấy mình bay theo một thiếu nữ. Nàng lượn lờ khắp đồi Tranh lộng gió và chỉ khi Tư Thắng tóm được nàng thì cả hai mới rơi nhào xuống lũng Mơ.
-      Mới một đêm mà anh đã yêu em thật rồi sao?
Tư Thắng cười:
-      Em vẫn chưa cho anh biết em tên gì?
-      Gọi em là Mỵ Hoa. Tên đẹp đấy chứ phải không anh?
Tư Thắng buồn buồn:
-      Ừ! tên đẹp lắm nhưng sao tên em lại trùng tên một sơn nữ người H’roi chết vì tình mà chuyện của nàng thuở mới về đây anh được nghe kể. Thiên hạ than phiền cô nàng này gieo rắc tình ma khắp nơi.
-      Em đúng là người H’roi nhưng nhà em ở trên vùng sơn cước chốn xa xa kia. Anh muốn đến đó với em không?
Tư Thắng chẳng thèm quan tâm đến cái xóm nhỏ nơi cuối thôn sâu chiều chiều khói bếp vẫn tỏa lên lơ lửng cùng một nhóm người H’roi mặt lúc nào cũng buồn buồn và tập quán thì khác xa với những thói quen của một kẻ tây hóa như anh:
-      Kể ra em còn nhỏ như thế này mà lao vào anh thì cũng liều thật đấy. Em tự đến với anh mà không sợ cha mẹ à!
Mỵ Hoa phụng phịu:
-      Khách đa tình muôn thuở ướp hồn trên gối mộng của giai nhân. Phụ nữ H’roi chúng em đến tuổi trưởng thành là được quyền tự chọn bạn tình cho mình rồi cưới. Em thích anh nhưng em không biết có giữ được anh cho riêng em không? Trong số những người đàn bà của anh chắc có người lọai trừ em thôi.
Tư Thắng vờ làm bộ:
-      Người nào có quyền lọai em nếu anh vẫn còn yêu em tha thiết.
-      Không phải. Em chỉ được đến với anh vào mỗi tối thứ hai. Còn những tối khác thì anh Hoành phân công những cô gái khác đến.
Tư Thắng giả lả:
-      Ừ hén! Vậy mà tối nay em đến với anh. Có sao đâu.
Mỵ Hoa quay mặt sang hướng khác dấu nụ cười:
-      Tối nay là anh theo em chứ đâu phải em đến chỗ anh. Trên giường anh đang có một người đàn bà nằm cô đơn. quay về anh sẽ thấy cô nàng đang thút thít khóc.
Hì!hì! Tư Thắng ghìm chặt Mỵ Hoa xuống vạt cỏ. Lúc này thì Mỵ Hoa có đòi cả Trang trại đồi Tranh chắc anh ta cũng sẵn lòng biếu không cho cô.

Tư Thắng uể ỏai mở mắt nhìn Anh Nga đang ngồi bên cạnh đôi mắt thâm quầng. Cô mừng như thể Tư Thắng chết đi sống lại không bằng.
-      Ông chủ khiến em lo quá. Ông ngủ mê mệt đến nỗi em có vác ông đi khỏi phòng ông cũng không hề hay biết. Chưa bao giờ em thấy ông lạ lùng đến thế.
Tư Thắng lúc này mới hiểu đêm qua anh đã đi chơi với Mỵ Hoa trong mơ. “Trời ơi! sao giấc mơ tuyệt diệu đến vậy!” anh nhớ Mỵ Hoa bảo Anh Nga đang nằm ở nhà khóc thút thít và chợt cười.
Tưởng Tư Thắng cười chê mình, Anh Nga tủi thân khóc nấc lên.
Vốn là một gã đàn ông nổi tiếng đào hoa, lại giỏi cưng chiều phụ nữ, Tư Thắng nhanh chóng trấn an Anh Nga bằng cách vuốt ve nhẹ đôi bờ vai thon thả của cô ta:
-      Anh cũng mệt quá nên mới để em buồn như vậy. Thôi, đừng trách anh nữa, và nhớ là đừng nói lại mọi chuyện với ai.
       Lúc này Anh Nga có phần tươi tỉnh hơn, ả nũng nịu đặt lên má Tư Thắng một cái hôn và vội vã đứng dậy đi nhanh ra khỏi phòng.
Còn lại một mình Tư Thắng chỉ muốn nằm ườn ra giường mường tượng lại cảnh liêu trai đêm trước: hóa ra những gì đã có giữa Mỵ Hoa và mình chỉ là mơ thôi! Mà sao giấc mơ đẹp vậy nhỉ? Lẽ nào đêm trước mình cũng nằm mơ? Có một giai nhân cứ chui vào giấc mơ của mình và cùng mình vui hưởng lạc thú ái ân là sao nhỉ? Rõ ràng mọi thứ cứ hư hư thực thực. Mà sao mà toàn thân hâm hấp nóng thế này?
Tư Thắng nhớ rõ ràng đêm đầu tiên, lúc ấy gần một giờ sáng, cô gái xuất hiện trong phòng anh ta thật đột ngột. Tư Thắng hơi lạ lùng về cung cách của cô nhưng rồi vẻ đẹp huyền hoặc đã hút hồn anh ta mất. Mới hai đêm dan díu với người phụ nữ không rõ hình tích mà sao Tư Thắng tưởng như mình đã thuộc về nàng từ muôn kiếp. Anh ta chỉ mong đêm nhanh đến để có thể cùng người đẹp tình tự.
Khi Tư Thắng bước vào phòng giám đốc thì cô em gái đang chễm chệ trên chiếc ghế bành. Tư Thắng cau mày: hai chữ Giám Đốc đã khiến Kiều hài lòng quá đỗi. Xem ra cô ả chẳng thèm làm gì, trăm công ngàn việc cứ bỏ mặc cho ông anh năng động xoay sở.
-      Bây giờ thì em nghĩ mình đem cái sự tích đồi Tranh lắm ma nhiều quỷ ra khai thác du lịch được rồi anh ạ! Trước kia em sợ thật sự nhưng đã một năm nay chả ai trông thấy một mụn ma nào xuất hiện. Ước gì chỗ này có ma thật. Anh xem đây – Kiều đẩy tờ báo lại phía anh: Lượng khách du lịch đến ĐỒI SƠN THỦY tăng gấp chục lần trong tháng gần đây nhân vụ một nhóm du khách nước ngòai công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng là họ đã trông thấy ma ở đó,...
Tư Thắng lắc đầu với cô em:
-      Họ gặp may vì mấy ông Tây chụp được bức ảnh một quái vật thình lình nổi lên giữa hồ bơi rồi mất hút. Chẳng ai biết quái vật ấy từ đâu ra. Có khi chủ nhân của nó cố tình tạo ra một hiện tượng quái dị để câu khách.
       Kiều sôi nổi:
-      Họ tạo được ma thì mình cũng tạo được chứ anh!
  Tư Thắng lắc đầu:
-      Anh còn quá nhiều việc nên lo vụ này không xuể. Em có vẻ là người rảnh nhất ở đây đấy. Nếu em không nghỉ ra được chuyện gì để làm thì nên dựng chuyện ma ra hù dọa mọi người cũng được.
Tư Thắng nói vậy vì anh khó chịu về cô em hám danh lắm rồi. Cô ta cũng thừa biết cái chức giám đốc của mình là thứ danh hão. Cô ta mang quốc tịch Việt Nam nên dễ dàng đứng tên làm thủ tục mua đất giá rẻ, thành lập công ty, thuê tuyển nhân sự, bố trí từng người vào từng vị trí.... nhưng Tư Thắng mới thật sự là chủ đầu tư và kiến thiết công trình này. Anh phải huy động mọi nguồn vốn của vợ và thậm chí còn vay thêm của bạn bè. Vậy mà gần đây cô em cậy quyền ra mặt, lúc nào cũng hống hách, còn đòi sa thải chàng quản lý và muốn đưa người yêu của mình vào vị trí đó nhưng Tư Thắng không chịu.
Kiều chống nạnh vênh váo:
-      Anh tưởng là em không làm được một vụ kinh thiên động địa tại đây à! Anh nghe đây: em mà làm cho thiên hạ đổ xô đến mua vé vào trang trại này chỉ để xem ma thì anh phải đồng ý để em đuổi cổ ngay lập tức tay ma cô chuyên dắt gái cho anh đêm đêm nhé. Người khác ngồi vào vị trí của anh ta công việc sẽ hiệu quả hơn.
-      Còn cô làm ăn không ra gì tôi lấy lại chiếc ghế giám đốc và giao cho người khác.       
       Kiều cười khanh khách:
-      Chính anh thuê chuyên viên quảng cáo viết bài lăng xê tên tuổi em anh quên rồi sao? Một bà giám đốc trang trại xinh đẹp đã có thương hiệu như em anh khó tìm được người thay thế. Dĩ nhiên em không bằng các cô hoa khôi, người mẫu, nhưng họ khác máu tanh lòng, chẳng lẽ anh đuổi em đi để đặt họ vào. Chị Tư về đây thì em nhường ghế lại cho chị ấy. Nhưng chị ấy già rồi, còn con gái anh thì chẳng thích xứ này!
-      Tôi nói cô biết tôi mà tuyển được một trang tuyệt sắc giai nhân làm bồ nhí thì tôi đá bay cô ra khỏi ghế giám đốc và đặt người đẹp của tôi vào đó. Rõ chưa?
-      Sắc đẹp đàn bà là đầu mối tai họa. Em dư biết anh mà thiếu bóng đàn bà là không sống nổi. Thế nên tạm thời em đồng lõa với anh qua mặt chị Tư để anh tùy tiện chơi trò ông vua nghìn lẻ một đêm. Các cô nàng ở đây có vẻ cũng hưởng ứng trò này tợn.
       Nghe em gái nói Tư Thắng suýt buộc miệng nhắc cái tên Mỵ Hoa nhưng rồi anh ta kìm lại kịp. Chỉ mới một đêm ân ái với nàng mà thóang nghĩ đến nàng thôi là tâm thần anh ta đã bấn lọan.
Tư Thắng nhìn Kiều và hỏi cô ta định bày vẽ trò ma quái thế nào.
Kiều đắn đo một lát rồi quyết định nói thẳng ra dự định của mình:
-      Hồi trước em có nghe kể chuyện một thiếu nữ H’roi chết vì tình khá kỳ lạ: Như người ta đồn thì cô nàng quá đẹp nên có đoàn làm phim mời cô ta vào vai một sơn nữ si tình. Tên nàng là Mỵ Hoa. Theo kịch bản phim thì cô ta đóng cặp với một diễn viên khác sắm vai một lái buôn trẻ giàu có. Sơn nữ H’roi yêu chàng lái buôn như thế nào thì cô diễn viên không chuyên nghiệp cũng yêu anh chàng đóng cặp với mình tương tự. Khổ nỗi ngoài đời anh này đã có vợ con nheo nhóc, tuổi cũng đã cao còn cô nàng thì chưa đến hai mươi. Khi nàng sơn nữ Mỵ Hoa bị chàng lái buôn bỏ rơi thì cô gái H’roi cũng bị đòn tình cho đến chết. Trước lúc chết chàng diễn viên có đến thăm cô nhưng cô lại không nhận ra anh ta. Người cô nàng tìm kiếm là một thương gia từ nơi khác đến. Bệnh tình của cô này khiến đòan làm phim đau đầu nhưng cuối cùng đành bó tay. Nghe đâu sau khi chết cô nàng còn hiện hồn về tìm kiếm chàng lái buôn khắp nơi. Đàn ông ban đầu rất sợ cô nàng nhưng về sau yên tâm vì nàng chỉ ám cánh thương gia giàu có, mà chỉ các thương gia từ xứ khác đến như anh chàng lái buôn trẻ trong phim. Chàng diễn viên đích thực thì bị nàng quay lưng thật sự vì y phục đã vứt, phấn son đã lau chùi, vai vị đã xong anh chàng chỉ còn là một nghệ sĩ nghèo trong hẻm tối.
-      Chuyện em kể nghe quái lạ đấy. Anh không tin trên đời này có lọai phụ nữ chết vì một thứ tình ảo, tình vờ, tình kịch trường, sân khấu, điện ảnh. Nếu nói rằng có một cô diễn viên yêu một chàng nghệ sĩ nhưng do trở lực của xã hội nàng khổ đau rồi chết còn có lý.
       Kiều tư lự:
-      Có lý hay không lại là một chuyện, sự thật là chuyện khác. Nhà ba mẹ cô ta cũng ở trong vùng này, họ biết chuyện cô thường hiện hồn về nhưng cố tình ém nhẹm. Thuở còn sống cô ta đã đẹp nhưng chết rồi hiện hồn về cô càng đẹp hơn. Nghe nói ma nữ này hút sinh khí của những gã si tình nên mới đẹp đến thế. Dĩ nhiên ai bị ả ám và si mê ả rồi thì có mà thoát đường trời. Có vài thương nhân đi nghỉ mát vùng này bị cô ta hiện ra và dùng nhan sắc quyến rũ mà không biết. Mấy ông nhà buôn háu gái ân ái với ma nữ đến kiệt quệ chết đi rồi người ta mới biết sự tình. Cái sự thể mấy ông già người H’roi hôm kia nổi giận cũng có một phần liên quan đến cô ta đấy: biết con ma này hại đàn ông nên một vị phù thủy đã ếm bùa. Ác nỗi mấy tay đào móng quật nát chiếc trắp chứa lá bùa linh nên mới có chuyện đáng tiếc xảy ra.
-      Hay nhỉ? Nhưng tại sao họ đòi ếm bùa phá công ty mình?
-      Vì họ sợ cô ả tìm không ra bạn tình phát điên lên là gây rối. Nếu ả tìm được bạn tình thì sẽ để họ yên ổn thôi.
Tư Thắng đang mải còn mơ tưởng đến tấm thân yêu kiều của Mỵ Hoa nên chẳng để lọt tai bao nhiêu câu chuyện có vẻ hoang đường của cô em gái.
-      Nghe anh nói đây: em làm gì với hồn ma cô gái H’roi thì làm. Phần anh đã có ý trung nhân lý tưởng rồi. Vậy miễn cho anh dính vào vụ dựng ma câu khách nhé!
Kiều không chịu:
-      Em đang muốn dựng đứng một vụ thế này: hồn ma cô gái sắm vai sơn nữ H’roi trong khi vật vờ theo gió tìm hình bóng chàng lái buôn thân yêu, chợt nàng trông thấy anh Tư Thắng, vậy là từ đó nàng quẩn quanh bên anh ta. Hai người như có duyên tiền định với nhau hay sao đó mà Tư Thắng đêm ngày mơ tưởng cô ả. Không tin, du khách hãy đến Trang trại Đồi Tranh, xem ông chủ Việt Kiều tay trong tay với người đẹp đến từ bên kia thế giới.
Tư Thắng cười xòa:
-      Cô cứ thế mà làm nhưng nhớ không được đem con người thật của tôi ra làm trò đấy nhé! Cô cứ tìm một thằng trẻ trẻ nào đó và trả lương tử tế. Sau đó bảo nó xưng là Tư Thắng, ăn mặc sao cho thật giống tôi và loan tin rằng anh ta đã ngủ với ma. Cô hãy bảo anh ta dở sống dở chết bởi ma tình.
Những đêm tiếp theo các cô gái ở quầy bar thôi đến chỗ Tư Thắng và Mỵ Hoa đã chiếm lĩnh hoàn toàn con tim ông chủ Trang trại đồi Tranh. Tư Thắng vốn là tay bạc tình số một, chóng chán mau quên, được cái Tư Thắng giỏi làm giàu và trừ thói xấu máu dê xồm ra thì anh ta sống khá rộng rãi.
Từ ngày về nước mở khu du lịch, ngày nào Tư Thắng cũng vùi đầu vào núi công việc còn lắm sự bừa bộn. Riêng chủ nhật anh cho phép mình nghỉ ngơi. Anh thường lái xe đến các sân vận động chơi thể thao hoặc tắm biển và nếu thích anh nhanh chóng chọn cho mình một phụ nữ như ý. Họ đi chơi, ăn uống và thuê nhà nghỉ. Các cô này có địa vị sáng giá hơn mấy nhân viên nữ phục vụ quầy bar, nhưng Tư Thắng không biết nhiều về các nàng.
       Hôm nay mãi đến 9 giờ đêm Tư Thắng mới rời được một nữ giám đốc trẻ. Tư Thắng bị giữ chặt đến nỗi phải tự hỏi chị ta say đắm mình hay say đắm cái khu du lịch của mình. Gần 12 giờ đêm Tư Thắng mới về tới nhà. Lúc này anh ta chỉ thèm được ngủ cho đẫy giấc.
.... Vừa ngả người xuống giường Tư Thắng bỗng giật mình bởi một làn hương lành lạnh thoảng qua. Vài phút sau Mỵ Hoa đã khỏa thân trong vòng tay anh ta mà không thèm biết anh ta khỏe hay mệt.
Vừa chạm vào người đẹp này là Tư Thắng như phát nổ, anh ta nói trong hơi thở hào hển:
-      Anh xin lỗi!
Mỵ Hoa tươi cười:
-      Em chờ anh lâu quá.
Tư Thắng nguyền rủa một ngày chủ nhật chết tiệc bên ả giám đốc lẳng lơ. Ả mà không chủ động tấn công mời mọc Tư Thắng thì đâu đến nỗi giờ này anh ta mới được sung sướng bên Mỵ Hoa.
-      Anh nói là sẽ dẹp hết mấy phụ nữ xấu xí kia và chỉ để riêng mình em gần gũi bên anh vậy mà anh không giữ lời hứa. Suốt ngày nay em buồn muốn chết. Em đã theo anh khắp mọi nơi mọi chốn nhưng giữa ban ngày ban mặt chẳng thể hiện diện bên anh.
Lúc này Tư Thắng mới sửng sốt. Cái việc sắp xếp đi chơi với bà chủ trung tâm vui chơi giải trí chỉ mình anh ta biết. Tại sao cô nương này có vẻ nắm rõ ngọn ngành. Lại nữa, cô ta cố tình nhấn mạnh là không ra mặt công khai. Như vậy cô ta theo anh bằng cách nào? Mà chẳng lẽ cô ta ghen đến mức độ đó sao? Những phụ nữ dang díu với Tư Thắng chẳng đời nào dám ghen tuông, rình mò. Họ không có cái quyền ấy.
Tư Thắng chợt cười: có gì đâu! hẳn cô nàng này cậy nhan sắc. Chẳng biết rồi cô ta còn đòi hỏi gì hơn nữa. Những lúc như thế này nàng có đòi mình moi tim ra dâng nàng thì mình cũng gật tất.
-      Em chỉ có thể ngủ đây với anh đến quá nửa đêm thôi. Anh hãy dặn ông Hoành tối mai đừng sai mấy bà kia lên phòng anh nữa. Em chỉ muốn anh là của riêng em.
Tư Thắng lúc này đã vắt kiệt mình trong cuộc yêu đương với người đẹp và chỉ có mỗi một ao ước là cùng cô nàng đến một nơi nào đó, như thiên đường chẳng hạn.
Người đâu gặp gỡ mà chi,... anh ta lẩm bẩm. Sao có phụ nữ đẹp đến vậy nhỉ? Được ta vò xé, yêu chiều bao nhiêu nàng càng khỏe mạnh lên bấy nhiêu. Lúc đó nàng đủ sức thu nhận cả trăm thằng đàn ông ấy chứ. Nàng lạ quá. Không giống mấy cô ả nhân viên cứ một chầu mây mưa là xụi lơ như chết. Ta cần phải bồi bổ tấm thân này để níu giữ lấy nàng kẻo không nàng chán, nàng tìm đến thằng khác.
-      Em về đây!
Mỵ Hoa đặt nhẹ lên trán Tư Thắng một cái hôn giá lạnh và nở một nụ cười đổ quán xiêu đình.
Cái tin Trang trại Đồi Tranh có ma xuất hiện cùng lúc với việc ông chủ Tư Thắng bị ma quyến rũ. Mấy cô nhân viên xầm xì một cách đầy sợ sệt rằng bà Kiều giám đốc kể oang oang tận mắt thấy ông chủ trang trại khóac tay một nàng ma tuyệt sắc giữa đêm khuya dạo chơi khắp đồi Tranh.
Tay quản lý Hoành nghe chuyện cười đểu:
-      Bà Kiều sáng tác kịch bản này. Không biết làm ăn kiểu bà có được pháp luật cho phép không? Bảo ông Thắng lệnh bà Kiều dừng vụ này nhanh kẻo tai họa xảy ra khó mà lường. Ngay từ đầu tôi đã không ủng hộ kịch bản của bà Kiều. Đùa với ma quỷ không xong đâu.
Kiều hốt hỏang chạy lên phòng riêng của anh trai:
-      Kiểu gì vậy anh Tư? Hôm nọ em có vài ý tưởng bày trò làm ma để hút khách, nhưng em đã làm gì đâu. Sao bỗng dưng công ty náo lọan cả lên rồi. Hoành bảo em dàn dựng trò này. Vậy anh đính chính với Hoành đi. Khách đến khu du lịch ngày càng đông mà nhân viên thì càng ngày càng hoang mang lo sợ. Mới một buổi sáng mà em nhận được hơn chục lá đơn xin nghỉ việc.
       Tư Thắng trấn tĩnh cô em gái:
-      Yên tâm! Trò này không phải của cô thì trăm phần trăm là của gã quản lý. Hắn hợp ý tôi vì luôn đón trước những điều tôi muốn. Nhưng mà mới nghe qua đã thấy hấp dẫn rồi đấy chứ. Cô cứ làm như tôi không biết gì để mặc Hoành đắc thắng nhé! Chúng ta chờ thêm vài sự lạ nữa đã loan đồn cho thiên hạ hay.
Chưa yên tâm mấy trước những lời đầy vô tâm của anh nhưng không tiện ngồi lâu với Tư Thắng. Kiều quay về phòng làm việc, khi ngang qua chỗ Hoành cô lườm gã một cái sắc lẻm.
Hoành ngồi đọc mấy lá đơn xin nghỉ việc của gần mười nhân viên và ghi dưới dòng chữ: không chấp thuận. Bất chợt Hoành nhớ lại những gì mình thấy đêm hôm trước: lúc đó chưa đến mười giờ đêm. Một vài nhân viên còn chạy lui chạy tới trong khu hành chính. Không hiểu sao Hoành nghe trong người nóng bức không chịu nổi, gã bèn rảo bước về phía sườn đồi nơi dẫn xuống hồ Mai lúc nào cũng toả hơi nước mát rượi. Đi chưa được bao xa chợt một ánh chớp lóe lên. Cả một lằn sáng xanh lè bay thẳng về phía Hoành và nhằm hướng phòng ngủ của Tư Thắng hạ xuống. Lúc này Hoành nhận rõ hình bóng một thiếu nữ tuyệt sắc vờn bay quay lại nơi cửa sổ. Gã chạy vội vào tìm mấy nhân viên bảo họ cùng rình chờ xem. Trong lúc cả hội đang chăm chăm nhìn sự lạ nơi phòng ông chủ thì một cái gì không rõ xẹt phía sau lưng. Hoành và vài người quay lại thì rõ ràng ông chủ và thiếu nữ nắm tay nhau bay hút vào bầu trời.
Trong chốc lát câu chuyện được loan đồn với sự thêm thắt mỗi lúc một rùng rợn. Hoành không dám hỏi Tư Thắng bất cứ điều gì liên quan đến nàng ma. Gã cố thuyết phục mình là ông chủ tài ba có lắm trò ma thuật nhưng dấu. Thế mà hễ nhìn thấy ông chủ là gã rờn rợn. Gã thương Tư Thắng hơn cả anh ruột. Một niềm lo âu bóp ghẹt con tim gã khi càng ngày Tư Thắng càng bơ phờ, râu ria lởm chởm và chỉ đòi ăn những thức ăn còn tanh sống, chẳng bù cho hồi mới về Tư Thắng lại quen bánh mì, uống rượu mạnh và hút xì gà.
Hoành muốn nói điều gì đó với Tư Thắng nhưng nghĩ mãi không ra. Nhìn gương mặt đờ đẫn của ông chủ gã chỉ còn biết thở dài. Tư Thắng dường như không chút hay biết mọi người lúc nào cũng để ý và lo âu trước thần thái của anh. Gặp Hoành Tư Thắng hỏi qua loa tình hình công việc của mấy cô nhân viên quầy bar, Hoành nhận thấy ông chủ dường như chẳng còn nhớ nổi cô nào vào cô nào. Tự nhiên Hoành thấy tâm trạng mình cứ u ám, não nề, gã sợ một điều gì đó hết sức tệ hại xảy ra với Tư Thắng. Phải chi anh ta cứ tung hê, chơi đùa với mấy cô nàng như dạo trước thì Hoành không phải lo âu đến thế này.
Đợi gã quản lý đi khuất, Tư Thắng mới đẩy chồng hồ sơ sang một bên. Anh ta chẳng còn tâm trí mà làm việc. Đêm qua đang nằm bên Mỵ Hoa thì Tư Thắng nhận được điện thọai của vợ. Chị vợ từ Úc gọi gấp cho Tư Thắng nói là ba mẹ con cùng bay một chuyến về Việt Nam để dự đám cưới Út Kiều trong tháng sau. Mỵ Hoa đang nằm bên Tư Thắng hay tin vợ anh ta sắp về thì hờn ghen ra mặt. Cô nàng lôi anh ta vào cuộc hành lạc cho đến khi toàn thân anh ta như chỉ còn là tấm dẻ rách bầm nát mới thôi. Trong giấc ngủ nặng nề, Tư Thắng mơ thấy mình bị Mỵ Hoa dẫn đến một vùng tối đen như mực. Ở đó cô ả hút dần bầu máu nóng bỏng của Tư Thắng và trong cái xác vật vờ Tư Thắng vẫn còn kịp nhận thấy người tình của mình đẹp như chim sa cá lặn, gã ôm ghì lâý chiếc thân ma quái ấy và bất chấp nàng là người hay ma, gã quỳ dưới chân nàng nguyện làm kẻ nô lệ của ả đời đời.
Tối chủ nhật nào Mỵ Hoa cũng cùng Tư Thắng ngập trong tình yêu. Bây giờ chiều theo đòi hỏi của Mỵ Hoa, Tư Thắng phải tự đến chỗ nàng. Suốt ngày chủ nhật Tư Thắng ngủ li bì để dưỡng sức và đêm xuống, anh một mình lái xe đến tận ngôi nhà hoang vắng ẩn khuất trên một sườn núi. Có lần Tư Thắng hỏi nàng tại sao chỉ sống một mình ở đó, nàng ỡm ờ rằng như thế tiện cho chuyện đôi lứa hơn.
Hôm nay cũng vậy, vừa lúc sẩm tối Tư Thắng lái xe đến chỗ hẹn với người yêu. Hai người chơi đùa tung tẩy khắp thung lũng.
Mỵ Hoa hỏi người yêu:
-      Anh có muốn ở lại đây mãi với em không? Trang Trại của anh càng ngày càng đông vui, họat náo. Em không có chỗ ở chốn đông người.
       Tư Thắng dỗ dành:
-      Công việc ngày càng tốt đẹp. Khách tham quan càng lúc càng đông nhờ đó thu nhập của anh càng cao. Em không vui khi trở thành tình nhân một ông chủ giàu sụ hả?
-      Em chỉ muốn hai đứa mình chơi khắp trời đất và đêm nào cũng được anh ôm ấp.
-      Khuya rồi! Về chỗ anh nhé!
-      Anh về đi! Gần sáng rồi. Mà này, em không thích phấn son gương lược. Anh mua làm chi cả một giỏ đồ nữ trang vậy.
Tư Thắng cố nài nỉ:
-      Hàng xịn cả đấy em yêu! Lại đây anh vẽ lông mày cho. Anh muốn thấy em đẹp hơn sau khi trang điểm.
Vừa nói Tư Thắng vừa kéo Mỵ Hoa ngả vào lòng mình. Anh ta nhặt một thỏi son lên tô điểm vành môi người yêu, đoạn anh ta dùng bút kẻ lông mày vạch một đường cong đen đậm và tỏ ra thú vị với trò nịnh đầm của mình. Mỵ Hoa hỏi anh ta có thấy nàng đẹp hơn thường ngày không, Tư Thắng nhặt chiếc gương con trao cho Mỵ Hoa:
-      Em soi gương đi, biết!
Mỵ Hoa cầm chiếc gương lên soi nhưng rồi cô ả quẳng thật mạnh, chiếc gương thủy tinh vỡ thành muôn mảnh. Nỗi buồn của ả như nhuộm thấu tim mạch Tư Thắng, anh ta chẳng biết vì đâu mà cô nàng đổi thay nhanh đến nhường ấy. Giá như lúc ấy Tư Thắng cũng nhìn vào gương như Mỵ Hoa, anh sẽ chẳng thấy hình ảnh nào trong đó. Mỵ Hoa chỉ là một chiếc bóng mà đã là bóng thì làm sao phản chiếu được qua gương?

Cậu bảo vệ trông thấy Tư Thắng cười cầu tài:
-      Anh đi chơi gái về à! Chủ nhật nào với anh chẳng nhất dạ đế vương phải không? Em cô đơn hằng đêm mà chẳng ma nào tới yêu.
Tư Thắng cười:
-      Coi chừng đó. Trang trại mình có ma. Nhiều người trông thấy mấy nàng ma dắt tay nhau đi tìm những anh chàng cô đơn để tấn công.
-      Tối nay có nàng ma nào tới anh dắt khắp đồi Tranh cho mọi người xem nhé. Anh Hoành kể có lần thấy anh và một ma nương bay giữa những đốm lửa ma trơi xanh lè.
Tư Thắng chau mày:
-      Còn lắm sự quái gở trong khu đồi Tranh này. Ma cứ ám mình vì lý do gì mới được? Tư Thắng thấy giọng mình bỗng trở nên gay gắt khi anh ta kịp nhận ta có ai đó chạm vào người anh lạnh buốt.
Từ ngày biết Mỵ Hoa, chẳng lúc nào Tư Thắng ăn ngon ngủ yên. Đêm nay cũng vậy, đồng hồ điểm bốn tiếng mà anh ta vẫn còn nhìn trừng trừng vào một điểm xa xăm. Mãi gần sáng chập chờn bởi giấc ngủ không sâu Tư Thắng nghe như có ai chê trách anh ngu, thường xuyên ngủ với ma, bị ma vắt kịêt tinh lực mà chẳng biết. Anh vùng dậy nhìn khắp quanh phòng nhưng chẳng thấy ai. Tư Thắng uể oải ngồi vào bàn mơ màng cho đến sáng bảnh.
Một con nhện to tướng sà xuống trước mặt Tư Thắng. Con quái trùng hai mắt lồi to nhìn anh như thể ngạc nhiên sao đến lúc này anh vẫn khỏe mạnh.
-      Mày định báo điềm gì? nhện vàng may mắn nhện trắng tai họa. Mày lại là một con nhện xanh! - Tư Thắng hỏi con nhện mà không cần nghe trả lời.
Con nhện nhanh chóng nương theo sợi tơ bò về phía trần nhà chẳng thèm để ý đến ánh nhìn lạ lẫm của Tư Thắng hướng theo mình.
Chợt cái giọng bí ẩn lúc nãy hình như từ phía nhện xanh bay đến:
-      Đồ ngu! Mi sẽ phải chết vì con ma tình. Ta đã chứng kiến không dưới mười thằng đàn ông chết trong vòng một năm vì đắm mê ma sắc.
Một niềm hoang hoải trùm khắp căn phòng quen thuộc của Tư Thắng. Gã nghe trong dạ bồn chồn. Phía con nhện lại phát ra cái giọng quen thuộc:
-      Mi chết rồi thì nó đi tìm thằng khác. Đam mê sắc dục thì tất phải trả giá. Ta không ngờ một kẻ lương thiện, tốt bụng như mi phải chờ cái chết thảm vì con ma đàn bà yếu ớt,...
Tư Thắng dán mắt vào con nhện thì càng lúc nó càng bò xa chỗ anh hơn. Chỉ 5 phút sau nó đã kịp nương sợi tơ bò ra khu vườn ngập sắc lá xanh.
Tư Thắng chỉ mang máng hiểu là hình như con nhện nhắc nhở hay khiển trách anh về chuyện sắc dục quá độ thì phải. Nhưng như thế thì vô lý quá. Những tháng gần đây anh chỉ yêu có một mình Mỵ Hoa. Chưa bao giờ anh quan tâm đến thân thế người đẹp này. Nhà nàng anh đã đến. Tối nào cũng chỉ mình nàng ở đó. Anh đã từng đến những ngôi nhà của các phụ nữ độc thân. Khi anh hỏi họ về người thân là họ gạt phắt đi, không muốn anh biết. Họ cho rằng chỉ muốn riêng anh và họ biết nhau thôi. Từ đó trở đi anh thôi bận tâm các cô gái của anh còn ai thân thiết trên đời.
Một ngày rời rã dài lê thê. Hoành sửng sốt trước tình trạng sức khỏe sa sút nhanh đến trông thấy của Tư Thắng nên chỉ định Anh Nga lên đấm lưng, xoa bóp ông chủ. Nhìn ánh mắt nồng nàn của Anh Nga Tư Thắng thương hại cô gái quá. Gã kề miệng sát tai cô:
-      Vợ con anh sắp sang rồi! Có vợ anh ở đây em dặn các cô khác đừng hở cho chị biết anh sống kiểu này nhé!
-      Bọn em biết thân phận mình mà ông chủ.
       Mắt Tư Thắng lim dim:
-      Anh không chê gì em nhưng anh mệt. Bữa nào đi chơi với Mỵ Hoa về là bữa đó anh như mất hết sinh khí. Nhưng anh yêu cô ta quá.         Anh Nga dằn dỗi ngồi dậy lấy thỏi son trong bóp ra tô lại nét môi, khi cất hộp son vào bóp và bước lại trước chiếc gương thử ngắm mình, Anh Nga ngạc nhiên thấy một thiếu nữ tuyệt sắc đứng ngay phía chân giường. Cô nhìn về phía Tư Thắng và nghe trong lòng dâng lên một niềm cay đắng:
-      Thì ra vậy. Bây giờ tôi hiểu tại sao ông chủ cứ lạnh lùng.
       Mỵ Hoa quắc mắt nhìn Anh Nga nhưng không nói gì!
Anh Nga chợt thấy cô gái đẹp này có cái gì đó khiến mình cư rờn rợn. Mãi một lúc sau cô mới hiểu ra chính hơi lạnh tỏa ra từ người ả làm cô sợ.
Anh Nga thầm hỏi: Chẳng lẽ cô nàng này là ma. Gần đây những lời đồn đại về ma quỷ xuất hiện trong Trang Trại Đồi Tranh. Mà sao cô nàng này đẹp đến như thế, vẻ đẹp ma quái, dụ hoặc, thằng đàn ông nào trông thấy cô ta mà không mê mẩn tâm thần.
-      Cô là ai?
-      Tình địch của chị! Thốt xong câu ấy Mỵ Hoa vươn tay ra nhấc bỗng Anh Nga như nhấc một con thỏ và trong khỏanh khắc ả thả Anh Nga xuống ghế và biến.
       Anh Nga rú lên thất thanh.
-      Cái gì vậy? Tư Thắng ngồi bật dậy.
Mặt Anh Nga trắng nhợt không hột máu:
-      Em vừa đối mặt với một hồn ma trong phòng này.
-      Chán cô thật! Giá như tối nay không phải cô mà Mỵ Hoa đến đây thì tuyệt vời. Cô ấy chẳng biết sợ là gì. Một mình giữa chốn hoang vu mà cô ấy vẫn hồn nhiên.
Anh Nga nhìn đôi mắt như đang lên cơn sốt của Tư Thắng mà rùng mình. Lẽ nào công việc đã lấy đi hết sinh khí của người đàn ông tràn trề sức lực. Lúc này mà Tư Thắng ôm lấy Anh Nga chắc nàng chết vì sợ.
Thời trai trẻ Tư Thắng là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Anh ta đá bóng khá hay và gặt hái được một số thành công ngọan mục. Cuối cùng Tư Thắng được một câu lạc bộ bóng đá của người Việt ở Úc mua về. Đời sống của một cầu thủ như anh hẳn nhiên là lắm chuyện thị phi. Anh ta chẳng làm sao nhớ được đã có bao nhiêu bóng hồng đi qua đời mình. Sau khi giải nghệ anh chàng bèn chuyển hướng kinh doanh làm ăn, tuy nhiên, anh không thôi ngày đêm luyện tập để cơ bắp lúc nào cũng rắn chắc.
Nhìn Tư Thắng là thấy rõ sức sống cuồn cuộn. Năng lực ấy tỏa vào công việc, tỏa khắp phòng the và giúp anh ta thiết lập các quan hệ.
Cái gì đã khiến ông chủ của mình tiều tụy đến như vậy? Như mọi cô gái trong khu du lịch này, Anh Nga rất yêu ông chủ. Ở đâu lối sống kiểu ông vua nghìn lẽ một đêm bị phê phán không biết nhưng trong trang trại thì mọi người đều lấy thế làm vui. Cái cách lý sự của mọi người cũng hay đáo để, rằng bà chủ đang độ hồi xuân ở ngọai quốc chắc chẳng dại mà ôm tấm thân vò võ cô đơn đêm ngày chờ đức ông chồng, vậy nên ông ăn chả bà ăn nem.
Dù tuổi đã suýt sóat năm mươi nhưng trông Tư Thắng còn rất trẻ. Tư Thắng  cũng thuộc hạng người tài tình một phách. Anh ta tổ chức công việc đâu ra đấy. Cả vùng đồi Tranh ngày xưa hoang vu là vậy mà giờ đây trở nên một cảnh quan thơ mộng bậc nhất. Du khách nước ngoài cũng tấp nập đến đồi Tranh. Đời ông chủ mỗi ngày một lên hương, nào ngờ,...
Sức khỏe Tư Thắng sa sút thấy rõ khiến Anh Nga đêm nay mới gặp lại anh buồn một thì những người khác phát hiện từ sớm buồn mười. Mỵ Hoa đến với anh thường xuyên hơn. Cô ta cũng thôi đòi Tư Thắng đến ngôi nhà vắng của mình tình tự. Nhiều đêm quá mệt nhưng Tư Thắng vẫn cố sức chiều Mỵ Hoa, anh bỗng thấy một mối sợ hãi âm thầm trước cô nàng này nhưng muộn mất rồi, vì cô nàng dường như hút không biết chán nguồn sinh lực của anh và nhấn anh chìm ngập trong bể tình lầy lội.

Đám cưới của Kiều tổ chức ngay tại Trang trại đồi Tranh đã phần nào gây xáo trộn nếp sinh họat của Tư Thắng. Vợ con anh về thật đúng lúc. Gặp vợ Tư Thắng được tiếp sức. Mọi người thấy Tư Thắng hồng da đỏ thịt lại rất nhanh, ai cũng vui mừng ra mặt kể cả mấy cô nàng tiếp viên, họ biết mình không có quyền ghen với bà chủ, và vì lẽ ấy họ bỗng thấy biết ơn chị ta nhất là giờ đây ông chủ trở nên tràn trề sức sống như chưa từng kiệt quệ trong mấy tháng qua.
Chỉ có Tư Thắng là vẫn buồn rầu nhớ Mỵ Hoa. Cô nàng không thấy xuất hiện vào những đêm muộn như trước kia. Lúc này Tư Thắng mới ngớ ra là mình chưa một lần gặp Mỵ Hoa giữa ban ngày ban mặt.
Vợ Tư Thắng có rất nhiều kế họach cho những năm tiếp theo nên nhân chuyến về quê lần này chị thăm thú khắp đó đây. Mấy mẹ con tự tay lái xe vào những nơi đèo heo gió hút. Khu đồi Tranh rộng lớn được họ khảo sát tường tận.
Những buổi tối dù Tư Thắng có ngủ chung với vợ hay không Mỵ Hoa cũng không tìm đến với anh ta nữa. Có lúc anh ta nghĩ đến cô nàng nhưng rồi hình bóng chị vợ trùm khắp. Nếu trong công việc Tư Thắng giỏi giang bao nhiêu thì với phụ nữ anh ta lại đơn giản bấy nhiêu. Chưa bao giờ Tư Thắng tổn thương vì bị một người đàn bà phụ bạc, vậy nên nghe những lời xầm xì đầy sợ sệt của mọi người về một nàng ma nữ thất tình đã báo thù bằng cách tình tự với những gã đàn ông mang bóng dáng người tình của ả anh thấy sao mà buồn cười.
-      Giả tỉ có con ma đàn bà thật đi nhưng chẳng lẽ không một ai trong số những người bị quyến rũ phát hiện ra nó? Tư Thắng hỏi dồn.
       Cậu em rể ra điều hiểu biết giảng giải cho Tư Thắng:
-      Nghe đồn con ma này nhờ hút tinh khí, sinh thực của đàn ông mà trong đêm tối nó trở nên đẹp đẽ lạ thường. Chính xác thì nó cũng chỉ là ma, mỗi khi nó hiện ra nếu nhìn kỹ sẽ thấy nó không như người thường nhưng vì ma sắc mạnh quá đủ sức làm đàn ông hồn xiêu phách lạc ngay khi trông thấy. Đã một lần sa ngã thì về sau chẳng ai đủ tỉnh táo để mà cân nhắc ma hay người.
 Thế là những chuyện về ma quỷ lại rộ lên khắp vùng.
Tư Thắng nghe Hoành kể lại rằng đã có người nghe thấy tiếng khóc của một hồn ma trong vài ba đêm gần đây. Mà rõ ràng là con ma ấy chỉ gọi riêng Tư Thắng. Có một nhóm du khách trong một chiều cùng nhau chụp hình cảnh đẹp suối Mai dưới bóng hoàng hôn đã tình cờ trông thấy một phụ nữ nét mặt u sầu ngồi bất động bên ghềnh đá. Một trong những ông khách bước đến bên cô ả gạ tình và vô cùng kinh ngạc khi thấy cái sự dễ tính đến mức khác lạ của cô nàng này. Ông khách nghi ngờ cô nàng ấy làm đĩ, và ông bảo rằng ngay đêm hôm đó cô nàng đã đến phòng ông...
Câu chuyện li kì đã được thêm dấm thêm ớt nhất là khi ông khách tỏ vẻ quá cứng cỏi trước một người đàn bà đẹp. Mỵ Hoa không quyến rũ được những người này bèn quay lại tìm Tư Thắng.
Một buổi trưa Tư Thắng đang ngồi nhâm nhi cà phê, hương thơm nồng nàn tỏa khắp phòng. Bỗng anh thấy tinh thần hưng phấn, khí lực trào dâng, anh nẩy sinh sự thèm khát tối tăm, ước ao lúc này có Mỵ Hoa để ôm vào lòng ân ái. Rồi như thể cầu được ước thấy, một cơn lốc ào vào mang theo một mùi vị tanh tưởi của xác chết.
 Tư Thắng run bắn cả người khi cơn gío tan đi thì cũng là lúc Mỵ Hoa chầm chậm đến ngồi cạnh. Cô ta xuất hiện trong hình hài khủng khiếp đến không ngờ. Quá sửng sốt nên Tư Thắng chỉ kịp thốt lên:
-      Trời!
Chính là Mỵ Hoa nhưng hôm nay trông cô ta sao mà xấu xí. Chiếc mũi cao thanh tú mọi đêm giờ đây bỗng khoằm lại, làn da trắng mịn thì bạc thếch, meo mốc. Tư Thắng để ý những chiếc móng tay của cô nàng và không khỏi rợn tóc gáy vì các móng đều dài và cong thành vuốt, nhọn hoắt. Đôi mắt của Mỵ Hoa trống rỗng như hốc mắt của một chiếc đầu lâu. Mỵ Hoa nhìn Tư Thắng như muốn tóm lấy anh ta:
-      Anh quá hạnh phúc với cô vợ ở Úc về mà không biết rằng em đang dần mòn hư hoại. Lâu nay quá quen hơi anh nên em không cảm được xác thân người đàn ông nào khác nữa. Anh quên em! Biết anh bạc tình đến thế hồi trước em chọn yêu người đàn ông khác.
       Tư Thắng ái ngại:
-      Chẳng lẽ vì mòn mỏi đi do nhớ thương anh mà dung nhan em tiều tụy, đổi thay đến dường này sao?
Càng lúc Mỵ Hoa càng mờ nhạt:
-      Anh muốn hiểu thế nào cũng được nhưng chắc chắn vợ anh có đó thì em chẳng bao giờ gần gũi với anh được nữa?
Tư Thắng không biết nói gì. Anh nhìn bộ mặt buồn thảm của Mỵ Hoa và thấy trong lòng trào dâng một nỗi xót xa. Giữa lúc anh định tiến lại ôm cô gái vào lòng nói vài lời an ủi thì thình lình một tia sét chớp nhoáng, Tư Thắng choáng váng cả đầu óc. Mấy phút sau anh ta mới định thần thì Mỵ Hoa đã biến lúc nào rồi.
Buổi tối vợ chồng Tư Thắng lên giường sớm. Sau những chuyến ngao du khắp mọi nơi trong vùng chị ta trù tính bay về Úc thu xếp việc nhà rồi trở lại Việt Nam. Tư Thắng vì công việc nên chẳng biết nói gì khác hơn là khuyên vợ cứ làm những gì mà chị thấy thích hợp. Khi chị vợ nói ý định sẽ nghỉ việc ở Úc và rút tòan bộ số tiền trong tài khoản về đầu tư xây dựng thêm một số công trình trọng điểm tại khu du lịch đồi Tranh. Tư Thắng bỗng ngạc nhiên trước mọi trù tính táo bạo của vợ. Theo như ý tưởng mới hình thành trong đầu thì chị vợ dự định sẽ dựng một cụm tháp Chàm ngay tại sườn núi gần thôn ấp khuất nẻo có một cộng đồng người H’roi cư trú.
-      Anh có thấy sườn núi ấy địa thế lý tưởng không? Ở đó chưa có cửa nhà nên mình có thể “bành trướng lãnh thổ” lên chút ít cũng không có ai ngăn cản.
Tư Thắng lo lắng chốn đó có ngôi nhà nhỏ của Mỵ Hoa. Dạo trước vợ anh chưa về, nhiều buổi tối chủ nhật anh đến với nàng trong cảm giác hồi hộp nhưng không dấu được niềm ham muốn kỳ lạ,...
Bây giờ vợ anh tính chuyện chiếm lấy cả phần đất của nàng hẳn là nàng tức giận lắm nhưng anh làm sao cản trở chị được khi mà tiền mua cả khu đất xây trang trại này hơn một nữa là của chị.
-      Việc xây một cụm tháp Chàm mô phỏng khu thánh địa để sau. Sức khỏe anh mấy tháng gần đây sa sút quá, mà bác sĩ thì lại không tìm thấy bệnh tình gì ở anh!
       Chị vợ nói thật:
-      Hồi mới về vừa nhìn thấy anh em chết điếng. Hễ đi ngủ là em cứ mơ thấy một con ma nanh vuốt trắng ởn lởn vởn quanh người anh. Em phải bí mật tìm thầy nhờ trừ ma cho anh.
Càng về khuya Tư Thắng càng nghe một nỗi muộn phiền dâng ngập lòng mà không hiểu vì cớ gì. Công việc đang trôi chảy càng là vấn đề để anh vui mới phải. Vậy tại sao anh lại buồn đến thế này?
Tư thắng rời giường bước đến bên cửa sổ nhìn mông lung ra màn đêm: anh đang thương nhớ ai? Hốt nhiên một hình ảnh đập vào mắt khiến Tư Thắng bủn rủn cả người:
  Chiếc bóng quắt queo như cành khô rã mục lãng đãng bên mô đất cách chỗ anh khá xa phát ra những tiếng khóc nỉ non khiến người nghe thấy lạnh xương sống. Tiếng khóc ấy tựa như tiếng gió luồn qua khe vách dài: áo não, u uẩn, ai oán tưởng chừng xoi thủng óc.
Lẽ nào đấy lại là tiếng khóc của Mỵ Hoa? Tư Thắng có cảm tưởng như bị ai đó rứt bỏ trái tim ra khỏi lồng ngực. Người ngồi khóc đó không ai khác chính là Mỵ Hoa. Anh không hiểu cơn cớ gì khiến nàng nên nông nỗi này. Anh không khỏi thương cảm tự hỏi: nàng yêu anh đến độ mới vừa hờ hững vài tháng mà nàng tàn tạ đến thế ru?
Tư Thắng bỗng thấy mình có lỗi với nàng. Mấy tháng vui thú ái ân với nàng chưa tròn đầy viên mãn nhưng sức anh gần như cạn kiệt. Không có người vợ hừng hực chắc anh đổ gục trong cuộc tình với Mỵ Hoa. Anh chưa thấy người đàn bà nào mê hoặc kinh khủng như nàng. Thế mà bây giờ,...
       Tư Thắng trào nước mắt bỗng thèm muốn ôm ghì lấy nàng mà chở che và chiếm đọat. Chị vợ đang nằm trên giường lúc này sao mà đáng ghét. Tư Thắng muốn bỏ chị ta nằm đó và đi cùng Mỵ Hoa đến ngôi nhà vắng. Không kiềm chế nỗi, anh nhào đến...
Mỵ Hoa cười khanh khách:
-      Ta tiếc cho mi đấy! Thằng bạc tình phúc phận quá sâu dày. Ta tưởng sẽ dành mi mãi mãi cho riêng ta nhưng giờ thì hỏng cả rồi. Lần nữa ta lại bị trấn bùa. Chính thầy cúng làng ta nhận tiền của mi và ba tháng mười ngày đã hoàn tất việc đó. Thôi, ly biệt từ đây, đã đến lúc ta trở về với lòng đất sâu.
Tư Thắng ôm đầu rú lên:
-      Mỵ Hoa! Mỵ Hoa!...
Lúc này thì chị vợ Tư Thắng tỉnh dậy và rất nhiều người khác kéo đến vây quanh anh ta và họ có vẻ hiểu rằng anh vừa gặp ma.
Tư Thắng nhìn mọi người mãi mới nói được:
-      Cô bạn gái Mỵ Hoa đấy mà. Cô ấy còn trẻ nên nghĩ ra lắm trò trẻ con để quấy phá Tư Thắng này. Thấy mọi người đến cô ta bỏ đi rồi.
Kiều nhìn Tư Thắng như không tin nổi những lời anh nói:
-      Anh nói cái gì? Mỵ Hoa nào? Khắp trang trại đồi Tranh chẳng có cô gái nào tên là Mỵ Hoa. Nhưng em biết có một cô tên gọi Mỵ Hoa chính là cô nàng diễn viên nghiệp dư đóng vai sơn nữ H’roi. Cô ta chết đã lâu và thường hay hiện hồn về dụ dỗ đàn ông vui thú ái ân.
                    

Hôm sau Tư Thắng cùng cô em gái lên ngôi nhà của Mỵ Hoa nằm khuất trên sườn núi. Đây là lần đầu tiên anh đến chỗ cô nàng vào ban ngày. Dưới thanh thiên bạch nhật, cảnh vật dường như khác lạ hoàn toàn với những gì anh vẫn thấy vào những đêm tình tự. Con đường như được thu ngắn và một bức tường thời gian vô hình chắn giữa anh và cảnh vật nơi này. Tìm mãi anh ta chẳng thấy nhà nàng đâu. Giữa lúc mệt mỏi tính quay về thì một ngôi mộ lớn được xây bằng gạch Chàm nằm lẻ loi đập vào mắt khiến Tư Thắng chú ý.
Hai anh em bước lại bên mộ. Tư Thắng chẳng thấy thứ gì quen thuộc ở đây ngòai trừ tên cô gái khắc trên bia mộ là Mỵ Hoa. Bên cạnh vách bia đá, một giỏ đồ nữ trang vương vãi lăn lóc. Tư Thắng nhận ra đó là quà tặng anh dành riêng cho người yêu đêm nào. Những mảnh gương vỡ phản chiếu ánh mặt trời sáng lấp lánh khiến Tư Thắng nhớ đến chiếc gương soi mà Mỵ Hoa đập vỡ. Anh lấy tay che mặt như thể bị chói mắt. Kiều nhìn anh bằng tất cả nỗi thấu hiểu. Cô chỉ ước sao Tư Thắng quên chuyện tình này sớm chừng nào hay chừng nấy.
Notes:
(*) H’roi (người Hời), ngày nay còn gọi hoặc viết là Chăm H’roi.
                                           LTT

Đ/C: lê thu thùy, tổ 4, thôn vân quật, xã duy thành, huyện duy xuyên tỉnh quàng nam

PHÒNG XUẤT BẢN CỦA LÊ THU THÙY BIÊN TẬP, TUYỂN CHỌN

TẬP THƠ THEO DẤU NGƯỜI XƯA

  Thơ lê thu thùy THEO DẤU NGƯỜI XƯA   TRONG LÀN NẮNG ỬNG   Những cánh chim di trú cuối cùng đã khuất phía trời nam Để lại phía ...